Vietnam Film Critics Community

Where true cinema lovers meet

Phỏng vấn đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh

Posted by mytrang on 02/02/2010

Khiêu vũ là một bản nhạc của thân xác.
Trong niềm vui hay sự đau khổ.

(Martha Graham)

Trước ngày bộ phim tình cảm lãng mạn mang màu sắc Liêu Trai Khi yêu đừng quay đầu lại chính thức ra mắt khán giả, đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã chia sẻ những trải nghiệm của bản thân trong quá trình thực hiện bộ phim.

Khi yêu đừng quay đầu lại sắp ra mắt khán giả, bộ phim này có khiến ông thỏa mãn sau khi kết thúc những công đoạn hoàn thiện cuối cùng không?
Tôi cho rằng hầu hết những người làm nghệ thuật nói chung và đạo diễn nói riêng đều rất hiếm khi thỏa mãn về tác phẩm của mình. Có lẽ cũng nhờ vậy mà họ mới có thể tiếp tục làm việc được thay vì ngủ quên trong thành công. Với Khi yêu đừng quay đầu lại, dù không hoàn toàn thỏa mãn nhưng tôi cảm thấy đã làm được tất cả những gì mình mong muốn trong điều kiện có thể.

Đâu là điểm mà ông thấy tự tin nhất ở bộ phim?
Một trong những khía cạnh mà tôi thích nhất của bộ phim này chính là cách kể chuyện. Vì nhân vật chính trong phim là một thiếu nữ đam mê múa hiện đại, nên tôi đã cố gắng kể câu chuyện này bằng cả hai ngôn ngữ: múa hiện đại và điện ảnh. Đối với tôi “Khiêu vũ là một bản nhạc của thân xác. Trong niềm vui hay sự đau khổ” – Martha Graham. Mỗi bài múa trong bộ phim là một giai đoạn trong cuộc tình lãng mạn giữa hai nhân vật chính. Nói một cách khác, cách kể chuyện này giống như là một cuốn phim trong một cuốn phim.

Được biết, kịch bản ban đầu của bộ phim do hai nữ tác giả trẻ chấp bút. Ông tìm thấy sự đồng cảm trong kịch bản này ở điểm nào? Ông nhận thấy lối yêu của người trẻ hiện nay có khác nhiều với thế hệ của ông không?
Kịch bản Khi yêu đừng quay đầu lại đã được gợi hứng từ kịch bản Nguyên Xuân của hai nữ tác giả trẻ. Nhưng phải nói thêm rằng, Nguyên Xuân là một câu chuyện nặng tính chất ma quái về đến đời sống tiền kiếp và hiện tại, trong đó nhân vật chính là một cô gái đi làm Osin trong một ngôi nhà ma. Còn Khi yêu đừng quay đầu lại thì lại là một câu chuyện tình yêu giữ một thiếu nữ đam mê múa hiện đại và một anh nhạc sĩ saxophone. Cã hai đều thích sáng tạo một cách ngẫu hứng. Họ tình cờ gặp nhau, anh nhạc sỹ đã không đệm cho cô vũ công múa theo một khuôn khổ đã định trước và cô ấy cũng không hẳn là múa theo âm nhạc của anh. Cả hai đều nghe theo nhịp đập riêng của trái tim mình. Có những lúc điệu múa và tiếng kèn hòa hợp với nhau, nhưng cũng có những lúc lại trật nhịp nhau. Nhưng trong tổng thể, chúng tạo nên một không gian để hai người yêu nhau và khám phá chính mình. Và tôi cũng nói thêm rằng đoạn kết của câu chuyện Nguyên Xuân và Khi yêu đừng quay đầu lại cũng hoàn toàn khác nhau. Các bạn sẽ cảm nhận được điều đó khi theo dõi bộ phim.

Còn về lối yêu thì tôi thấy ở thời nào cũng thế, những người yêu nhau luôn yêu hết mình, không ngần ngại e sợ, bất chấp cã tương lai cũng như hai nhân vật chính trong Khi yêu đừng quay đầu lại.

Với bộ phim Liêu Trai này, quá trình chọn bối cảnh, chọn diễn viên có điều gì đặc biệt?
Trong giai đoạn tìm diễn viên, tôi luôn dựa theo cảm xúc của mình trong những buổi gặp gỡ các diễn viên, có khi chỉ là những phút chuyện trò ngắn ngủi mỗi lần đi uống nước, đôi câu trao đổi về nhân vật. Nhân vật chính là một thiếu nữ đam mê múa hiện đại nhưng lại không phải là một người múa giỏi. Trong kịch bản cô ấy bị ngã rất nhiều lần khi múa. Do đó các diển viên được mời đến thử vai không nhất thiết phải là người múa giỏi, chỉ cần thích học múa. Khi chọn Ngân Khánh, tôi không biết gì về cô ta hay đã xem qua các phim mà cô đã đóng. Tuy tin vào trực giác, tôi cũng không biết chắc chắn được.

Khi ra hiện trường, Ngân Khánh và tôi đã có những giây phút khá căng thẳng vì sự khác biệt nhau trong cái nhìn về Nguyên Xuân, một nhân vật rất phức tạp vì mang trong nó rất nhiều mâu thuẫn nội tâm. Trong giai đoạn đầu, Ngân Khánh đã rất thẳng thắng, thậm chí bất đồng ý kiến với tôi về cách thể hiện nhân vật này. Trong suốt quá trình quay phim tôi cãm thấy Ngân Khánh càng ngày càng cảm nhận được một cách sâu sắc hơn về nhân vật của mình và có những cách diển xuất hết sức táo bạo làm tôi rất ngạc nhiên. Góc máy cuối cùng của ngày quay cuối cùng, và cũng là cảnh cuối cùng trong phim, chúng tôi quay một cận cảnh rất dài mà hoàn toàn không có thoại. Nét mặt của Nguyên Xuân sẽ hiện lên một nổi đau khổ vô cùng đến không một giọt nước mắt nào có thể trào ra. Nét đau khổ chuyển dần sang một nét bình lặng, rồi đến một nụ cười tự tin. Tôi không cần phải nói gì cả mà ngay từ lần quay đầu của cảnh này Ngân Khánh đã thể hiện đúng được những gì tôi tưởng tượng. Tôi đã có cảm tưởng như là giữa tôi và Ngân Khánh đã có một chiếc cầu giao cảm trực tiếp để có thể đọc được ý nghĩ lẫn nhau. Cả hiện trường yên lặng như bị thôi miên, và tôi nín thở không muốn gọi “cắt” như sợ là giây phút nhiệm mầu này sẽ biến đi mà không bao giờ tìm lại được.

Về bối cảnh, chúng tôi đã tìm được một ngôi biệt thự kiểu Pháp ở một ngọn đồi tại Đà Lạt. Tôi đã cùng anh họa sỹ thiết kế Mã Phi Hãi trau chuốt lại sao cho ngôi nhà mang lại không khí huyền bí. Chúng tôi quan tâm đến từng chi tiết nhỏ như rèm cửa, bàn gương, cánh cổng sắt…làm sao để tất cả những yếu tố hình thức này phù hợp với nội dung kịch bản.

Nếu khán giả nói phim ông đủ gợi cảm nhưng không đủ khiến họ sợ, ông sẽ nói gì?
Nếu được như thế thì tôi rất mừng, vì như thế phim đã thành công. Như tôi vừa nói, Khi yêu đừng quay đầu lại không phải là một phim kinh dị mà là một câu chuyện tình vừa lãng mạn vừa chứa đựng nhiều điều bí ẩn.

Hầu hết những đạo diễn đều làm những bộ phim có một phần bản thân mình trong đó. Vậy ẩn ức cá nhân của ông trong Khi yêu đừng quay đầu lại là gì?
Tôi rất thích câu chuyện thần thoại Hi Lạp Orpheus và Eurydice. Khi Eurydice qua đời, Orpheus đã liều mình xuống tận địa ngục để cứu người yêu. Vì cảm giọng hát của Orpheus, Diêm vương đã cho phép anh ta được đem người yêu của mình trở về thế giới của sự sống nhưng với một điều kiện. Trên đường đi, Orpheus phải đi trước và không được quay đầu lại cho đến khi hai người đã hoàn toàn bước vào vùng ánh sáng của sự sống… Đoạn kết của phim cũng được gợi cảm hứng từ câu chuyện này.

Đâu là điểm dễ và khó khi một đạo diễn từng theo đuổi dòng phim tác giả như ông lại chuyển sang làm một bộ phim chiếu Tết mang tính giải trí?
Thực hiện một bộ phim hay, bất cứ là loại nào, cũng đều vô cùng khó khăn. Đối với nhiều người đề tài Khi yêu đừng quay đầu lại có thể quá “sến”, nhưng đối với tôi nó rất thú vị và là cả một thử thách. Nếu tôi đủ khả năng đem lại một cái nhìn mới mẻ cho đề tài này thì đó là một điều vô cùng vui sướng.

Khi yêu đừng quay đầu lại một tựa đề khá hay nhưng đọc lên đôi lúc nghe như một lời cảnh báo. Ông có nghĩ tới lời cảnh báo nào từ bộ phim mình thực hiện không, nếu có đó sẽ là…
(Cười)Khi yêu đừng quay đầu lại là một bộ phim giải trí dịp Tết, nên tôi không có ý cảnh báo hay răn dạy ai cả. Tôi cũng không thể nhận là mình đã nghĩ ra tựa đề này, vì trên thực tế đây là cái tên do nhà sản xuất chọn. Nhưng tôi rất thích tên gọi này, nó vừa bình dân vừa sâu sắc, khơi gợi rất nhiều điều. Nó làm tôi nghĩ đến ranh giới giữa sự sống và cái chết là rất mong manh..

Nguyên Xuân – nhân vật nữ trong bộ phim này vô cùng mạnh mẽ, bản năng. Ông có cho rằng đó là đặc điểm thường thấy của những người phụ nữ hiện đại?
Một trong những điểm tôi rất hài lòngvề bộ phim này là tính cách của nhân vật chính. Cô ấy là một thiếu nữ đam mê múa hiện đại mặc dù bản thân cô ấy không phải là một vũ công giỏi, cô ấy không có thân thể và tài năng thiên phú để trở thành một vũ công tài năng một cách dễ dàng nhưng cô ấy có tham vọng và sẵn sàng nỗ lực cho ước mơ của mình. Ban đầu, thay vì được trình diễn trên sân khấu, cô phải đi làm việc ở một quán bar, với những khách nam sàm sỡ, chấp nhận đến một ngôi biệt thự bí ẩn để kiếm tiến. Nhưng lòng đam mê nghệ thuật khiến cô vẫn theo đuổi đến cùng nghề múa và từ đó tìm được tình yêu đích thực của cuộc đời mình.

Ông có lý giải gì khi khá nhiều bộ phim của thế giới và Việt Nam hiện nay nhân vật nữ chính thường gây ấn tượng hơn hẳn những nhân vật nam?
Cá nhân tôi nghĩ là nhân vật nữ hay nam đều có thể là những nhân vật gây ấn tượng mạnh mẽ nếu có một kịch bản hay và diễn viên hợp vai. Nhưng có lẽ gần đây chúng ta được xem nhiều phim hay với nhân vật nữ chính ấn tượng bởi đề tài này gần đây đang được khai thác nhiều. Dần dần hai giới sẽ bình đẳng trở lại, khán giả sẽ được xem những bộ phim có nhân vật nam ấn tượng. Có điều, ở Việt Nam bây giờ có vẻ việc tìm diển viên nam khó khăn hơn là nữ vì không có nhiều lựa chọn.

Trải nghiệm đáng nhớ nhất của ông khi chỉ đạo diễn xuất cho bộ phim. Các diễn viên chính đều tâm sự là bị ám ảnh bởi bộ phim này, còn ông thì sao?
Tôi đã sống với bộ phim này đã hơn một năm nay. Gần như không có ngày nào là không nghĩ đến một khía cạnh nào đó của nó. Đoàn làm phim chúng tôi đã có những ngày tháng làm việc cùng nhau rất ý nghĩa. Sản phẩm hôm nay là kết quả của sự đóng góp của rầt nhiều người. Tôi muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất của tôi đến các diễn viên cũng, người quay phim, dựng phim, nhạc sĩ, thiết kế âm thanh, thiết kế bối cảnh, phục trang, hóa trang, nhà sản xuất v.v… – những người đã để lại dấu ấn của họ lên bộ phim.

Bây giờ nhìn lại, ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi sau khi hoàn thành cuốn phim nấy là việc cảm nhận được một cách sâu sắc hơn câu chuyện Orpheus. Và tôi đã may mắn được chia sẻ những cảm nghĩ cùng cô em gái trong những lần bàn bạc về đoạn kết cho bộ phim.

Khoảng khắc Orpheus quay lại nhìn người yêu cũng là khi anh mất Eurydice mãi mãi. Đây là một giây phút khẳng định cái chết lần thứ hai của Eurydice. Có lẽ cái chết cũng như sự sống không phải là một sự thực tuyệt đối.

Posted in Interviews | Leave a Comment »

Meryl Streep – Thần tượng giản dị

Posted by Minh Thi on 29/01/2010

Anh 2

2009 quả là một năm bội thu với Meryl Streep khi hai bộ phim hài có chị tham gia là Julie & Julia và It’s Complicated đều thành công về doanh thu tại các phòng vé. Mới đây, Meryl lại tiếp tục nhận được một đề cử Quả Cầu Vàng cho giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong It’s Complicated và đoạt chính giải thưởng này với vai đầu bếp Julia Child trong Julie & Julia, làm giàu thêm kho thành tích đáng nể của mình.

60 tuổi vẫn hút khách

“Thật khó tin. Đã 60 tuổi rồi nhưng tôi vẫn còn được đóng vai chính trong các phim hài tình cảm!”, Meryl Streep đã thốt lên như vậy khi nói về thành công chị giành được với những bộ phim ăn khách. Điểm qua các tác phẩm điện ảnh có Meryl Streep tham gia trong những năm gần đây, ta sẽ thấy nữ diễn viên sinh năm 1949 này không chỉ giỏi gây ấn tượng với giới phê bình mà còn có khả năng chinh phục đông đảo khán giả bình dân. Bằng chứng là thành công của những bộ phim như Quỷ cái vận đồ Prada trình chiếu năm 2006, với doanh thu 324 triệu đô la, hay phim ca nhạc Mamma Mia! của năm 2008 thu lại 601 triệu đôla trên toàn thế giới. Hai phim mới nhất của Meryl Streep, Julie & Julia It’s Complicated cũng rất hút khách: tính đến thời điểm hiện nay, Julie & Julia đã thu về 121 triệu đôla, còn It’s Complicated vẫn đang nằm trong bảng xếp hạng các phim ăn khách nhất tại thị trường Mỹ. Theo tạp chí Forbes, trong vòng 1 năm kể từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009, Meryl Streep đã kiếm được 24 triệu đô la, đứng thứ ba trong danh sách nữ diễn viên có thu nhập cao nhất, chỉ chịu thua hai tên tuổi hút khách vào bậc nhất Hollywood là Angelina Jolie và Jennifer Aniston.

Thành công của Meryl Streep khiến cho giới làm phim Mỹ phải nể phục và suy ngẫm, bởi lẽ trước nay các bộ phim hài tình cảm vẫn thường nhắm đến đối tượng khán giá trẻ, với sự tham gia của các nữ diễn viên gợi cảm, hơn là đề cập đến những vấn đề của độ tuổi trung niên hay chuyện…tình già. Đạo diễn nổi tiếng Mike Nichols, người từng cộng tác nhiều lần với Meryl nhận xét, trong lịch sử chưa từng có một nữ diễn viên nào thành công đến thế ở độ tuổi trung niên. Thành công của Meryl Streep cho thấy, Hollywood có thể thu được bộn tiền thế nào với những bộ phim nhắm tới lớp khán giả nữ trưởng thành và lớn tuổi, chứ không chỉ là các em thiếu nhi và thanh thiếu niên như theo quan điểm thông thường.

Anh 3

Không ngừng vượt lên chính mình

Ở tuổi 60, Meryl Streep có tất cả. Một gia đình êm ấm với điêu khắc gia Don Gummer, người chồng chị đã sống chung được hơn ba chục năm (“thành tích” đáng nể đối với một ngôi sao điện ảnh Mỹ) và bốn người con. Đến nay, Meryl đã giành được cả thảy 15 đề cử Oscar, 23 đề cử Quả cầu vàng và sở hữu hai bức tượng vàng Oscar danh giá, một kỳ tích gần như không thể phá vỡ trong lịch sử điện ảnh. Thành công liên tiếp đến với Meryl, bởi chị không bao giờ cho phép mình ngủ quên trong chiến thắng. Sau mỗi thắng lợi, Meryl như được tiếp thêm động lực để chinh phục những đỉnh cao mới. Bằng chứng hiển nhiên là việc Meryl không bao giờ bị ‘chết vai.’ Trong khi một số tên tuổi lớn chỉ có thể thành công với một dạng vai nhất định, thì Meryl gây ấn tượng với hầu hết các vai chị đóng dù là ở phim bi hay phim hài. Meryl Streep luôn nỗ lực tự làm mới mình, vì chị không chấp nhận sự lặp lại. Từ hình ảnh người mẹ đáng thương trong Kramer vs. Kramer, hay người đàn bà yêu mãnh liệt và đau đớn trong Sophie’s choice (Lựa chọn của Sophie), cho đến phong cách lạnh lùng sành điệu của vị tổng biên tập trong Quỷ cái vận đồ Prada, rồi gần đây nhất là người phụ nữ bị giằng xé trong mối quan hệ tình cảm tay ba với chồng cũ và người tình mới trong It’s Complicated, Meryl Streep đều thể hiện một cách đầy thuyết phục. Chị là minh chứng hùng hồn cho thấy cuộc sống không bao giờ kết thúc ở bất cứ độ tuổi nào, nếu người ta không ngừng nỗ lực vươn lên.

Meryl hồi năm 1979, khi đóng phim Kramer vs. Kramer, bộ phim giúp chị giành giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất.

Meryl hồi năm 1979, khi đóng phim Kramer vs. Kramer, bộ phim giúp chị giành giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất

Ngôi sao được yêu mến

Meryl Streep tâm sự, thuở còn đôi mươi, chị từng lo lắng về ngoại hình của mình. Thời điểm đó, Meryl bị không ít nguời chê bai vì không sở hữu một vẻ đẹp rực rỡ. Dù thế, Meryl vẫn nỗ lực chứng tỏ mình, không để những lời chê bai hay chỉ trích làm nhụt chí. “Hồi trẻ tôi đã bỏ phí quá nhiều thời gian lo lắng xem mình có đủ hấp dẫn hay không. Nhưng sau một thời gian, tôi đâm chán ngấy chuyện đó. Gì thì gì, tôi cũng có bao giờ đủ xinh đẹp đâu,” Meryl ranh mãnh nói.

Nhiếp ảnh gia nổi tiếng Brigitte Lacombe, người từng có cơ hội làm việc với Meryl Streep thì cho rằng, dù không hấp dẫn theo lối thông thường, Meryl vẫn là một nguời phụ nữ xinh đẹp và hết sức đặc biệt. Lacombe cho biết, “Ở Meryl không hề có sự ngạo mạn.” Meryl Streep không bao giờ tỏ ra mình là một ngôi sao, và không mấy bận tâm chuyện mình trông thế nào trên màn hình hay trong các tấm ảnh. Khác với nhiều người mẫu, diễn viên luôn lo lắng chăm chút sao cho bản thân mình trông thật xinh đẹp trước ống kính, Meryl Streep chỉ quan tâm xem điều gì là tốt nhất cho vai diễn. Chị không hề để sự tự ti và âu lo làm vướng bận tâm trí. Ngay cả khi ngày một lớn tuổi hơn, Meryl Streep cũng từ chối nhờ đến phẫu thuật thẩm mỹ hay tiêm Botox. Meryl cho biết, khi nói chuyện với những người đã sửa sang sắc đẹp, chị cảm thấy mất tự nhiên, giống như thể họ đang đeo một tấm mạng che mặt, và “điều đó chẳng có gì thú vị”. Chính quan điểm đó khiến nhiếp ảnh gia Lacombe cảm thấy thích thú và thoải mái khi làm việc với Meryl, dù bản thân chị lại thú nhận rằng mình không thích chụp hình.

meryl-streep-portfolio-1001-05

Meryl Streep bên con gái Louisa, ảnh chụp năm 1991

Meryl Streep bên con gái Louisa, ảnh chụp năm 1991

Tính cách giản dị, khiếu hài hước và tinh thần lạc quan của Meryl “bò bùa” tất cả những người xung quanh chị. Các diễn viên nổi tiếng như Penelope Cruz, Anne Hathaway, Emily Blunt, hay Claires Danes đều thổ lộ rằng họ vô cùng hâm mộ Meryl và coi chị là một tấm gương để noi theo. Những đạo diễn từng làm việc với Meryl Streep cũng hết lời ca ngợi tài năng và nhiệt huyết của nữ diễn viên này. John Patrick Shanley, đạo diễn kiêm người viết kịch bản cho bộ phim Doubt từng đem lại cho Meryl Streep giải thưởng của Hiệp hội diễn viên Mỹ năm ngoái thổ lộ, chọn Meryl vào vai xơ Aloysius Beauvier trong Doubt là điều “khỏi cần suy nghĩ”, bởi lẽ “nếu hỏi ngẫu nhiên 20 người xem ai nên đóng vai này, họ sẽ đều xướng tên Meryl Streep”. Đạo diễn Mike Nichols thì tâm sự, ông thấy vui thích khi được làm việc với Meryl Streep, vì chị luôn nghĩ “Ôi – Lại thêm một ngày nữa mình được làm việc”, và bản thân ông cảm nhận được điều đó khi ở bên cạnh Meryl. Đạo diễn Nora Ephron, người làm việc với Meryl trong Julie & Julia phát biểu: “Sự thực là chị ấy tìm hiểu tất tật về Julia Child, chị ấy xem đi xem lại các cuốn băng dạy nấu ăn, làm việc nhiều tuần lễ với Ann Roth (người thiết kế trang phục) để tìm hiểu nhân vật qua các trang phục, thậm chí còn nài nỉ tôi mời Stanley Tucci đóng vai chồng mình.” Chẳng thế mà đạo diễn kì cựu Clint Eastwood, khi được hỏi vì sao lại mời Meryl vào vai bà nội trợ trong Những cây cầu ở quận Mađison, đã trả lời không chút do dự: “Vì cô ấy là nữ diễn viên vĩ đại nhất.”

“Tôi biết ơn vì còn được sống. Nhiều bạn bè của tôi phải chống trọi với ốm đau bệnh tật, hoặc đã ra đi rồi, thế mà tôi vẫn còn đây. Không thể than phiền gì được”, Meryl Streep đã tâm sự như thế với tờ Vanity Fair.

(Theo Vanity Fair)

(Đã đăng trên Thanh Niên tuần san số 196, 2010)

Posted in Features | Leave a Comment »

Nhớ, Mơ, và Sân khấu – Phần III

Posted by Nham Hoa on 26/01/2010

Sân Khấu

Nếu Science of Sleep rất Pháp thì Synecdoche, New York rất Mỹ, Mỹ ngay từ cái tên: không phải Washington, D.C. mà chính New York mới là đại diện đích thực cho nước Mỹ. Nơi gia đình Cotard cư trú trong phim là Schenectady, New York. Sự đồng âm này, cùng với hàm nghĩa của Synecdoche (hoán dụ), là chỉ dấu rõ ràng nhất Kaufman gửi đến khán giả: đó là câu chuyện về một giả-lập-hiện-thực (Synecdoche) trong lòng hiện thực (New York). Và thế giới ảo ấy lại là của những con người thật: đó là vở kịch khổng lồ của Caden Cotard, với tham vọng tái tạo hiện thực trên sân khấu. Bi kịch thay, giấc mơ của Caden lại là cái bẫy của những vòng lặp bất tận: trong kịch là kịch và trong kịch lại có kịch, rồi cứ thế… Trong khi Gondry cung cấp lối thoát cho hiện thực, Kaufman dập tắt triệt để mọi ảo tưởng về lối thoát: Cotard, với nguồn tài chính và nhân lực vô hạn, vắt kiệt đời mình trong nỗ lực vô vọng là viết lại đời mình, chỉ để nhận ra rằng điều ấy là không thể.

Thế-giới-sân-khấu của Caden

Từ Synecdoche nhìn sang Science of Sleep, sự khác biệt giữa Kaufman và Gondry bỗng trở nên hiển nhiên. Đây không phải là sự khác biệt về quốc tịch, cũng không phải là khoảng cách giữa một Michel lạc quan và một Charlie yếm thế, mà chỉ đơn giản là thế mạnh của mỗi người. Sở trường của Gondry là hình ảnh, còn biệt tài của Kaufman là ngôn ngữ và câu chuyện. Thiếu đi sức mạnh hình ảnh, Science of Sleep, với kịch bản đơn giản và tự do, sẽ trở nên lỏng lẻo và kém hấp dẫn. Vắng một câu chuyện sâu thẳm với những lời thoại để đời (I breath your name in every exhalation – Tôi thở tên em trong mỗi lần hô hấp) và những tình tiết quái dị, điều đọng lại ở Synecdoche, New York sẽ chỉ là những khuôn hình u ám, và chỉ thế mà thôi.

May mắn thay, đã không như thế.

Câu chuyện của Kaufman và Gondry có thể khác nhau ở đích đến, nhưng cả hai đều có chung điểm khởi đầu: nếu Stéphane lẫn lộn giữa thực và ảo thì Caden lẫn lộn giữa sống và chết (hội chứng Cotard là ảo giác rằng mình đã chết). Giống như Stéphane, Caden bị cô lập trong thế giới thực; những mối liên hệ xã hội– gia đình, bè bạn, tình yêu – lần lượt tan rã. Nếu Stéphane vùng vẫy trong mơ thì Caden đơn độc tiến hành một cuộc thập tự chinh trên chiến-trường-sân-khấu để giành quyền được sống. Cũng như Science of Sleep, Synecdoche, New York khiêu chiến nhân sinh quan của con người, chỉ có điều cú đòn của Kaufman không nhẹ nhàng mà bạo liệt, không hồn nhiên mà tàn nhẫn, và không dễ gì đón nhận với khán giả. Bởi, sau hết thảy, Synecdoche, New York là câu chuyện về sự bình thường đến bất thường và tầm thường đến dị thường của kiếp người. Khác với Gondry, chuyện của Kaufman rất ít ngọt ngào, nhưng rất đỗi bi thương, và rất nhiều cay đắng…

Bằng kịch bản của mình, Kaufman ném người xem vào một vòng đu quay cao tốc. Câu chuyện khởi đầu một cách bình thường đến mức khó có thể bình thường hơn. Một buổi sáng bình thường của một gia đình bình thường, và thấp thoáng đâu đó là những sự bất thường. Một ông chồng việc đầu tiên khi mở tờ báo sáng ra là đọc mục cáo phó. Một cô bé đại tiện ra màu xanh lá cây. Mật độ và cường độ của sự bất thường trong đối thoại và tình tiết cứ thế tăng dần như đu quay tăng tốc. Để khi kết thúc vòng quay cuối, khán giả bước ra, đầu óc hoặc quay cuồng lảo đảo, hoặc ngây ngất như mê như say.

Bởi thế giới của Synecdoche, New York chưa bao giờ tỉnh. Adele thổ lộ rằng cô hay huyễn hoặc rằng Caden chết. Cô nhầm. Điều họ huyễn hoặc, là mình đang sống. Từ khi dòng chữ 7:44 xuất hiện trên màn ảnh, Caden đã bắt đầu cuộc chết của mình. Đó là cuộc chết của cả thể xác và tâm hồn. Gia đình. Tình yêu. Nghệ thuật. Thời gian. Và của cảm giác rằng mình đang sống. Lẻ loi, lạc loài, kiệt quệ, Caden vẫn không ngừng tranh đấu. Giải thưởng MacArthur là cơ hội cho ông viết lại đời mình (trong khi đó, ở bên kia Đại Tây Dương, từ năm lên sáu, Stéphane cũng bắt đầu hành trình của những giấc mơ).

Cuộc chiến không cân sức trên mỗi tầng sân khấu cuộc đời ấy là điều đẹp đẽ nhất, đau đớn nhất của Synecdoche, New York. Hơn ai hết, Caden ý thức rất rõ ràng về sự nhỏ bé và bất lực của kiếp người: I do my little job. And live my little life. Eat my little meals. Miss my little kid and wife. Biết rằng mình rồi sẽ chết. Tất cả rồi sẽ chết. Nhưng trước mỗi cú đánh của số phận, Caden đều kiên cường đáp trả, từ chối chết đi một cách lặng lẽ, để rồi lặng lẽ chết đi, trong một niềm mãn nguyện. Mỗi nỗ lực ấy, dù muộn màng, dù thơ ngây, dù khờ khạo, vẫn khiến ta phải nghiêng mình.

Lọ nước mắt, cây gậy, mái tóc giả… là sự kháng cự tuyệt vọng của Caden trước sự tàn tạ của thể xác. Claire và Ariel là nỗ lực tái hiện bất thành Adele và Olive – một mái ấm gia đình. Chiếc hộp màu hồng và lời “tự thú” nghẹn ngào bên giường bệnh Olive là cố gắng vô vọng vãn hồi một tình cha con đã chết. Sân khấu khổng lồ là sự ganh đua thất bại với những tác phẩm tiểu họa của Adele – không phải Adele-người-vợ mà là Adele-đối-thủ-trong-nghệ-thuật. Kiệt tác mà Caden ôm ấp, cái mộng tưởng tưởng chừng to tát là được lưu danh của người nghệ sĩ, thật ra, lại là mong muốn giản đơn nhưng bất khả của một con người – được sống lại đời mình: “Tôi rốt cục sẽ trút mình vào một điều gì đó.”

Còn Hazel, là cuộc truy cầu bất tận một tình yêu.

Surreal và Sur-Real

Từ Eternal Sunshine đến Science of Sleep, từ Spotless Mind đến Synecdoche, ta chợt nhận ra rằng, những khác biệt của Gondry và Kaufman chỉ là nhỏ nhoi, nếu đặt bên cạnh những sự tương đồng giữa họ. Cho dù cộng tác cùng nhau hay làm việc riêng rẽ, trong cả ba bộ phim ấy họ đều nói chung một ngôn ngữ: ngôn ngữ của điện ảnh siêu thực (surrealism). Đó là một lựa chọn có chủ đích của cả hai nhà làm phim, và lựa chọn này khởi nguồn từ một nỗi niềm chung, ấy là nỗi băn khoăn và niềm ưu uất về hiện thực. Không phải ngẫu nhiên mà ở cả ba bộ phim đều xuất hiện một thế giới thứ hai là đối trọng với hiện thực: ở Eternal Sunshine là cựu-hiện-thực của ký ức, Science of Sleep là phản-hiện-thực của giấc mơ, còn Synecdoche, New York là giả-lập-hiện-thực của sân khấu. Bởi, sau cùng, hiện thực là điều luôn ám ảnh họ. Ở Eternal Sunshine, hiện thực là nỗi đau tình yêu tan vỡ của Joel và Clementine, ở Science of Sleep, hiện thực là sự lạc lõng và dễ tổn thương của Stéphane, trong Synecdoche, New York, hiện thực, còn tàn nhẫn hơn gấp bội, là sự vô nghĩa của kiếp người. Nỗi ám ảnh thường trực ấy luôn thôi thúc họ vượt thoát, và để vượt lên trên hiện thực (sur-Real), hai kẻ tài hoa ấy đã chọn chung một con đường: thay thế hiện thực bằng thế giới của riêng mình. Con đường ấy có thể không biết sẽ đi về đâu, như tương lai của Joel và Clementine, có thể sẽ rất nhiều dịu ngọt như trong vương quốc của Stéphane, mà cũng có thể tối tăm và gai góc như sân khấu của Caden. Điều đó không quan trọng; điều quan trọng là cả Michel, cả Charlie, cả nhân vật của họ, đều đã cố gắng hết mình, đã tận tâm kiệt lực.

Bây giờ nhìn lại, mối liên hệ Gondry-Kaufman trong Eternal Sunshine of the Spotless Mind bỗng trở nên dễ hiểu. Họ chẳng cần thỏa hiệp, chẳng cần kìm nén cái tôi, bởi như chính Kaufman từng thừa nhận, “lý do khiến Michel và tôi tìm đến với nhau là sự tương đồng về ý tưởng.” Nếu Science of Sleep khá gần với Eternal Sunshine thì Synecdoche cũng rất gần với Bachelorette, một video clip do Gondry đạo diễn. Bởi vậy, khó có thể nói là ai đã chịu ảnh hưởng của ai trong cuộc chơi này. Có lẽ cả hai. Có lẽ không ai cả. Ở Eternal Sunshine, nỗi ưu uất và khát khao vượt thoát hiện thực (đồng thời vẫn dũng cảm đối diện với hiện thực) vừa là chất xúc tác kéo họ lại gần nhau, vừa là dung môi hòa trộn tài năng của họ. Câu chuyện của Kaufman và hình ảnh của Gondry, đó là công thức mang lại thành công rực rỡ cho bộ phim. Cả Science of SleepSynecdoche, New York đều khó lòng vươn tới sự trọn vẹn ấy, song điều đó không vì thế mà lấy đi chút gì giá trị của chúng. Ngược lại, sự thuần khiết Gondry hay thuần khiết Kaufman của mỗi tác phẩm lại chính là điều khẳng định vị thế của chúng cạnh người anh em chung nửa dòng máu Eternal Sunshine. Một xuất sắc trong sự kết hợp tự nhiên giữa hai tài năng, hai quý giá ở sự riêng tư tuyệt đối, thậm chí cực đoan, của tâm hồn người nghệ sĩ.

Joel và Clemetine sẽ tiếp tục với tình yêu.

Caden đã chết.

Và đâu đó trong mây, Stéphane vẫn tìm kiếm Stéphanie giữa cơn mê chiều ngơ ngẩn.

Posted in Features | Leave a Comment »

Nhớ, Mơ, và Sân khấu – Phần II

Posted by Nham Hoa on 24/01/2010

Hai năm sau thành công của Eternal Sunshine of the Spotless Mind, Gondry bắt tay làm bộ phim thứ ba, Science of Sleep, mà không có sự góp mặt của Kaufman. Rất khó nói Gondry khi ấy nghĩ gì, nhưng hẳn là những ca ngợi giới phê bình dành cho người bạn biên kịch, dù không khiến anh ghen tị, cũng đã gây ra ít nhiều sức ép.

Science of Sleep mang trong mình nét trong trẻo rất Pháp từng được Jean-Pierre Jeunet sử dụng để làm say lòng khán giả toàn cầu năm năm về trước. Giống như Amélie Poulain, Stéphane Miroux là hoàng đế ở vương quốc của riêng mình – vương quốc của Giấc Mơ. Và vì đó là thế giới của những điều không tồn tại trong hiện thực, Gondry mặc sức tung hoành với trí tưởng tượng không biên giới của mình. Science of Sleep có cái tung tẩy kỳ lạ hiếm thấy ở điện ảnh ngày nay, và sức sáng tạo hồn nhiên ấy luôn khiến ta phải ngả mũ vì kinh ngạc. Nhưng cũng chính bởi đẩy trí tưởng tượng đến cực hạn mà Science of Sleep khó xem hơn, vì khán giả cũng cần một trí tưởng tượng ít nhiều bay bổng để “cảm ứng” được với vẻ đẹp kỳ dị trong thế giới của Stéphane.

Stephane, Stephanie, và Pony the Golden Boy

Đề tài của Science of Sleep rất gần với Eternal Sunshine of the Spotless Mind: từ ký ức đến giấc mơ là một khoảng cách không hề xa, thậm chí có ý kiến cho rằng Gondry tiếp tục bị ảnh hưởng của Kaufman khi lựa chọn một đối tượng giàu tính triết học và khoa học như vậy làm đề tài khai thác. Kỳ thực, Science of Sleep không hề triết như cái tên của nó gợi ra cho khán giả, nếu không muốn nói là hoàn toàn tương phản: giản dị, hồn nhiên, và ngộ nghĩnh. So với Eternal Sunshine, triết lý hình ảnh của Gondry được đẩy lên thêm một bậc về hướng của giản đơn. Nếu như ở Eternal Sunshine, ký ức, nói cách khác là cựu-hiện-thực, được tái tạo bởi những chất liệu tương đương về tính thật – con người thật, nhà cửa thật, xe cộ thật, thì sang Science of Sleep, giấc mơ của Stéphane được đặc tả bằng các chất liệu bắt chước hiện thực: bìa các tông, rối vải, cellophane… Rõ ràng, những chất liệu ấy ít thật hơn, nhưng hiệu ứng của nó thậm chí còn mãnh liệt hơn hiện thực. Có hai lý do: thứ nhất, khi kỹ xảo hiện đại ngự trị màn bạc thì những thước phim của Gondry lại lấy một hình thái hoạt hình giản dị nhất (stop-motion animation) làm chủ đạo, chính cái đơn sơ ấy đem lại cho Science of Sleep một vẻ chân thực không cưỡng nổi, chân thực hơn cả hiện thực; thứ hai, những hình ảnh, những đạo cụ đồ chơi ấy khiến ta liên tưởng đến sự thuần khiết của tâm hồn trẻ thơ. Gondry, hơn ai hết, ý thức rất rõ điều đó, và đã thổi sức mạnh ấy vào Science of Sleep bằng một trí tưởng tượng điên rồ tiệm cận với hoang đường.

Stéphane lẩn tránh hiện thực bằng cách trốn vào giấc mơ; và Gondry, bằng bìa các tông, cellophane, vải vụn, đã biến thế giới trong mơ của Stéphane thành một phản-hiện-thực bay bổng, lãng mạn, phù động. Đối với nhân vật, thế giới ấy là một lựa chọn khác, có thể thay thế hiện thực, chối bỏ hiện thực, đồng thời hòa trộn vào hiện thực. Stéphane dường như chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc đích thực của mình trong phản-hiện-thực: đó là thiên đường của anh, nơi anh và Stéphanie có thể cưỡi chú ngựa đồ chơi bay giữa những đám mây cellophane trắng muốt. Thế giới của Stéphane (cũng là của Gondry) không chỉ kích thích trí tưởng tượng của khán giả, mà nó còn thách thức tính chân xác và giá trị của thế giới thực nơi họ đang tồn tại. Bên cạnh một thế giới nơi một nốt nhạc có sức mạnh giữ cho những đám mây cellophane lơ lửng giữa không trung, nơi tâm hồn là một studio ca nhạc bằng bìa cứng, và đôi mắt là hai ô cửa sổ (theo nghĩa đen của từ cửa sổ) nhìn ra thế gian và vọng về kỷ niệm, thế giới thực của chúng ta bỗng trở nên tầm thường và xấu xí.

Thế giới thực Gondry mang đến cho chúng ta là một thế giới hỗn độn của thời đại toàn cầu hóa. Cách nhìn thế giới của Stéphane qua bộ lịch thảm họa học bị đồng nghiệp coi là lập dị kỳ thực lại là cái nhìn chính xác nhất về thế giới ngày nay, vốn đầy rẫy nguy cơ và khủng hoảng… Tại thế giới thực, Stéphane gặp vô vàn khó khăn trong giao tiếp với bạn bè và đồng nghiệp, nhưng những rào cản về ngôn ngữ hay thế giới quan hoàn toàn tiêu biến khi anh bước vào thế giới của giấc mơ. Với Science of Sleep, Gondry đặt ra cho khán giả câu hỏi: phải chăng Stéphane là người điên khi không phân biệt được giữa mộng và thực, hay chính chúng ta mới là những kẻ không bình thường khi mê muội với đời thực mà từ bỏ đi phần đẹp đẽ nhất, thuần khiết nhất trong tâm hồn: mộng tưởng.

Posted in Features | 1 Comment »