Vietnam Film Critics Community

Where true cinema lovers meet

Chơi vơi – Sự hoang mang của tuổi trẻ

Posted by FilmCriticsVN on 08/11/2009

Chơi vơi quả là một hiện tượng hiếm có của điện ảnh Việt Nam: là một phim nghệ thuật, chưa đạt một giải thưởng LHP chính thức nào, cũng chưa hề ra mắt công chúng, nhưng thật khó để thống kê hết các bài báo ưu ái viết về bộ phim, cũng như sự háo hức lớp khán giả trẻ dành cho nó. Trong một cuộc phỏng vấn, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên từng nói, Chơi vơi là một góc nhìn khác về giới trẻ. Phải chăng vì thế, bộ phim đã thu hút được sự chú ý của lớp khán giả vốn được coi là khó chiều này, theo nhiều cách khác nhau…

Poster Choi Voi

Khát vọng bản năng trong từng nhân vật

Tất cả những gì Chơi vơi thể hiện không phải là một cái nhìn bề nổi thiếu chiều sâu mà là một cái nhìn bóc tách từ những hoang mang, mơ hồ của tuổi trẻ. Bộ phim kể chuyện của những con người trẻ tuổi ở một góc quan sát rất rộng. Đó là cuộc hôn nhân đặc biệt giữa Duyên và Hải. Khó có thể nói Duyên không yêu chồng khi người xem vẫn thấy cô thanh thản, hạnh phúc khi ở bên người đàn ông trẻ thơ, hồn nhiên đến khó tin ấy. Càng khó định nghĩa cho tình cảm giữa Duyên và nữ nhà văn Cầm. Đó có lẽ là một mối quan hệ đậm chất Á Đông đặt trong bối cảnh xã hội hiện đại, huyền ảo và cũng sâu sắc, đa chiều hơn một tình yêu đồng tính đơn thuần. Cầm suy sụp trong cô đơn, câm lặng hờn ghen sau đám cưới của Duyên rồi đẩy Duyên đến với Thổ – một người đàn ông xù xì, từng trải. Mối quan hệ bắt đầu từ những va chạm thể xác đã khiến Duyên cảm nhận rõ hơn sức hấp dẫn nữ tính của bản thân. Khi mối quan hệ của Cầm và Thổ chưa đi đến đâu, người xem lại được chứng kiến mối tình bạo liệt nhưng vô vọng của Vi dành cho Thổ, một thứ tình yêu vừa nhiệt thành, vừa cam chịu, bề ngoài thì buông thả kiểu như lối sống hippie của phương Tây nhưng thực chất lại u uẩn, chứa đựng nhiều hi sinh cay đắng. Đâu đó, còn là thứ tình cảm vừa tinh quái, vừa thơ ngây mà cô bé hàng xóm tên Miên dành cho Hải. Tất cả những cung bậc cảm xúc đều ở trạng thái ranh giới mà người xem có hiểu thế này hay thậm chí tin vào những điều ngược lại.

Những nhân vật trong Chơi vơi đều ít nhiều khác thường và luôn sẵn sàng… cho một cuộc nổi loạn. Đó là Duyên – một phụ nữ trẻ vẫn giữ lại những nét hồn nhiên trong sáng của một thiếu nữ. Ở ngoài gia đình, cô mạnh mẽ, năng động với nghề nghiệp hướng dẫn viên nhưng trở về nhà, cô là một thiếu nữ ngây thơ đến giản đơn. Nữ nhà văn Cầm đầy quyến rũ và bí ẩn, với sở thích kỳ quặc: thích đến đám ma hơn đám cưới! Cũng không ai hiểu Cầm nghĩ gì khi cô đẩy Duyên ngã vào vòng tay của Thổ. Còn Hải, anh chồng trẻ con của Duyên, nguyên nhân của mọi xáo trộn lại hoàn toàn không biết đến những gì đang diễn ra xung quanh! Ngay cả những nhân vật phụ cũng có thời tuổi trẻ khác thường, như người ông nội bị liệt của Duyên với một mối tình bí ẩn, còn bà nội Duyên chấp nhận cuộc hôn nhân không tình yêu suốt ngần ấy năm trời.

Nhìn tổng thể, câu chuyện của Chơi vơi rất đơn giản nhưng các nhân vật lại vô cùng phức tạp về nội tâm, trong sự biểu hiện. Họ vừa lạ lùng, khác biệt nhưng cũng vừa quen thuộc, như những hình ảnh đại diện cho những khát vọng sâu kín trong mỗi con người.

Khi đàn ông yếu mềm còn phụ nữ mạnh mẽ!

Hai Yen_choivoi

Tất cả những người đàn ông trong Chơi vơi đều không đủ sức khiến cho phụ nữ tin tưởng. Đầu tiên là Hải, không muốn lấy vợ nhưng vẫn phải chiều lòng mẹ, luôn khao khát những phút ngủ riêng mà không dám nói. Hải dựa dẫm mẹ, rồi dựa dẫm vợ, có những lúc lại “nép” vào Miên để chạy trốn nỗi sợ ở một mình trong ngôi nhà cổ. Ngay cả Thổ, người đàn ông đầy vẻ nam tính chỉ thể hiện được ưu thế của mình trong những cuộc tình mà anh ta là kẻ chủ động săn mồi. Nhưng trước cái chết của Vi, nỗi hoang mang đã khiến cả con người Thổ trở thành một khối của những đổ vỡ. Đó cũng là nỗi đau đớn, bơ vơ của ông bố Miên sau khi người người vợ bỏ đi, đành bấu víu vào những trận chọi gà, những chén rượu quên ngày tháng. Đàn ông trong Chơi vơi là những gã trẻ con lớn xác, càng rướn mình nạt nộ, càng bộc lộ những điểm yếu của bản thân.

Trong khi đó, “phái yếu” lại thể hiện được cái mạnh mẽ của bản thân, đối lập với sự mờ nhạt của người đàn ông trong cả cuộc sống gia đình lẫn xã hội. Sức mạnh ấy chính là ở thái độ bình thản đến lạnh lùng của Cầm. Cô không chỉ làm chủ ngôi nhà cổ mà còn biết cách chi phối cái thế giới nhộn nhạo bên ngoài bằng những cú điện thoại, những trang viết sột soạt, ánh mắt nhìn xuống đường từ cửa sổ. Hay như bà mẹ góa của Cầm, cặm cụi chăm sóc con gái từng nồi lá xông mà chẳng để ý đến sự héo mòn năm tháng bên chiếc khung thêu. Nhưng trớ trêu thay, dù sớm hay muộn, “phái yếu” sẽ lại cố tìm chỗ nương tựa, niềm an ủi ở những người đàn ông mềm yếu hơn họ gấp nhiều lần. Duyên tìm cách bằng lòng với cuộc hôn nhân với Hải, người cô vừa mới quen, kém cô hai tuổi, đơn giản tới ngây ngô; Cầm dựa vào Thổ để níu kéo mối quan hệ của mình với Duyên; Vi, sẵn sàng đến với Thổ bất cứ lúc nào, vô điều kiện… Có thể nói những người phụ nữ trong Chơi vơi đều sẵn sàng yêu thương tới mức phục tùng người đàn ông trong mối quan hệ của mình!

Một điều trớ trêu khác là người phụ nữ lại dành phần còn lại của sức lực để chống đối những người cùng giới tính. Câu nói “Nó đã được thằng bé rồi, nó còn muốn gì nữa” của mẹ chồng Duyên cứ trở đi trở lại trong phim như một nỗi ấm ức truyền kiếp mà những người phụ nữ dành cho nhau. Tất cả khiến Chơi vơi giống như một tiếng thở dài cho thân phận những người đàn bà đầy sức mạnh nhưng sinh nhầm thời và những người đàn ông yếu đuối, phải gồng mình cáng đáng để trở thành “kẻ mạnh.” Bộ phim kết thúc và để lại một dấu hỏi lớn đầy ám ảnh cho bạn trẻ xem phim – những người luôn muốn cắt nghĩa rõ ràng mọi hiện tượng cuộc sống: rằng đâu là ranh giới đích thực của tình yêu?

Cơn mưa cảm xúc của những người trẻ

Đặc trưng của ngôn ngữ kể chuyện trong Chơi vơi chính là sự tương phản. Những nhân vật trong phim luôn phải đối diện với những mâu thuẫn của chính mình. Cầm dù mạnh mẽ đến mấy cũng chỉ quanh quẩn trong ngôi nhà cổ, bất lực với những thay đổi của Duyên – mà cô chính là một phần tác giả. Hải, ngu ngơ, mềm yếu nhất lại không hề có tổn thương tinh thần nào sau một loạt những biến cố. Còn chính Thổ mới là người suy sụp nhất, sau cái chết của người tình.

_DSC4667

Ngoài sự tương phản trong tính cách và số phận mỗi nhân vật, Chơi vơi còn đậm đặc sự tương phản của những mảng màu sắc và không gian độc đáo. Bộ phim có cách kể chuyện bằng hình ảnh khá riêng biệt. Hầu hết các cảnh quay được thực hiện trong ánh sáng chủ khá yếu, với những mảng miếng ấn tượng, nhờ thế càng thể hiện được những phần góc cạnh trên cơ thể nhân vật. Cảm xúc tinh tế cuả nhân vật hiện lên qua tạo nên không khí có phần u uẩn. Nhịp điệu của phim rất chậm góp phần làm những chuyển động ngầm trong nội tâm của nhân vật càng trở nên ám ảnh. Trong phim cũng ít đối thoại nhưng tất cả những câu thoại đều được giữ ở nhịp độ vừa phải, là thoại cho tính cách của nhân vật chứ không chú trọng vào chuyển tải thông tin câu chuyện.

Bối cảnh trong Chơi vơi được chăm chút vô cùng tinh tế. Ngôi nhà cổ, chiếc áo lụa, nồi lá xông, phòng tắm với chiếc bồn làm từ thùng đựng nước, đường phố Hà Nội chật cứng người xe… Quan trọng nhất là đạo diễn và quay phim đã tạo được không gian cho những lát cắt cuộc sống của nhân vật trong những chuyển động huyền ảo, hơi lỳ lạ mà không mắc vào cách kể chuyện đơn điệu hay minh họa. Có thể nói nhà quay phim Lý Thái Dũng đã rất thành công trong những sáng tạo hình ảnh của mình. Có những cảnh quay trong phim phiêu linh, đẹp đến ngỡ ngàng. Đó là cảnh Cầm và Duyên khỏa thân chùm chăn ngồi xông hơi nói chuyện với nhau sau những ngày tháng tơi tả, là cảnh Hải ngụp lặn dưới dòng nước mát của dòng sông, cảnh Miên cô bé ngụp lặn trong cái lu nước, cảnh Thổ rạch từng nhát dao trên chiếc áo cưới của Duyên…

Nhưng nét nghệ thuật độc đáo nhất của Chơi vơi, hẳn phải là những cơn mưa được khai thác triệt để nhằm diễn tả những cung bậc khác nhau của cảm xúc. Những cơn mưa trong Chơi vơi của Bùi Thạc Chuyên là người bạn đồng hành với mọi trạng thái cảm xúc. Mưa rất nhiều, mưa trên phố, mưa trên những ô cửa sổ, cửa kính ô tô, mưa trên bãi biển… Mưa khi lần đầu tiên Thổ và Duyên gặp nhau, mưa khi Hải xa Duyên, ngồi nghe Miên kể chuyện và nói về cái ước mơ được vòi tắm hoa sen. Mưa như nói lên những cảm xúc tràn ngập của con người, mãnh liệt mà mềm mại. Nó dội xuống và làm trôi đi như cái mệt mỏi, hoài nghi khi nhân vật phải đối diện với những mối quan hệ giằng xé, những khát khao rất đỗi mong manh. Cái kết với trận ngập lụt càng khiến cho bộ phim trở nên mênh mang hơn, nỗi buồn như được kéo dài thêm.

Có thể nói, qua Chơi vơi, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đã vượt qua ngôn ngữ đối thoại thông thường để chuyển tải thông điệp tới cho người xem. Diễn viên Linh Đan từng phát biểu, cảm xúc bao trùm bộ phim chính là sự cô đơn, sự ràng buộc của trách nhiệm với gia đình, xã hội dường như đã trở thành quy luật muôn đời. Thế nên bất kỳ một người trẻ Việt Nam hay mang quốc tịch nào khác khi xem Chơi vơi, hẳn đều có thể tìm thấy mình trong những Duyên, Cầm, Hải và các nhân vật khác.

Thông tin chính về bộ phim

Bộ phim Chơi vơi do Hãng phim truyện I sản xuất

Đạo diễn: Bùi Thạc Chuyên
Kịch bản: Phan Đăng Di
Quay phim: Lý Thái Dũng
Họa sỹ: Lã Quý Tùng
Nhạc sỹ: Quốc Trung

Các diễn viên chính

Hải Yến vai Duyên
Phạm Linh Đan vai Cầm
Johnny Trí Nguyễn vai Thổ
Duy Khoa vai Hải
Linh Dung vai Vi

Tóm tắt phim

Cô hướng dẫn viên trẻ tuổi Duyên kết hôn với Hải, một anh chàng lái taxi kém cô hai tuổi. Nữ nhà văn Cầm, người bạn gái thân thiết của Duyên, mang một mối ghen thầm từ sau đám cưới ấy. Để che giấu tình cảm dành cho Duyên, Cầm đã đẩy Duyên vào cuộc ngoại tình bạo liệt với Thổ. Đó là sự khởi cho những mối quan hệ tình cảm chồng chéo phức tạp, nằm ngoài ràng buộc của những luân lý truyền thống.

Bộ phim sẽ được khởi chiếu trên toàn quốc từ ngày 13/11/2009

Hàn Thuỷ

Bản rút gọn của bài viết đã được đăng trên tạp chí 2! Đẹp, số tháng 12/2009

Posted in Features, On Screen | 5 Comments »

Mother – Sự man dại của tình mẫu tử

Posted by Selfish Driftwood on 28/10/2009

Một cánh đồng cỏ mênh mông. Một bầu trời u ám. Một người phụ nữ luống tuổi trong chiếc áo khoác ngoài màu tím cũ kỹ tiến lại gần khung hình. Bỗng tiếng nhạc guitar nổi lên! Người phụ nữ ấy bắt đầu nhảy múa, hết sức chậm rãi, không chút ngại ngần, phảng phất chút man dại trong từng động tác, chuyển động của cơ thể lẫn gương mặt… Cả cái không gian rộng lớn lẫn con người nhỏ bé ấy đều như bị dìm trong một sắc màu nhợt nhạt cho đến khi tiếng nhạc kết thúc. Để rồi lại người phụ nữ đó, đứng nhìn trân trân vào ống kính camera, trong sự tối tăm đến lạnh lẽo, khi tựa đề phim hiện lên…

M0010003__main_poster[W600-]

Bong Joon-ho đã mở đầu Mother, tác phẩm phim dài thứ tư của ông trong vòng chính xác 2 phút 20 giây một cách đầy mê hoặc như thế. Người phụ nữ vừa nhảy múa ấy là nhân vật người mẹ, không hề được tiết lộ tên trong suốt bộ phim. Cậu con trai bà – Yoon Do-joon – khá đẹp trai, nhưng lại mắc chứng đần độn, ăn nói lủng củng, trí nhớ vô cùng tệ hại. 27 tuổi đầu mà Do-joon suốt ngày chỉ lông bông với gã bạn xấu tính Jin-tae, còn đêm về thì vẫn nằm ngủ chung với mẹ. Bỗng trong vùng xảy ra vụ sát hại một nữ sinh trung học. Chứng cứ tại hiện trường cho thấy Do-joon là nghi can số một của vụ án. Cảnh sát nhanh chóng kết tội Do-joon, nhưng mẹ của Do-joon không tin vào chuyện đó. Bà quyết tâm tự mình tìm kiếm ra sự thật để minh oan cho cậu con trai.

Trước khi bộ phim ra mắt, nhiều hoài nghi cho rằng Mother sẽ lặp lại Memories of Murder – tác phẩm hình sự xuất sắc từng đưa tên tuổi Bong Joon-ho đến với công chúng thế giới hồi 2003. Bởi giống như Memories of Murder, bộ phim cũng lấy bối cảnh tại một vùng thôn quê Hàn Quốc và một cuộc tìm kiếm kẻ sát nhân thực sự. Thế nhưng, Bong Joon-ho cuối cùng đã giữ được đúng lời hứa sẽ thay đổi, khi Mother hoàn toàn khác biệt, với không chỉ Memories of Murder, mà còn là cả “bộ ba phim tìm kiếm”* trước đó của ông. Thể loại phim hình sự / rùng rợn dễ rơi vào sự nhàm chán hay rập khuôn, một lần nữa trở nên vô cùng mới mẻ và hấp dẫn dưới đôi bàn tay ma thuật của Bong Joon-ho.

“Triệt tiêu những cú trượt ngã”

Nếu để ý, trong cả ba bộ phim trước của Bong Joon-ho, ở những thời điểm then chốt của bộ phim, các nhân vật đều trượt ngã: cô gái Hyeon-nam đập mặt vào cánh cửa và ngã xuống khi đang đuổi theo gã hàng xóm trộm chó Yun-ju trong Barking Dogs Never Bite; các thanh tra ngã lên ngã xuống tại hiện trường vụ án trong Memories of Murder; con quái vật ngã lộn vòng khi vừa lên mặt đất, hay một nhân viên Nhà nước trượt chân khi đang chuẩn bị vào thông báo ở đám tang chung trong The Host… Những cú trượt chân ngã cứ lặp đi lặp lại trong phim của Bong Joon-ho, như một ẩn dụ cho việc nhân vật của ông sẽ không thể tới được đích cuối cùng của cuộc tìm kiếm, mà chỉ có thể mãi đau đáu về những sự thật hay nỗi đau mà ngoại cảnh lịch sử, chính trị đã tạo ra.

M0020043_2

Tuy nhiên, yếu tố này đã bị triệt tiêu hoàn toàn trong Mother. Dẫu ngay trong đoạn đầu phim, nhân vật Do-joon cũng trượt ngã khi định đạp vào gương một chiếc xe ô tô, nhưng đó chỉ là một chi tiết hài hước thuần túy. Không có một yếu tố chính trị hay lịch sử ngoại cảnh nào hiện hữu và ảnh hưởng tới các nhân vật trong phim. Toàn bộ Mother hoàn toàn đến từ góc nhìn chủ quan của nhân vật người mẹ. Tất cả những gì mẹ Do-joon làm, đâu là đúng, đâu là sai đều dựa trên nhãn quan của chính bà. Vì thế bà đi tìm kiếm sự thật, nhưng ở điểm đích, bà cũng có thể rũ bỏ hoặc phủ nhận sự thật đó và gánh lấy mọi hậu quả. Điều này cũng vô tình khiến cho yếu tố black comedy thường thấy ở phim của Bong Joon-ho giảm hẳn trong Mother, mà thay vào đó chỉ còn lại một sự tối tăm u uẩn đơn thuần.

Sự ngộ nhận có chủ đích!

Một điểm chung khác trong ba bộ phim trước của Bong Joon-ho chính là những sự ngộ nhận khách quan của các nhân vật được tận dụng để đưa đẩy câu chuyện phim đi xa hơn: như Yun-ju ở Barking Dogs Never Bite bắt nhầm con chó mà anh cho là đã sủa ầm ĩ bấy lâu nay, như Park Du-man ở Memories of Murder lầm tưởng viên thanh tra đến từ Seoul là một gã biến thái và liên tục cáo buộc nhầm nghi phạm, hay như người cha Park Gang-du ở The Host cầm nhầm tay con gái người khác trong cuộc chạy trốn và đếm nhầm số đạn trong khẩu súng đưa cho người cha…

M0020012__S3

Mother, những sự ngộ nhận vẫn xuất hiện với một tần suất dày dặc trong chuyến hành trình của mẹ Do-joon và tạo nên được những hiệu quả nhất định về tính bất ngờ. Nhưng nếu tạm gạt qua những lầm lẫn khách quan, thì sự ngộ nhận của bà mẹ về cậu con trai hoàn toàn là chủ quan. Và đó chính là bằng chứng cho tình mẫu tử, cho việc bà có thể hy sinh tất cả hay làm bất cứ thứ gì để minh oan cho Do-joon. Thậm chí, khi đang là người đi tìm kiếm sự thật, bà còn đóng cả vai trò kẻ che giấu sự thật với người con trai ngờ nghệch, nhằm đẩy cậu vào một thế ngộ nhận khác bởi vết thương lòng giữa hai mẹ con trong quá khứ. Những sự ngộ nhận của bà, giữa bà và các nhân vật khác, cứ liên tục được bóc tách, ở cả những cảnh xúc động, căng thẳng lẫn những trường đoạn bạo lực rợn người, khiến cho bộ phim trở nên ngột ngạt và khán giả đôi khi mất phương hướng. Và những tưởng khi sự thật được khám phá còn sự ngột ngạt được hóa giải, thì hóa ra Bong Joon-ho chỉ sử dụng đó làm đòn bẩy cho một sự ngộ nhận có chủ đích đầy cay nghiệt khác, khiến cho khi bộ phim hạ màn, khán giả “cảm thấy như vừa được thưởng thức một ly espresso đậm đặc,” giống như lời đạo diễn từng so sánh.

Một bộ phim xuất sắc!

Góp phần lớn nhất vào thành công của Mother, hẳn phải là nữ diễn viên Kim Hye-ja, người đã được Bong Joon-ho “đo ni đóng giày” cho vai diễn người mẹ không tên đầy góc cạnh. Vốn là người nổi tiếng với các bộ phim truyền hình, Kim Hye-ja đã xa rời màn ảnh rộng tròn 10 năm, kể từ bộ phim Mayonnaise của ngôi sao quá cố Choi Jin-shil. Đạo diễn Bong Joon-ho đã cố thuyết phục bà tham gia vào Mother sau khi Memories of Murder đóng máy và những ý tưởng đầu tiên về bộ phim xuất hiện. Và quả thực, Kim Hye-ja đã có một màn trình diễn xuất sắc và lấn át hoàn toàn tài tử Won Bin trong vai cậu con trai Do-joon. Theo dõi Mother, khán giả sẽ cảm nhận được tình cảm mà bà dành cho Do-joon qua từng bước chân, ánh mắt, lời nói… Đó có thể chỉ là một chi tiết đơn giản như bà dùng chân di đi di lại vệt nước đái bậy của người con ở đầu phim; hay một khoảnh khắc dữ dội như ánh mắt điên dại kèm theo câu nói “Con trai tôi không bao giờ làm những việc như thế” tại đám tang của cô bé bị sát hại. Sẽ thật không ngoa nếu nói rằng Kim Hye-ja đã lột tả được sự man dại của tình mẫu tử!

M0020010_IMGL9598

Một điểm nhấn khác của Mother chính là phần quay phim cực kỳ xuất sắc của Hong Kyung-po. Toàn bộ Mother được Kyung-po nhuộm trong một tông màu nhợt nhạt đến uể oải từ cảnh đầu tiên tới cảnh cuối cùng, khi một nhóm người đi du lịch đứng nhảy múa trên chiếc xe buýt trong ánh nắng vàng váng vất và (lại) tiếng guitar của cảnh mở đầu phim. Các cảnh closed-up quay cận mặt nhân vật được tận dụng tối đa, từ những trường đoạn kéo dài cho tới một lát cắt ký ức ám ảnh kéo dài chỉ trong hơn một giây đồng hồ. Tất cả đều nhằm tăng thêm sự căng thẳng cho bộ phim theo chủ ý của Bong Joon-ho. Cả hai cái tên kể trên đều đã dành chiến thắng tại Lễ trao giải thưởng của Hội đồng phê bình phim Pusan lần thứ 10 lần lượt trong các hạng mục Nữ diễn viên chínhQuay phim xuất sắc nhất. Cũng ở lễ trao giải này, Mother đã được xướng danh tại hạng mục Phim truyện xuất sắc nhất và được chọn đi làm đại diện cho điện ảnh Hàn Quốc tại Oscar 2010. Hiện tại nhiều tờ báo của Mỹ đang dự báo Mother sẽ lọt vào top 5 phim được đề cử tại hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất, bên cạnh những tên tuổi lớn khác như The White Ribbon, A Prophet hay I Killed My Mother. Và nếu điều này trở thành hiện thực, thì đây sẽ là vinh dự lần đầu tiên cho nền điện ảnh Hàn Quốc sau nhiều năm liền gửi phim tới Oscar mà chưa một lần được đề cử.

v489i9

Dĩ nhiên là sau một Mother xuất sắc như thế, kỳ vọng mà khán giả đặt vào đạo diễn Bong Joon-ho sẽ lại càng lên cao hơn nữa. Bộ phim tiếp theo của ông, Le Transperceneige, được dựa trên bộ truyện tranh khoa học giả tưởng 3 tập cùng tên và do một tên tuổi lão làng khác của điện ảnh Hàn Quốc là Park Chan-wook đứng vai sản xuất, sẽ ra mắt trong năm 2012. Đây là một hướng đi hoàn toàn mới, và những thành công mới hẳn sẽ còn tiếp tục đến với vị đạo diễn tài ba này.

*Ba bộ phim trước của Bong Joon-ho thường được các fan hâm mộ gắn cho cái tên “Bộ ba phim tìm kiếm,” gồm tìm kiếm tên trộm chó và những chú chó bị mất tích trong khu chung cư (Barking Dogs Never Bite), tìm kiếm kẻ sát nhân hàng loạt (Memories of Murder), và tìm kiếm cô cháu gái bị quái vật bắt đi (The Host).

Bài đã đăng trên báo Sinh Viên Việt Nam bộ mới – số 43

Posted in DVD Reviews | 2 Comments »

Giấc mơ Mỹ – Bi kịch Mỹ

Posted by Nham Hoa on 26/10/2009

Tháng 3/2000, 55 bức tượng Oscar bị thất lạc trên đường vận chuyển đến Los Angeles chuẩn bị cho lễ trao giải của Viện Hàn lâm Khoa học và nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ. Cũng thời gian đó, 4.000 trên tổng số 5.600 phiếu bầu bị thất lạc qua đường bưu điện. Hai biến cố đầy kịch tính ấy có lẽ báo hiệu cho màn ra mắt ở Hollywood không thể ấn tượng hơn của Samuel Alexander “Sam” Mendes, người đã đoạt giải Đạo diễn xuất sắc nhất với bộ phim đầu tay American Beauty.

Thổi hồn sân khấu vào phim

Nói về Sam Mendes, không có tính từ nào thích hợp hơn là “kịch tính”. Khi giành giải Oscar, Sam vẫn là một tên tuổi mới toanh ở Hollywood. Nhưng đối với sân khấu Broadway và London, từ lâu anh đã là một gương mặt kỳ cựu. Bắt đầu khởi nghiệp đạo diễn sân khấu khi mới ngoài hai mươi, Sam mau chóng gây được tiếng vang khi trở thành Giám đốc nghệ thuật của Donmar Warehouse, một sân khấu phi lợi nhuận thu hút được sự chú ý đặc biệt của khán giả London.

P0000002_

Xem phim của Sam, từ American Beauty tới Road to PerditionRevolutionary Road, ta đều bắt gặp những bi kịch sân khấu được điện ảnh hóa. Có lẽ Sam, trong cuộc dạo chơi cuối tuần với điện ảnh của mình, đã mang tinh túy của Donmar Warehouse thổi lên màn bạc. Bản năng thiên phú và kinh nghiệm đạo diễn sân khấu đã hình thành trong anh một nhãn quan điện ảnh đặc biệt. Cả American Beauty lẫn Road to Perdition đều đi vào ký ức khán giả và ám ảnh họ bằng những khuôn hình ấn tượng, tăm tối và lãnh đạm đến kỳ lạ.

180719_rep36

Bất chấp dòng máu Bồ Đào Nha thừa hưởng từ cha, Sam là một người Anh đích thực. Bởi thế cho nên, nhìn vào gia tài điện ảnh của anh, không ít người sẽ ngạc nhiên khi thấy tất thảy những câu chuyện anh kể, bằng thứ ngôn ngữ điện ảnh đậm sắc màu sân khấu, luôn là câu chuyện về bi kịch Mỹ. Đó là American Beauty, một tấn kịch đầy phúng dụ về nỗi bất mãn sống mòn của người Mỹ thời hiện đại. Đó là Road to Perdition, khúc bi tráng về một gã gangster tìm kiếm sự cứu rỗi cho đứa con trai trong thời kỳ Đại suy thoái. Đó là Revolutionary Road, bi kịch về một đôi vợ chồng trẻ khát khao vượt thoát thực tại tầm thường. Và thậm chí cả Jarhead cũng là một bi kịch, về nỗi chán chường của những người lính trong chiến tranh vùng Vịnh.

Từ “Vẻ đẹp Mỹ”…

Từ khi mới ra đời, American Beauty ngay lập tức trở thành kinh điển (instant classic), được cả khán giả và giới phê bình tung hô là bộ phim hay nhất của năm 1999. Cho đến bây giờ, đây vẫn là tác phẩm xuất sắc nhất của Sam Mendes. Bộ phim là sự kết hợp độc đáo giữa nụ cười chua cay lẩn quất trên môi Lester Burnham (Kevin Spacey), nhân vật chính đồng thời là người dẫn chuyện, và ánh sáng ấm áp kỳ lạ tỏa ra từ mối tình giữa Jane (Thora Birch) và Ricky (Wes Bentley) hai thiếu niên cô độc, lạc lõng trong chính gia đình họ.

Câu chuyện của American Beauty, thật ra, không hề mới. Lester không phải ông chồng nhạt nhẽo đầu tiên si mê cô bé tóc vàng bạn học con mình. Carolyn (Annette Bening) cũng chẳng phải là bà vợ tham vọng đầu tiên say đắm một gã giỏi giang hơn đức ông chồng. Điều thật sự khiến American Beauty vượt lên, và vượt lên rất xa, so với những bộ phim cùng đề tài, là những chi tiết nhỏ nhặt nhưng lại có sức biểu cảm mãnh liệt. Đó là tiếng nhạc nền dìu dặt của ca khúc Bali H’ai vang lên giữa không khí lạnh lẽo của bữa tối nhà Burnham. Đó là những lời trả treo châm biếm của cô bé tuổi dậy thì dành cho cha mình. Và, trên hết, đó là hình ảnh chiếc túi ni lông bay xao xác như một mảnh linh hồn. American Beauty đầy rẫy bi kịch. Nhà Burnham không phải là một gia đình mà là tập hợp ba bi kịch sống chung dưới một mái nhà. Nhà Fitts cũng không khá hơn gì với một bộ ba tương tự, dù họ thuộc một mẫu gia đình rất khác.

172258_15

Thế nhưng khi chìm đắm vào thế giới bi-kịch-và-chỉ-bi-kịch ấy, khán giả vẫn thấy, như chính Lester đã thừa nhận ở cuối phim, đời rất đẹp. Câu chuyện dù sắp đặt, nhưng lại không có dù chỉ một chút gượng ép. Nó vẫn tự nhiên như nó vốn phải là như thế. Chính điều này, cùng khuôn hình tối giản và những giây phút thả cho trí tưởng tượng bay bổng đến mức hoang đường, đã góp phần không nhỏ vào nét độc đáo kỳ lạ của American Beauty.

Một điều không thể không nhắc đến khi nói về thành công của American Beauty là diễn xuất xuất thần của Kevin Spacey. Ban đầu, DreamWorks muốn chọn một gương mặt đình đám hơn, như Bruce Willis hay John Travolta. Nhưng Sam kiên quyết giữ nguyên lựa chọn của mình. Và quả thực Kevin đã không phụ lòng kỳ vọng. Kevin không chỉ khắc họa thành công sự đờ đẫn của anh viên chức 42 tuổi chán chường và bất đắc chí, mà còn đặc biệt xuất sắc trong những thời điểm phấn khích kỳ quặc của một ông chồng vừa tỉnh dậy từ cơn hôn mê sâu của cuộc hôn nhân đã chết về cảm xúc.

Không chỉ Spacey, những vai diễn khác của American Beauty đều xuất sắc, một sự đồng đều hiếm có làm tăng giá trị bộ phim. Trong khi Thora và Wes, bằng diễn xuất tự nhiên, tạo ra một sự tương phản mạnh mẽ giữa tình cảm ân cần của họ và mối quan hệ lạnh lẽo đáng sợ của các bậc phụ huynh thì Chris Cooper và Allison Janney trong vai bố mẹ Ricky lại bổ sung một áp lực nặng nề lên câu chuyện, khi bọn họ kẻ lặng im, người giãy giụa trong bi kịch của riêng mình.

… cho đến “Trên đường Cách Mạng”

Mười năm sau ngày thành công cùng American Beauty, Sam Mendes  trở lại với đề tài đã đưa anh lên đỉnh vinh quang. Revolutionary Road, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Richard Yates, là câu chuyện về Frank và April Wheeler, một đôi vợ chồng trẻ “hoàn hảo” ở xã hội Mỹ thập niên 50 của thế kỷ XX, khát khao tìm kiếm một sự hoàn hảo khác, ở một chân trời khác – Paris. Đây cũng là lần tái ngộ đầu tiên của bộ đôi DiCaprio và Winslet kể từ Titanic. Frank và April Wheeler vừa phải tranh đấu để giải phóng họ khỏi ngục tù của cuộc đời phố thị, vừa phải cưỡng lại sức dụ hoặc từ sự tròn trịa của chính cuộc đời ấy, trong một niềm tin tuyệt vọng rằng họ khác với số đông.

Revolutionary Road là hiện thực, hiện thực thuần túy và tàn nhẫn, không còn lại một chút gì dù là vẻ trào phúng chua cay hay nét tung tẩy hoang đường ta từng bắt gặp ở American Beauty. Nhưng bi kịch thì vẫn vậy – vẫn là những mảnh đời ở thành thị Mỹ, vật lộn trong sự bình thường và vô nghĩa của kiếp trung lưu tẻ nhạt. Bi kịch ấy càng được nhấn mạnh hơn bởi những khuôn hình bức bối và nhạc nền đơn điệu cố tình của Thomas Newman – người soạn nhạc cho American Beauty.

M0020080_special__7

Có lẽ chính bởi sự tương đồng này mà rất nhiều người đã, một cách tự nhiên, so sánh bộ phim với kiệt tác đầu tay của Sam Mendes. Và dĩ nhiên, đặt trong một phép so sánh tuyệt đối như thế, Revolutionary Road, vốn nặng nề hơn American Beauty, khó tránh khỏi chịu phần thua thiệt, mặc dù Leonardo DiCaprio, Kate Winslet (phu nhân của Sam Mendes), và đặc biệt là Michael Shannon trong vai nhà toán học thần kinh, đều xuất sắc.

Nhưng, trên thực tế, Revolutionary Road vẫn rất riêng, dù có thể không đạt đến sự hoàn hảo như người anh cả. Bi kịch của April Wheeler khác với bi kịch của Lester Burnham, trước hết vì cô là phụ nữ. Cô có những khát khao riêng, và những ràng buộc khác rất đỗi đàn bà. Và trên hết: cô vẫn yêu chồng trong khi Lester, tự đáy lòng, đã không còn yêu vợ.

Khác với Lester ý thức rất rõ về bản thân, cả Frank và April đều bị dằn vặt bởi ảo tưởng rằng mình ưu tú hơn phần còn lại của cái cộng đồng nơi họ sống, và bởi thế xứng đáng với một cuộc đời ưu việt hơn. Nhưng trớ trêu thay, họ không thể rũ bỏ sự tầm thường kia để vươn tới cuộc đời ưu việt ấy. Và nó đã đẩy họ vào một bi kịch không có lối ra trên con đường có cái tên thật là “khắc nghiệt” – Revolutionary Road.

Đến giờ, khi đã trở thành một đạo diễn điện ảnh tiếng tăm, Sam Mendes vẫn tiếp tục đeo đuổi kịch nghệ. Hành trang điện ảnh của Sam đến nay mới có năm bộ phim (tính cả Away we go, phim hài đầu tiên của anh, vừa ra mắt tháng 6/2009 tại Mỹ), trong khi anh đã dàn dựng cả thảy 15 vở kịch. Đôi khi, người ta có cảm giác, đối với Sam, điện ảnh chỉ là một kỳ nghỉ cuối tuần, còn sân khấu mới là tình yêu đích thực.

Bài đã được đăng trên báo Sinh Viên Việt Nam bộ mới – số 42

Posted in Features | 1 Comment »

Cấu trúc trò chơi trong Triệu phú Ổ chuột

Posted by FilmCriticsVN on 25/10/2009

VFCC – Bạn Mai Anh Tuấn có nhã ý gửi đến VFCC một bài viết rất công phu về Slumdog Millionaire. Dưới đây, VFCC xin đăng toàn văn bài viết của bạn Tuấn. Chân thành cảm ơn bạn và rất mong nhận được nhiều đóng góp hơn nữa của bạn trong tương lai.

_________________________

Slumdog Millionaire (Triệu phú ổ chuột. Dưới đây xin viết tắt là Slumdog như cách gọi trong phim) đã có trong mình những giải thưởng danh giá mà một bộ phim hướng tới. Dĩ nhiên, sẽ còn nhiều e ngại để xếp Slumdog vào danh sách những tác phẩm kinh điển. Nhưng cái cách mà nó lần lượt bước lên bục vinh quang trong tư thế của kẻ chịu trận làn sóng biểu tình chống Slumdog tại ngay chính quê hương mình, Ấn Độ, với những biểu ngữ giương cao “Tôi không phải là ổ chuột, tôi là tương lai Ấn Độ” (I am not a slumdog. I am the future of India) đã tạo nên một hiện tượng đáng ghi nhớ nhất trong lịch sử điện ảnh thế giới.

Cần biết rằng, Slumdog là bộ phim đầu tiên giành giải Oscar Phim hay nhất mà không phải là phim nói tiếng Anh (nửa tiếng Anh, nửa tiếng Hindi)[[1]]. Sự thật bất ngờ ấy đã đem lại cho những người dân nghèo khổ trong các thành phố niềm lạc quan khôn tả, thậm chí là nụ cuời mãn nguyện. Và họ sẽ nhớ lại rất rõ, chỉ hai ngày sau khi Barack Obama, người có gốc gác tận Kenya xa xôi, trở thành tổng thống Mỹ với lời tuyên bố “chúng ta đã chọn hi vọng thay vì sợ hãi”, thì Slumdog lên ngôi như thể sự thay đổi đã linh nghiệm tức thì. Lối suy diễn logic quen thuộc nhưng đáng yêu ấy gợi mở cho tôi một hình dung về trò chơi thêu dệt ngôn từ của báo giới. Kiểu trò chơi domino hiệu ứng xã hội “hậu Slumdog“. Song không mấy ai thấy, hoàn toàn được tính toán, bản thân Slumdog đã chứa đựng trong mình một cấu trúc trò chơi, cái mà tôi sẽ phân tích kĩ dưới đây, và nhờ nó, Slumdog mới có thể đem lại những hiệu ứng nghệ thuật cho giới làm phim lẫn người xem phim.

1. Từ sự lựa chọn một gameshow

Với người dân Anh, trò chơi truyền hình “Ai muốn là triệu phú” (Who Wants to Be a Millionaire) đã quá quen thuộc. Khi đạo diễn Danny Boyle sử dụng gameshow này như một chất liệu để viết kịch bản, trước hết, ông sẽ tự dồn mình vào khó khăn. Bởi việc có mặt một gameshow truyền hình ăn khách trong phim thể nào cũng gây nghi ngờ là mánh lới thương mại. Trong trường hợp bộ phim thất bại, sự cười cợt nhanh chóng đổ dồn lên đạo diễn, người đã không lường hết tình thế bi đát khi để nghệ thuật chân chính kí sinh vào truyền thông đại chúng. Ngược lại, nếu phim thành công, những ngờ vực sẽ thế chỗ bởi thán phục. Và Danny Boyle đã nhận được sự thán phục. Danny Boyle quả là đạo diễn cao tay khi biết cách xây tòa tháp cao trên ngọn núi cao, nghĩa là để cái tên Who wants to be a Millionaire thành Slumdog millionaire. Thoạt tiên như cách chơi chữ. Nhưng bề sâu, đó là một cách siêu hư cấu (metaficion) khi để Jamal Malik, chàng trai đến từ khu ổ chuột trong thành phố Mumbai trở thành người hùng của trò chơi truyền hình nổi tiếng ấy. Không còn nghi ngờ gì nữa, Danny Boyle đã chế tác cái gameshow thành cấu trúc quan trọng trong tác phẩm nghệ thuật của mình. Dưới chức năng là cái khung câu chuyện, gameshow hé lộ các sự kiện trong cuộc đời Jamal, và bằng cảm hứng của trò chơi, mọi đường nét, nhịp điệu hiện thực đời sống cứ dần dần hiện lên theo từng khuôn hình, cuốn theo mắt xích hỏi và đáp của trò chơi.

M0020002_still_05

Đặc điểm dễ nhận thấy của trò chơi là phải có người chơi và luật chơi. Trong Slumdog, người chơi là Jamal, luật chơi là chọn câu trả lời đúng khi người dẫn chương trình đưa ra câu hỏi. Phải thực sự có kiến thức sâu rộng mới vượt qua được những câu hỏi mà mức độ khó tăng dần. Jamal là cậu bé mồ côi, thất học, lớn lên ở khu ổ chuột nhưng lại trả lời suôn sẻ và sớm đạt được mức tiền thưởng lớn. Hóa ra, khác với ý nghĩ thông thường, các câu trả lời chính xác của Jamal đều có sẵn trong cuộc đời anh chứ không phải có trong sách vở. Nói đúng hơn, cuộc đời Jamal trùng khít với những giải đáp cho mọi chất vấn tưởng chừng rất cao siêu. Tạo nên câu hỏi, Danny Boyle đồng thời cũng tạo nên số phận Jamal trong phim của mình. Nhưng có điểm thú vị là: trong khi câu hỏi phải khoa học (phi hư cấu) để đảm bảo dáng dấp một gameshow thì số phận Jamal lại có thể hư cấu nhằm phù hợp với ý đồ nghệ thuật hoặc phục vụ cho một thông điệp nào đó. Chính trạng thái nhị trùng kết cấu này mà Slumdog liên tục gây hứng thú cho khán giả, giúp họ song song chứng kiến hai câu chuyện: câu chuyện trong trường quay truyền hình và câu chuyện cuộc đời Jamal nơi Mumbai náo nhiệt. Cùng với việc lắp ghép hai mạch chuyện đó hết sức tinh tế, chủ ý của Danny Boyle còn hướng đến việc giải thoát cho người xem khỏi cảm giác chìm sâu vào tính chân thực của câu chuyện bằng cách nhấn mạnh rằng toàn bộ chuyện phim cũng nằm trong một trò chơi. Mở đầu chuyện phim là câu trắc nghiệm: “Còn một câu hỏi nữa để Jamal Malik giành 20 triệu rupees, anh ta đã làm thế nào ?”. Đáp án chỉ hiện lên khi kết thúc phim: anh ta đã viết. Viết tức là hư cấu, tức là chính Boyle, trong vị thế người dẫn dắt câu chuyện, mong muốn mở rộng phạm vi tiếp cận nó theo hình thức trò chơi: mọi người đều có thể đưa ra câu trả lời của mình sau khi tham dự vào chính câu chuyện phim. Nếu không tham dự trọn vẹn thì câu trả lời thấu đáo về Jamal vẫn còn bỏ ngỏ. Như thế, đến đây, thật tự nhiên và nhẹ nhàng, Danny Boyle đã đặt chúng ta vào hàng ghế khán giả với một khoảng cách vừa đúng luật chơi.

Đương nhiên đấy chỉ là câu hỏi tùy ý trả lời, nó không nằm trong chuỗi câu hỏi chính của gameshow. Nhưng đối với kết cấu bộ phim, nó, theo tôi, là lời đề dẫn, là phụ chú thông thái, là chi tiết kiến tạo nên hệ thống. Nhìn theo góc độ này, nhất là ở khía cạnh tự do lựa chọn câu trả lời của người xem, bộ phim cần được ứng xử như một văn bản mà ở đó, quyền hạn của tác giả không thể là tuyệt đối. Chính vì tạo ra câu hỏi về nhân vật trong phim nên tác giả, đến lượt mình, lại ở vị thế khách quan. Tác giả khó lòng tháo dỡ và sắp xếp các chi tiết xẩy ra trong cuộc đời nhân vật theo ý muốn riêng tư của mình. Tác giả chỉ vào vai người thưởng thức, nhân vật mới là người kể chuyện đáng tin. Nhân vật tự tạo nên chân dung mình, có lí và rất hợp lí. Người ta cũng có thể tin rằng chàng Jamal thất học, nhờ những may mắn ngẫu nhiên nào đó, sẽ giành chiến thắng trong trò chơi trí tuệ trên truyền hình lắm chứ! Nhưng tôi dám chắc, Danny Boyle không muốn đề cao một niềm tin như thế, là bởi, chí ít, ông thích quan sát một hiện thực là thế hơn nhiều!

Đảo lộn vị thế tác giả – nhân vật, Slumdog còn biết cách làm mềm hóa cái khung chặt chẽ của mình. Ấy là ngay ở poster (một yếu tố tuy nhỏ nhưng tôi vẫn coi là quan trọng tạo nên cấu trúc mọi văn bản, ở đây là văn bản Slumdog) đã hiển thị câu hỏi: Làm thế nào để tìm thấy một tình yêu đã mất ? [A. Tiền bạc; B. May mắn; C. Khổ đau; D. Định mệnh]. Ai nêu ra câu hỏi này: tác giả, nhân vật, hay chính khán giả ? Và câu hỏi ấy dành và đúng cho Jamal hay dành và đúng cho tất cả mọi tình yêu trên cõi đời này ? Câu hỏi buông ra như để suy ngẫm. Hỏi nhưng không cần trả lời. Đó là một chi tiết phi trò chơi, nằm ngoài gameshow lẫn câu chuyện phim nhưng lại đánh động tâm can người xem rất nhiều. Khi đó, từ một kẽ nứt kí ức, câu chuyện tình yêu của chúng ta sẽ đồng hành cùng câu chuyện tình yêu của Jamal. Điểm ráp nối vô tình ấy, biết đâu, lại trở nên sâu lắng và ám ảnh dài lâu hơn cả ?

2. Đến cách xây dựng cấu trúc tự sự

Thực tế cho thấy, khá nhiều tác phẩm điện ảnh đã vận dụng hoặc tạo ra hình thức trò chơi khi xây dựng chuyện phim. Muốn vậy, đạo diễn phải bố trí và sắp xếp các sự kiện sao cho thuyết phục và nhất là, đúng với tính chất hấp dẫn của trò chơi. Người giải quyết được yêu cầu đó một cách kì tài, xin được dẫn dụ trước hết, có lẽ là đạo diễn Roberto Bergini với phim Cuộc sống tươi đẹp (Life is beautiful). Ở phần hai của bộ phim (chuyện về gia đình Guido trong trại tập trung của phát xít Đức), mô hình trò chơi được thiết kế hết sức độc đáo: cậu bé Giosue và người cha, Guido, cùng tham dự trò trốn tìm. Trong tình cảnh bị đe dọa tính mạng, Guido đã nghĩ ra cách cứu đứa con trai bé bỏng của mình bằng lời nói dối: đó là một trò chơi, nếu chúng ta thắng, con sẽ được thưởng và phần thưởng là một chiếc xe tăng thật. Giosue hồn nhiên tin và cậu bé cố gắng “tích điểm” nhờ việc trốn thật kĩ trước họng súng kẻ giết người. Hồi hộp, xúc động và bung trào cảm giác hạnh phúc, trò chơi đã diễn tả sâu sắc và lấp lánh tình cha con trong chốn ngục tù tăm tối. Mạch chuyện phim diễn ra tuyến tính. Bởi thế, mỗi một tình huống mà nhân vật tham gia đều có độ căng của nó, được pha trộn giữa tính hài hước và nỗi sợ hãi, giữa sự giam hãm ngột ngạt và lời cầu nguyện được giải thoát, trở về tự do. Ở đây, mấu chốt của trò chơi nằm ở chỗ: tính cách ngây thơ của trẻ con, cậu bé Giosue, người đã coi mọi sự kiện diễn ra trong trại tập trung đều là các mảnh lắp ghép của một trò chơi lớn. Nhờ thế, từ điểm nhìn nơi cậu bé Giosue, trò chơi không ngừng lan tỏa vẻ lung linh, kì diệu và cổ tích của nó. Khung câu chuyện do đạo diễn R. Bergini kiến tạo cũng đã vươn đến tận cùng trí tưởng tượng trong sáng mà một đứa trẻ có thể có.

Tương tự Cuộc sống tươi đẹp, mô hình trò chơi trong Slumdog đã gài đặt vào cấu trúc chuyện phim những thuộc tính đáng giá nhất của nó: nhịp điệu tăng dần, hấp dẫn và mức độ căng thẳng không ngừng va động tâm trí người xem. Nhưng khác với R. Bergini, Danny Boyle xây dựng chuyện phim theo hai chiều: hồi ức quá khứ và diễn biến hiện tại. Cả hai đều có mức độ lôi cuốn, sôi nổi, gay cấn như nhau. Đây cũng là điểm sáng tạo riêng của Slumdog. Nhớ lại, ở phim Rashomon (1950) của Akira Kurosawa, bộ phim phá vỡ cấu trúc tự sự truyền thống bằng cách tạo tự sự đa điểm nhìn, thì mức độ lôi cuốn cũng chỉ diễn ra ở quá khứ, trong hồi ức của ba nhân vật chính (tiều phu, nông dân, thầy tu). Nói khác đi, cấu trúc tự sự ở đây bị lệch pha (cái đã diễn ra nhập vai cái đang nhìn thấy) và lệch thì (thì quá khứ làm trọng tâm). Rồi ở Forrest Gump (1994) của Robert Zemeckis, phần lớn chuyện đời anh chàng Forrest Gump này cũng được dồn về thì quá khứ. Hình ảnh hiện tại ấn tượng duy nhất là bến đợi xe bus, nơi Forrest Gump hồn nhiên thuật lại đời mình cho những người xa lạ nghe. Nên lưu ý rằng: cả hai phim đều mang dáng dấp trò chơi. Nếu Rashomon là trò đuổi bắt, đuổi bắt một sự thật được cho là đáng tin nhất thì Forrest Gump là đuổi bắt nhiều sự thật được cho là khó tin nhất. Trong hai phim này, yếu tố kể lại được dày công chuẩn bị hơn Slumdog vốn trưng dụng cả yếu tố nhớ lại. Chính vì nhớ lại nên mức độ và tốc độ sự kiện diễn ra nhanh hơn, bất thần hơn. Nó vừa mới xẹt qua hiện tại đã thấy thụt lún sâu vào kí ức, ranh giới và ý muốn chặn bắt khả năng hồi tưởng là điều không thể. Những dấu ấn cuộc đời Jamal chỉ như chớp mắt đi qua, tê mê và bỏng rát, tất cả quá khứ dậy lên mùi vị tươi nguyên, không cần bao bọc, nó mang nhiên ủ kín tâm tưởng người xem. Không làm nổi bật tính chất kể lại nên, cũng khác với Rashomon Forrest Gump, trong Slumdog vai trò người kể chuyện bị che mờ. Nếu ở Forrest Gump, nhân vật chính tự ý dẫn dắt câu chuyện, lời kể của anh ta [ở hiện tại] chồng lên lời thoại của các nhân vật trong quá khứ thì ở Slumdog, Jamal không tự ý nhớ/kể lại. Hồi ức của Jamal chỉ đột ngột xẩy ra khi có sự kích động từ bên ngoài. Trong quá trình tái hiện quá khứ đó, Jamal, nhờ việc tự mình chứng kiến toàn bộ gameshow được thu lại, đã nối dài thêm những chi tiết câu chuyện bằng cách bình luận nó (cùng với hai viên cảnh sát). Khán giả ngày nay đã quá quen thuộc với việc một chuyện phim được đan xen nhiều thì khác nhau, và ngoại trừ những phim không chủ trương tự sự, thì việc Danny Boyle xây dựng một cấu trúc tự sự như trong Slumdog, kể đã là sáng tạo mới mẻ.

M0020078_SD0072

Khi Jamal đối mặt với mỗi câu hỏi trong gameshow, kí ức của anh lại có dịp trỗi dậy. Có ba mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời Jamal được đạo diễn khai thác nhằm tạo thế chân vạc cho chuyện phim: lúc Jamal 7 tuổi, 13 tuổi và 18 tuổi. Ở mỗi thời điểm, Jamal đều trải nghiệm những biến cố bi thương: mẹ chết, lang thang kiếm sống, sự tha hóa của người anh trai, Salim, và nỗi ô nhục của người con gái anh yêu, Latika. Chính nhờ những trải nghiệm đầy nước mắt, đau đớn ấy mà Jamal đã trả lời chính xác các câu hỏi rất sách vở về người anh hùng Rama, về người chế tạo súng Colt, về Benjamin Franklin… Tuy có ba mốc thời gian như vậy nhưng mạch chuyện lại xuyên thấm theo một hệ thống hoàn chỉnh, có đột biến, thắt nút, gợi mở và ẩn giấu. Ẩn giấu, xin được nói thêm, đã tiềm ẩn trong trò chơi vấn đáp (cũng tương tự trò chơi trốn – tìm) khi mà ở 4 lựa chọn, sẽ có một lựa chọn chính xác. Nắm bắt đặc điểm này, đạo diễn mới triển khai mạch chuyện “có vẻ thật” hơn. “Thật hơn” là bởi Jamal không có nhiều kiến thức nên anh ta không bị gây nhiễu trước các giả thiết. Anh ta chỉ có một kí ức, một sự thật và từ đó, yên tâm với một đáp án cho riêng mình! Cũng vì thế, tính cách Jamal nổi bật với một ý chí, một khát vọng, một tình yêu luôn luôn bùng cháy.

Như đã nói, thì hiện tại của Slumdog cũng đầy lôi cuốn, căng thẳng. Nó thoát ra khỏi từ trường của câu chuyện quá khứ. Có được điều này là bởi, một lần nữa, mô hình trò chơi được ra linh hoạt ở phần cuối phim, khi Jamal trở lại trường quay truyền hình để trả lời câu hỏi cuối. Có thể nói rằng đây là trường đoạn sử dụng nhiều điểm không gian nhất: không gian trường quay; không gian ngôi nhà tên xã hội đen nơi anh trai Jamal, Salim đang chuẩn bị một “kế hoạch cuối cùng”; không gian đường phố, nơi Latika đi tìm Jamal; không gian các khu ổ chuột Mumbai, nơi người dân háo hức chờ đợi người hùng của mình trở thành triệu phú (vì gameshow được truyền hình trực tiếp). Tất cả đều liên quan với nhau và xẩy ra đồng thời. Ở mức độ khéo léo nhất, đạo diễn đã ráp nối song song kết cấu của hai mạch chuyện: Jamal và gameshow; Jamal và Latika, dồn nén vào đó tất cả những chi tiết mang năng lượng hạt nhân để có thể tạo ra sự bung nở mạch chuyện lớn nhất. Chi tiết kích hoạt cho vụ nổ chính là câu hỏi về các nhân vật của tiểu thuyết Ba người lính ngự lâm, một câu hỏi quá khó đối với Jamal dù thực tế, ngày đầu tiên đến trường, anh đã thoáng nhìn thấy tác phẩm đó. Khi Jamal chọn sự trợ giúp cuối cùng, gọi điện cho người thân, thì tiếng trả lời không phải là Salim như Jamal tưởng mà là Lakita, tình yêu của anh. Và đó là lí do để Jamal chơi tiếp dù Latika không giúp được gì. Chỉ với sức mạnh tình yêu, sự cầu may đã giúp Jamal chiến thắng, giành 20 triệu rupees, khác nào phần thưởng của cậu bé Giosue khi nhìn thấy chiếc xe tăng thật tiến vào trại tập trung. Đến đây, mạch chuyện Jamal và gameshow coi như kết thúc, và khán giả chợt ngộ ra rằng, đó dường như chẳng thể là nội dung chính của bộ phim. Câu chuyện Jamal và Latika, nhờ toàn bộ diễn biến của nó, mới là trung tâm. Ngay trong trường đoạn đầy kịch tính này, mối quan hệ Jamal – Latika cũng đã gói gọn những mâu thuẫn và sự kiện chính yếu nhất của mạch chuyện phim. Ta có thể sơ đồ hóa nó như sau:

Sơ đồ

Minh giải về sơ đồ trên như sau:  Ở [II], mâu thuẫn giữa Salim và tên trùm xã hội đen đã được giải quyết triệt để. Salim bắn chết tên trùm xã hội đen, kẻ đã đào tạo anh trở thành tên du côn Mumbai, và sau đó bị đồng bọn sát hại. Salim đã giải thoát cho Lakita, mối quan hệ giữa anh và Lakita gần như trung tính dù trong quá khứ, Salim đã chiếm đoạt Lakita dẫu Jamal phản ứng đầy căm phẫn và đau đớn.  Ở [III], tính chất các mối quan hệ này khá giống nhau, Jamal hướng về Salim vì đó là người anh trai ruột thịt dù ở hiện tại, cả hai đều không thể nối lại tình cảm chân tay như thời thơ ấu. Tên trùm xã hội đen hướng về Latika vì nàng là vợ, là nô lệ của anh ta. Anh ta không sở hữu được trái tim Latika, cũng như Salim không còn sống trong tình huynh đệ. Những mối quan hệ ấy, cuối cùng, bị xóa bỏ bởi cái chết của Salim lẫn tên đại ca. Chỉ còn [I], Jamal – Latika, hai nhịp tim đồng vọng, vượt lên khổ đau và xa cách, đã gắn kết với nhau trong ánh sáng tình yêu thương bền bỉ, vẹn nguyên.

Từ sơ đồ ta cũng cảm nhận rõ tính chất chặt chẽ trong mạch chuyện. Nhờ đó mà trường đoạn dài hơi nhất ở thì hiện tại đã cung hiến cho người xem một trải nghiệm biến tấu cảm xúc, như cách lướt trên con sóng lớn, vừa kinh hãi vừa  khoái chí. Nhờ vào cái “gia sản” cảm xúc này mà Slumdog đã chứng tỏ mình là sự kế thừa Apocalypse Now, bộ phim yêu thích của Danny và đương nhiên không hề xấu hổ khi lấy tiêu chí mạch chuyện để đặt cạnh những phim đạt giải Oscar gần đây (Cuộc sống của những người khác, Không có đất cho người già)

3. Và cách lạ hóa trò chơi hay thủ pháp phản ánh hiện thực mới

Ở trên, qua việc phân tích cấu trúc tự sự, tôi đã chỉ ra cách xử lí độc đáo, sáng tạo của đạo diễn Danny Boyle khi ông trưng dụng mô hình trò chơi. Những ai đã từng xem “Ai là triệu phú” trên truyền hình sẽ rất bất ngờ khi xem Slumdog. Bởi vì Danny Boyle đã lạ hóa trò chơi ấy, ít nhất ở hai điểm: một, người chơi và hai, hệ thống câu hỏi. Thủ pháp lạ hóa này về thực chất là một yếu tính dễ thấy trong các tác phẩm siêu hư cấu. Nếu Robert Zemeckis đã cho phép anh chàng khờ khạo Forrest Gump gặp cả ba đời tổng thống Mỹ, tham gia “ngoại giao bóng bàn”, sáng lập viên tập đoàn máy tính…, thì dĩ nhiên Danny Boyle cũng có thể để anh chàng thất học Jamal chiến thắng cuộc thi kiến thức. Vấn đề không chỉ là thế. Vấn đề là nghệ thuật có quyền giải hoặc những sự thật khác nhau để có thể khám phá xã hội bằng cái nhìn mới, đa phương hơn và trong thời điểm mà nó lên tiếng, sẽ có ý nghĩa hơn.

M0020010_feature1__5

Trở lại với Slumdog, khi Jamal hé lộ cuộc đời cay đắng của mình thì người ta cũng nhận ra một hiện thực khác của Ấn Độ, đất nước đông dân bậc nhất thế giới. Số phận Jamal, Salim, Latika là số phận lớp người đáy cùng xã hội. Rõ ràng, tạo nên những nhân vật này, kiểu nhân vật có thể coi là tân – Dickens (neo-Dickensian), Danny Boyle muốn phơi mở tính chất tương phản kịch tính nhất trong thành phố Mumbai, hình ảnh tiêu biểu của xã hội Ấn Độ. Những khu nhà ổ chuột, khu phố đèn đỏ, nạn bóc lột sức lao động trẻ em, nghèo đói và xung đột tôn giáo…., tất cả là một phần sự thật ghê sợ trong xã hội Ấn hiện đại. Hành trình sống của Jamal, Salim, Latika luôn bị nhào trộn trong đời sống đô thị và kết quả là, chúng hoặc bị tha hóa/lưu manh hóa, hoặc bị đẩy vào nhà chứa, hoặc thất học… Qua vẻ đẹp trẻ thơ dần bị tan rữa bởi đói khát và bạo hành, Slumdog đã làm nhức nhối tâm trí người xem. Và cùng với những cuộc sinh tồn khắc nghiệt, hiện thực ấy xẩy ra hằng ngày, không thể chế ngự và liên tục tái hồi. Với thái độ lạnh lùng, trung thực như nhà làm phim tài liệu, Danny Boyle đã xây dựng nơi Slumdog một tinh thần chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt. Hiện thực ấy có thể gây vết thương, cái nguyên cớ khiến người dân Mumbai biểu tình tẩy chay bộ phim, nhưng không thể che giấu bởi vì chúng, đa số đều có ý nghĩa phản tỉnh lương tri con người.

Nói thêm về hệ số bất ngờ của trò chơi: những câu hỏi. Chúng được đưa ra lần lượt như là điểm nhấn của việc phản ánh hiện thực. Chẳng hạn, câu hỏi về người anh hùng Rama được gài vào cảnh xung đột tôn giáo (người theo đạo Hindu đã đánh chết mẹ Jamal là người theo Hồi giáo); câu hỏi về Benjamin Franklin, một triệu phú sau trở thành tổng thống Mỹ được gài vào cảnh Jamal gặp lại bạn mình, Arvind mù lòa hát rong kiếm sống; câu hỏi về súng lại khắc nhập với thời điểm Salim thành kẻ giết người… Có thể thấy, mức độ câu hỏi khó dần cũng là sự mở rộng dần, phát triển dần của hiện thực. Từ sự tương tác này, Slumdog còn có điều kiện mở rộng không gian hơn và ở mỗi kiểu không gian lại chứa đựng một sự tương phản khác nhau: giàu có – nghèo khổ; nhân ái – tàn nhẫn; chân thật – dối trá; cơ hội làm giàu – thất bại… Những cung bậc khác nhau, dưới từng động tác giải phẫu, đã phác thảo cách sinh động của một đô thị đông đúc và mới như Mumbai.

Tuy hiện thực là ghê sợ nhưng Slumdog không quá bi. Nói đúng hơn, cái bi được chuyên chở bằng thủ pháp giễu nhại và hài hước cũng như màu sắc trữ tình dung dị. Tạo ra sự tương phản đã là giễu nhại, gây cười. Và khi đạo diễn khai thác sâu hơn nét tương phản đó thì một chút châm biếm được khởi lên thanh thoát. Đó là chi tiết Jamal, lúc 7 tuổi, thân mình trết đầy phân người chạy đi gặp ngôi sao điện ảnh; chi tiết đứa bé đóng vai người anh hùng Rama giương mắt nhìn cảnh những con dân Ấn đang truy giết nhau; chi tiết Arvind mù lòa mô tả vanh vách chân dung Franklin trên tờ 100 đô la; chi tiết Jamal “xuyên tạc lịch sử” khi làm hướng dẫn viên du lịch trong ngôi đền Taj Mahal nổi tiếng… Chính nhờ điểm xuyết một vài chi tiết bằng chiêu thức giễu nhại, châm biếm nhẹ nhàng đó mà hiện thực đời sống, tính cách đô thị cũng còn toát lên những nét đáng yêu của nó. Trong khi nghèo đói và sự tha hóa trở nên ám ảnh thì tình yêu muôn đời vẫn tinh khiết, ngọt ngào và là thứ quà tặng cho bất cứ ai, kể cả Jamal và Lakita, hai cư dân khu ổ chuột. Thậm chí cả hai còn sẽ được nhắc đến như là cổ tích tình yêu. Cùng với tình yêu, sự sống của các khu ổ chuột Mumbai vẫn tiếp diễn. Mọi người, nhất là bọn trẻ và thanh niên vẫn hòa mình vào những điệu nhảy đường phố rộn ràng, sôi động như để tìm thấy sự thanh tẩy tốt nhất, như thể tìm đến hi vọng và nuôi dưỡng những đức tin. Cuộc phiêu lưu của anh em Jamal trên những chuyến tàu là dịp may bay bổng, khoái hoạt và nhờ thế, lòng nhân ái và tương thân đại đồng đã làm cuộc đời ấm lại. Chất lãng mạn có phần già nua mà đạo diễn rải đều trong bộ phim phần nào bẻ ghi cảm xúc người xem hướng đến lòng yêu mến, sự cảm thông và chia sẻ hơn là phê phán gay gắt.

Slumdog quả là một cứ liệu xã hội học thú vị về đời sống đô thị hiện đại.

4. Trò chơi màu sắc và âm thanh

Martin Scorsese đã nói rất đúng rằng: Hay nhất là ở mỗi cảnh phim phải như một mảnh nhỏ trong trò chơi ghép hình, và cuối phim, người xem sẽ nhìn thấy tất cả nếu các mảnh hình được ghép đúng [[2]]. Với Slumdog, sự hợp lí, tinh tế, độc đáo đã cùng lúc đến từ các mảnh ghép của màu sắc và âm thanh. Cả hai, trong nhịp điệu hòa quyện và hô ứng của mình, góp tay tạo nên một trò chơi hấp dẫn.

M0020080_SD0120

Màu sắc chủ đạo của Slumdog là màu vàng: sa mạc cát, nắng chiều, chiếc áo và khăn quàng của Latika, bức tường, căn phòng, ngọn lửa… Sắc vàng thậm như dính vào Mumbai trên khắp chốn không gian. Độc đáo hơn cả là cảnh cậu bé Jamal nhảy xuống hố phân nhà vệ sinh. Màu vàng đặc quánh trát đầy Jamal, một thứ màu sắc… gợi mùi và gây cảm giác gai người. Có lẽ đây là một hiệu ứng đặc biệt của màu sắc mà chỉ có điện ảnh mới làm được. “Tín ngưỡng” màu vàng còn được Danny Boyle phô bày trong một bộ phim trước đó của ông, Sunshine. Lí giải cho điều này, theo tôi, là bởi quan niệm màu sắc của đạo diễn có tính nhất quán và việc đẩy đến cao độ một màu sắc như thế trong bộ phim không nằm ngoài chủ ý: tạo câu chuyện riêng cho màu sắc. Với Slumdog, câu chuyện đó vừa trầm lắng, ảm đạm, vừa náo nhiệt. Trong nhiều cảnh phim, có khi màu sắc đã vỡ tung, để rồi tan chảy trong không gian những hạt bụi và tiếng nổ của nó.Tuân theo bước đi của mạch chuyện và màu sắc, các cảnh phim, dưới sự hỗ trợ của âm thanh, có nhịp tiết tấu nhanh, phấn chấn. Không phải ngẫu nhiên mà Slumdog nhận giải Oscar quay phim, bởi như ta thấy, chính nhờ sự di chuyển liên tục của máy quay và sự thay đổi góc quay mà mô hình trò chơi đã có được những linh kiện cần thiết. Trường đoạn những đứa trẻ bị đuổi trong khu ổ chuột ở đầu phim là ví dụ chính xác cho tài nghệ quay phim: máy quay trượt dài trên đường phố, di chuyển qua không gian rộng nhưng cũng đặc tả những ngõ hẻm giăng mắc dây điện, những mặt sông ô nhiễm; góc quay cao rồi thả lỏng cho ống kín cận cảnh từng bước chạy, khuôn mặt… Nhờ đó các mảng màu, hình khối khu nhà ổ chuột được xuất hiện với tần suất và kích cỡ khác nhau như thể cái cách thức ghép hình ưa thích của trẻ con. Chúng tuần tự kết nối trên nhạc nền sôi động, dự báo cho giây phút bùng nổ điệu nhảy tập thể ở cuối phim.

Trong Slumdog, các cảnh quay cũng như màu sắc và âm thanh đường phố có một ý nghĩa đặc biệt. Bởi vì đó là không gian sống của các cư dân khu ổ chuột. Nếu hình ảnh đoàn tàu lao vút tiêu biểu cho tính cách chớp nhoáng, mở rộng không gian, là nơi qui tụ tha nhân thì khu đèn đỏ là trạng thái ứ đọng, mờ đục và ẩn khuất của thời gian. Nếu điệu múa của Latika toát lên sức sống, sự quyến rũ ở thiếu nữ Ấn thì tiếng hát của Arvind lại như điệu kèn buồn thảm, lạc lỏng trong các đường hầm bê tông dửng dưng. Chúng, dù thoáng qua hay hiện diện nhẵn mặt, đều có khả năng mời mọc sự tham dự của đám đông, góp nhặt nên truyện kể trầm tích nơi chuỗi gen di truyền tạo – hủy đô thị.

Như vậy, có thể coi Slumdog là sự kết hợp giữa những cảnh quay phi sân khấu đường phố với cảnh quay dàn dựng. Tính chất phi sân khấu đường phố nổi bật nét tự nhiên, thô nhám và dữ dội đã được bổ sung bởi nét mềm mại, thi vị của kĩ thuật dàn dựng. Cả hai, trong sự dẫn dắt của âm nhạc, đã phá bỏ giới tuyến khô cứng giữa nghệ thuật bậc cao và thẩm mĩ đại chúng, để mang lại những biểu cảm mới, những giao hòa diệu vợi cho điện ảnh. Âu đó cũng là một dấu ấn tiền phong của Slumdog vậy.


[1] Ở giải Oscar, tính đến năm 2009, mới chỉ có 8 bộ phim nói tiếng nước ngoài (Grand Illusiontiếng Pháp, 1938; Z -tiếng Pháp, 1969; The Emigrantstiếng Thụy Điển, 1972; Cries and Whispers – tiếng Thụy Điển, 1973; Il Postinotiếng Ýtiếng Tây Ban Nha, 1995; Cuộc sống tươi đẹp – tiếng Ý, 1998; Ngọa hổ tàng longtiếng Quan thoại, 2000; Letters from Iwo Jimatiếng Nhật, 2006) và 1 phim bán ngoại ngữ (Slumdog Millionaire – nửa tiếng Anh, nửa tiếng Hindi) được đề cử cho hạng mục Phim hay nhất. Trong đó, chỉ có Slumdog Millionaire đạt được giải Oscar Phim hay nhất, còn các bộ phim Z, Cuộc sống tươi đẹpNgọa hổ tàng long được trao giải Oscar Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất.

[2] Việt Linh, Ý tưởng nghề nghiệp. Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005, tr. 62

Posted in Features, On Screen | 4 Comments »