RSS

Monthly Archives: November 2008

Forever the Moment (2008)

Đạo diễn: Lim Soon-Rye
Diễn viên: Moon Su-Ri, Kim Jeung-Eun, Uhm Tae-Woong
Thể loại: Drama / Sport
vCritic : Selfish Driftwood – Đánh giá : 4 / 5*

Mục tiêu chính yếu của mỗi cuộc thi đấu thể thao là chiến thắng. Điều gì cũng có hai mặt của nó, và chiến thắng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đội bóng ném nữ Hàn Quốc có lẽ trải nghiệm điều ấy rõ hơn ai hết. Họ dành huy chương vàng tại Olympic Barcelona 1992, rồi thất bại trước tuyển bóng ném Đan Mạch tại Atlanta 1996 và Sydney 2000. Phong độ tệ hại của họ kéo dài suốt cho tới vài tháng trước khi Olympic Athens 2004 diễn ra. Nhiều người khi ấy còn cho rằng họ sẽ không thể đoạt vé tới Athens. Nhưng một điều kỳ diệu đã xảy ra! Một đội bóng gồm cả cựu binh lẫn tân binh đi một mạch tới trận chung kết tại đất nước của những thần thoại và gặp lại đối thủ đầy duyên nợ Đan Mạch. Ở đó, họ đã buộc đối thủ hơn hẳn mình về thể lực cũng như thể hình phải thi đấu thêm 2 hiệp phụ trước khi chịu thua trong loạt ném luân lưu may rủi. Nỗ lực của các cầu thủ nữ đã khiến cả Hàn Quốc phải dõi theo họ và nói như báo giới thì tấm huy chương bạc của đội bóng ném nữ Hàn Quốc 2004 có giá trị không kém gì một tấm huy chương bằng vàng ròng. 4 năm sau sự kiện đó, khi mà câu chuyện kỳ diệu ấy đã nguội đi, nữ đạo diễn Lim Soon-Rye cho ra đời bộ phim Forever the Moment dựa trên phần lớn sự việc có thật với đội bóng ném nữ Hàn Quốc 2004. Phim lập tức trở thành một trong hai hit lớn nhất tại Hàn Quốc hồi đầu năm 2008.

Forever the Moment poster

Cái tên Lim Soon-Rye khá xa lạ, ngay cả với tôi dù tôi, cho dù cũng hay theo dõi phim Hàn Quốc bởi lần cuối bà cho ra mắt một bộ phim dài đã là từ 7 năm trước (phim ca nhạc Waikiki Brothers). Tôi chỉ kịp nhớ ra bà khi một người bạn nhắc lại rằng Lim là đạo diễn của phần phim ngắn The Weight of Her trong tập đầu tiên của series If You Were Me . Các bộ phim của bà thường tập trung vào những nỗi thất vọng hay những điều bất công trong cuộc đời và bà cũng không bao giờ có ý định “tô hồng” cho cuộc sống cả. Câu chuyện Forever the Moment và đoạn kết của phim là một ví dụ điển hình cho phong cách đó. Lim Soon-Rye với blockbuster là hai cụm từ khập khiễng. Thế nên khi bộ phim thể thao có kinh phí thấp này của bà thắng lớn tại các rạp chiếu bóng Hàn Quốc, người ta không khỏi cảm thấy bất ngờ!

Nói chính xác thì Forever the Moment là một phim tâm lý thể thao. Khi các bạn đọc phần trên tôi viết thì đã có thể đoán ra đoạn kết của phim ra sao nhưng điều ấy không làm hỏng đi tâm lý của người xem khi xem phim. Điều mà Lim Soon-Rye muốn nhấn mạnh toàn phim chính là từng nhân vật trong đội tuyển bóng ném và mối quan hệ giữa họ. Đầu tiên là lão tướng Mi-Sook (Moon So-Ri). Cô từng đoạt huy chương vàng tại Barcelona và là người hiểu rõ sự đi xuống của đội tuyển. Giờ cô đã có con trai nhỏ tuổi cùng một người chồng cũng từng là vận động viên bóng ném nhưng nay đã là con nợ bị chủ nợ truy nã tới cùng. Cô buộc phải kiếm thêm một nghề tay trái ở siêu thị và vác cả con tới sân tập bóng. Hye-Kyung (Kim Jeung-Eun) thì đã giải nghệ nhưng lại kiếm được bộn tiền nhờ chuyển qua làm huấn luyện viên cho một câu lạc bộ bóng ném tại Nhật Bản. Dù Hye-Kyung từng luôn ghen tị với tài năng của Mi-Sook trên sân bóng nhưng ngoài đời, cả hai vẫn là bạn tốt. Hye-Kyung trở về Hàn Quốc lãnh chức huấn luyện viên đội nữ bóng ném Hàn Quốc vô kỷ luật sau khi huấn luyện viên hiện thời đột ngột từ chức. Nhưng Hye-Kyung tại vị không lâu chỉ vì liên đoàn không muốn huấn luyện viên là một phụ nữ đã ly dị. Ngôi sao Ahn Seung-Pil (Uhm Tae-Woong), vốn là người yêu cũ của Hye-Kyung, được bổ nhiệm vào vị trí này và cách huấn luyện theo phong cách châu Âu của Ahn có vẻ như khiến đội bóng vốn đã dở lại càng trở nên tệ hơn!

Đạo diễn Lim Soon-Rye tốn tới 3/4 thời gian đầu phim để miêu tả sự thay đổi tâm lý trong và giữa các nhân vật. Như đã nói ở trên, Lim muốn tập trung vào nhân vật, những gian nan họ gặp phải, mặt trái của vinh quang chứ không hẳn là những cuộc đấu bóng nảy lửa trên sân đấu. Vậy nên nếu ai trông chờ một bộ phim thể thao gay cấn, hồi hộp, theo sát con đường chiến thắng của đội Hàn Quốc thì có thể thấy thất vọng. Rất nhiều vấn đề được đặt ra: lòng ghen tị, đố kỵ, quan hệ giữa huấn luyện viên và vận động viên, huấn luyện viên với ban lãnh đạo liên đoàn bóng ném, những hy sinh của bản thân cho sự nghiệp (như có một vận động viên chỉ vì uống thuốc tránh chu kỳ kinh nguyệt để được gọi vào đội tuyển đã trở nên vô sinh), sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong xã hội (có vẻ đạo diễn Lim khá trăn trở với vấn đề này, không biết bà có gặp khó khăn gì trong việc làm phim không?)… Tất cả được bày ra trong một tốc độ hợp lý và khi mà trận đầu chính thức đầu tiên xuất hiện trong phim là trận bán kết với Pháp, người ta có cảm giác như những vận động viên này đã trở thành những người anh hùng. Đạo diễn Lim Soon-Rye cũng không cần thiết phải cường điệu hay thêm thắt quá nhiều sự kiện cho các trận đấu này. Chỉ có hơi tiếc là ở đoạn kết, nhiều nhân vật phụ đã bị bỏ qua. Nếu có một chút cảnh chạy qua những nhân vật phụ xuất hiện suốt từ đầu phim đang theo dõi trận chung kết thì có lẽ sẽ tròn trịa hơn. Nhưng dù sao 1 phút cuối cùng của phim sẽ cực kỳ đáng nhớ và ám ảnh với mỗi khán giả.

Tựa gốc của bộ phim trong tiếng Hàn Quốc là “The Best Moment in Our Lives” dù sến nhưng khá đúng và cay đắng với những gì mà Forever the Moment đã miêu tả. Các cầu thủ nữ ấy đã bỏ ra quá nhiều công sức nên dù họ có thất bại thì đó có lẽ vẫn là thời khắc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của họ. Khi mà trận đấu kết thúc, họ sẽ lại trở về với cuộc sống thường nhật tại Hàn Quốc (hay thậm chí có những người chẳng còn nhà mà về). Cay đắng và chân thực có lẽ là hai điều khiến người ta sẽ nhớ tới Forever the Moment.

P.S.: Tuần trước, bộ phim Forever the Moment vừa vượt qua các tên tuổi lớn khác của điện ảnh Hàn Quốc 2008 như The Good, the Bad, the Weird, The Chaser… để đoạt giải Phim xuất sắc nhất tại liên hoan phim Rồng Xanh lần thứ 29. Xin chúc mừng bà, Lim Soon-Rye!


 
Leave a comment

Posted by on 25/11/2008 in On Screen

 

Lost in Translation (2003)

lost_in_translation_main_menu_thumbnail


Đạo diễn: Sofia Coppola
Diễn viên: Bill Murray, Scarlett Johansson, Giovanni Ribisi, Anna Faris
Thể loại :  romance / comedy / drama
vCritic : MinhThi – Đánh giá : 5/5*

Hàng năm ở Mỹ có rất nhiều bộ phim tâm lý tình cảm được sản xuất. Tuy vậy những phim tình cảm lãng mạn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem lại không nhiều. Rất khó để làm ra một phim tình cảm vừa cảm động sâu sắc lại vừa mới mẻ, tinh tế, không đi vào lối mòn. Thế nhưng bộ phim Lost in Translation của nữ đạo diễn trẻ Sofia Coppola lại làm được điều đó. Thành công của Lost in Translation (giải Oscar cho Kịch bản nguyên gốc xuất sắc nhất và rất nhiều đề cử cho nhiều giải thường danh giá khác nhau) đã khẳng định tên tuổi của Sofia Coppola như một nhà viết kịch bản, một đạo diễn trẻ tài năng, đồng thời đưa nữ diễn viên chính trong phim, Scarlett Johansson trở thành một trong những ngôi sao trẻ được mến mộ nhất.

Lost in translation kể về Bob Harris (Bill Murray thủ vai), một ngôi sao điện ảnh Mỹ độ tuổi trung niên đến Tokyo quay quảng cáo cho một công ty rượu. Sự nghiệp của ông đang có chiều hướng xuống dốc và cuộc hôn nhân của ông dường như đã nguội lạnh qua năm tháng. Đến với một thành phố hoàn toàn xa lạ và khác biệt, Bob không khỏi cảm thấy lạc lõng. Vì vậy rất nhanh chóng, ông bị thu hút bởi Charlotte, một phụ nữ trẻ đã kết hôn, người dường như cũng cô đơn và lạc lõng như ông trên đất nước Nhật Bản xa lạ này. Charlotte (Scarlett Johansson thủ vai) là một sinh viên triết học đã tốt nghiệp Đại học Yale. Cô là vợ một nhiếp ảnh gia lúc nào cũng bận rộn với công việc tới mức dành thời gian bên những ngôi sao trẻ còn nhiều hơn với vợ mình. Bị bỏ bê và vỡ mộng trước hôn nhân, Charlotte dành phần lớn thời gian lang thang trên đường phố Tokyo, như để tìm kiếm mục đích cuộc đời mình. Giống như Harris, Charlotte bị khó ngủ vào ban đêm, bởi vậy hai con người lạc lõng này thường xuyên bắt gặp nhau trong hộp bar khách sạn. Giữa họ bỗng nảy sinh một mối quan hệ đặc biệt , một thứ tình cảm tri âm thuần khiết kỳ lạ.

25597090

Nhìn bề ngoài, có vẻ như Lost in translation chỉ là một bộ phim nói về sự choáng ngợp của con người khi lần đầu tiên tiếp xúc với một nền văn hóa khác biệt. Trong phim, hai nhân vật chính Harris và Charlotte đều cô đơn và lạc lõng trong thành phố Tokyo xa lạ mà họ cảm thấy khó hòa nhập. Có lẽ chỉ đến khi gặp nhau, họ mới tìm thấy nguồn an ủi và niềm vui thực sự.

Mặc dù vậy, dường như hai nhân vật chính không chỉ cảm thấy lạc lõng vì lần đầu tiên được tiếp xúc với một nền văn hóa xa lạ hay vì họ không thể giao tiếp bằng tiếng Nhật. Trước khi đặt chân tới Nhật, Bob và Charlotte hẳn đã bối rối và mất phương hướng, bởi họ không biết phải làm gì với cuộc sống của mình và cả hai đều gặp rắc rối trong hôn nhân. Họ là hai linh hồn lạc lối trong một thành phố rộng lớn. Họ là hai con người cô độc chẳng thể tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống mà họ đã chọn lựa. Dường như cả hai người đều “vỡ mộng”. Họ không hài lòng với cuộc sống của mình. Đó chính là lí do đưa họ đến với nhau một cách thật tự nhiên, rồi nhanh chóng trở nên thân thiết, và người này bị thu hút bởi người kia.

lost-in-translationjpg

Phim có những cảnh quay rất đẹp. Người xem có thể thấy hình ảnh Tokyo hiện lên kiêu sa, lộng lẫy với những ánh đèn sáng trưng và những tòa nhà chọc trời, biểu tượng cho sự phồn vinh của đất nước Nhật Bản giàu có. Thế nhưng những hình ảnh đó lại được quay từ xa một cách cố ý, như muốn ám chỉ sự xa cách và lạc lõng của hai nhân vật chính. Cả Bob và Charlotte, lúc này hay lúc khác, đều dõi mắt nhìn xuống thành phố bên dưới qua những tấm kính lớn trong phòng khách sạn. Dường như giữa họ và thành phố ấy, đất nước ấy, nền văn hóa ấy, luôn luôn có một khoảng cách không thể san bằng. Tấm kính lớn ngăn cách họ với thế giới bên ngoài sôi động, náo nhiệt của Tokyo. Và ngay cả khi lang thang trên những con phố đông đúc ồn ào, họ cũng cảm thấy lạc lõng và cô đơn như khi tự giam mình trong buồng khách sạn.

 

029088_24

Có thể nói điểm nhấn góp phần tạo nên thành công cho Lost in Translation chính là diễn xuất của hai diễn viên chính. Bill Murray, ở độ chín muồi của tài năng và kinh nghiệm diễn xuất, đã hóa thân vào nhân vật hết sức tài tình. Ông như đã thổi sức sống vào nhân vật. Ông làm chúng ta phải bật cười trước những tình huống hài hước mà nhân vật của ông gặp phải, nhưng trên hết ông khiến chúng ta động lòng và cảm thông sâu sắc với những nỗi ưu tư của Bob Harris, với tình cảm nhân vật này dành cho cô gái trẻ tình cờ gặp mặt. Với Lost in Translation, Bill Murray xứng đáng nhận được một đề cử Oscar dành cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất.

Bạn diễn của Bill Murray, Scarlett Johansson, chỉ mới 18 tuổi khi bộ phim bắt đầu bấm máy, nhưng cô ngay lập tức đã khẳng định được tài năng của mình. Diễn xuất giản dị, tự nhiên của Scarlett đã tạo nên một Charlotte quyến rũ, đáng yêu, dịu dàng mà gần gũi. Cô là đại diện cho một thế hệ diễn viên mới trẻ đẹp của Hollywood. Vẻ đẹp cũng như tài năng của cô đã góp phần không nhỏ làm nên thành công của bộ phim.

24zhwtl2

(chú ý : có tiết lộ nội dung phim , bôi đen nếu bạn muốn đọc phần này)

Lost in Translation có một đoạn kết đáng nhớ. Cuối phim, khi đang trên đường tới sân bay, Harris bất chợt trông thấy Charlotte đang đi bộ một mình trên phố và kêu tài xế dừng xe. Ông đến với cô, ôm cô trong vòng tay rộng lớn của mình và thầm thì điều gì đó vào tai cô – điều gì đó người xem không thể nghe thấy. Ta không thể nghe bởi những gì ông nói với cô là bí mật của hai người. Một bí mật không thể sẻ chia. Một bí mật không ai được quyền biết và không nên biết.

Lost in translation là một bộ phim hài nhẹ nhàng, trong sáng và tinh tế. Đoạn kết của câu chuyện không có gì khó đoán. Hai nhân vật chính phải lòng nhau nhưng có lẽ họ sẽ không bao giờ gặp lại. Ngay cả nếu họ có gặp lại, quan hệ của họ khó lòng trở thành một mối tình thực sự do sự khác biệt về tuổi tác và hơn nữa, do cả hai đều đã kết hôn. Mặc dù vậy, hạnh phúc chóng vánh mà họ từng có bên nhau có lẽ sẽ là một kỉ niệm không thể phai mờ trong lòng mỗi người. Và khán giả khi rời khỏi rạp sẽ thắc mắc về số phận của họ, cảm thấy xao lòng đôi chút nhưng hoàn toàn toại nguyện vì đã có cơ hội đuợc xem một bộ phim hay.

Lost in translation là một phim đáng nhớ. Một bộ phim làm cái đầu phải suy nghĩ và trái tim xao xuyến.


 
Leave a comment

Posted by on 23/11/2008 in Reviews

 

Tags: , ,

(Short review) Một số bộ phim của đạo diễn Todd Haynes

imnotthere1

I’m not there (2007)

Đạo diễn : Todd Haynes
Diễn viên : Cate Blanchett, Richard Gere, Heath Ledger, Christian Bale
Thể loại : Biography / Music / Drama / Experimental
vCritic : Phuongcobain – Đánh giá : 4/5*

Thể loại phim tiểu sử nhân vật nói chung, đặc biệt là tiểu sử ca sĩ / nhạc sĩ nổi tiếng nói riêng, luôn là một thử thách lớn đối với các nhà làm phim tại Hollywood. Để giới thiệu tới khán giả một cách cô đọng và hấp dẫn nhất cuộc đời của họ trong khoảng 2 tiếng đồng hồ quả là một công việc rất khó. Tuy nhiên, không vì thế mà có ít phim tiểu sử được làm ra.

Trong một thập kỷ trở lại đây, cứ mỗi năm người ta lại tung ra một tác phẩm thuộc thể loại này nhằm tôn vinh hay để tưởng nhớ tới các ca sĩ / nhạc sĩ nổi tiếng như Ray (về Ray Charles), Last Days (Kurt Cobain), Walk the Line (Johnny Cash), La Vie en Rose (Édith Piaf). I’m not there kể về cuộc đời đầy biến động của Bob Dylan trải dài suốt mấy chục năm, từ khi còn bé xíu cho tới khi ông trở thành huyền thoại nhạc Folk của thế giới.

Rất nhiều ca khúc của Bob Dylan đã trở nên bất hủ và có sức ảnh hướng lớn cho tới tận ngày hôm nay như Knockin’ on heaven’s door, All Along The Watchtower, Blowing in the wind. Điểm đặc biệt trong I’m not there đó là có tới sáu diễn viên thể hiện hình tượng Bob Dylan qua các thời kỳ khác nhau. Trong đó nổi bật nhất chính là phần đảm nhận của nữ diễn viên Cate Blanchett. Chính nhờ vai Bob Dylan mà cô đã được đề cử giải nữ diên phụ xuất sắc nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 80 vừa qua. Đạo diễn bởi Todd Haynes (từng làm Far from heaven), I’m not there sẽ khiến nhiều khán giả phải mất ăn mất ngủ vài ngày sau khi thưởng thức.

( Nguoimau )

 


Superstar : The Karen Carpenter Story (1987)

Đạo diễn : Todd Haynes
Diễn viên : Barbie , Ken
Thể loại : short / biography / documentary / animation / experimental
vCritic : Youta – Đánh giá : 5/5*

Hiện nay đạo diễn Todd Haynes đã là một nhà làm phim có tiếng tăm (mặc dù có thể nhiều người không biết đến ông vì Haynes là một người làm phim indie và thử nghiệm), thế nhưng trước khi phim Superstar : The Karen Carpenter (S:TKCS) được đem chiếu ở Sundance và một số rạp phim nghệ thuật thì Haynes mới chỉ là một sinh viên điện ảnh mới tốt nghiệp, và bộ phim đặc biệt này đã làm nên sự nghiệp cho ông. S:TKCS dài 43 phút, kể lại câu chuyện về sự thành công và chứng biếng ăn đã dẫn đến cái chết của danh ca quá cố Karen Carpenter và phần nào đó, bối cảnh xã hội Mỹ trong những năm 70.

Trong khoảng thời gian S:TKCS được chiếu, nó rất thành công và người ta đi xem nó không phải vì quan tâm đến Karen Carpenter mà là vì những diễn viên mà Todd Haynes sử dụng không phải người thật mà là búp bê Barbie và Ken. Rất tiếc, Richard Capenter không thích cách đạo diễn hư cấu về gia đình mình trong phim này, đồng thời vì phim sử dụng nhạc của The Carpenter không phép nên nó đã bị cấm chiếu kể từ năm 1990, hiện nay chúng ta chỉ có thể xem được nó qua mạng.

Đây là một bộ phim có tính chất thử nghiệm rất cao, không chỉ bởi vì nó sử dụng búp bê Barbie & Ken (một sự ẩn dụ về ngoại hình không tưởng của Barbie với nỗi ám ảnh về ngoại hình của Karen Carpenter). Rất khó để nói nó có phải là một phim tài liệu hay một bộ phim tiểu sử vì nó là sự pha trộn giữa các trường đoạn hư cấu với Barbie mà không khác gì các bộ phim thông thường qua các cách đặt máy quay rồi dolly máy .v.v… và các đoạn footage (bao gồm các các đoạn phim tư liệu , giả tài liệu và các đoạn phim mang tính biểu hiện được thực hiện rất sáng tạo). Đồng thời việc dựng phim và hoà âm cũng được làm rất tuyệt khiến cho S:TKCS rất đa dạng về mặt hình ảnh và âm thanh,làm phong phú thêm cho câu chuyện. Sự sáng tạo trong lối kể chuyện làm khán giả thích thú và nhớ đến nó như một tác phẩm biểu hiện, hơn là sự xúc động với cuộc đời của Karen Carpenter (nhưng cũng không thể phủ nhận giọng ca của cô cất lên trong câu chuyện của chính cô cũng đem lại những cảm xúc rất đặc biệt).

S:TKCS là một bài học rất hay về việc kể chuyện qua một bộ phim với bất kỳ một người làm phim nào.

 

 

 
1 Comment

Posted by on 23/11/2008 in On Screen

 

Kỹ xảo điện ảnh Việt Nam, những luồng ý kiến trái ngược

troduacuathienloi

(Poster : Trò đùa của Thiên Lôi)

vCritic : Mỹ Trang

Khán giả Việt Nam đã từng xem những bộ phim kinh điển của điện ảnh cách mạng đến những bộ phim “mỳ ăn liền” thập niên 90 rồi đến những bộ phim thuần túy giải trí hay những phim có tham vọng vươn ra tầm thế giới luôn hoang mang khi phải nhận xét về hiệu quả hình ảnh đặc biệt của phim truyện Việt. Chúng ta thường chỉ có thể đánh giá những bộ phim đó về thông điệp trong phim, thiết

Kỹ xảo điện ảnh Việt có gì mà bàn

Với điện ảnh Việt Nam, kỹ xảo hay còn gọi là hiệu quả hình ảnh đặc biệt chưa được định hình rõ nét. Trước hết do nhiều năm qua, điện ảnh Việt Nam chỉ tập trung sản xuất những phim truyện đòi hỏi không cao về kỹ thuật thể hiện mà tránh hoặc không sản xuất những tác phẩm điện ảnh đòi hỏi kinh phí lớn hay có những yêu cầu khắt khe về mặt hình ảnh. Đa phần những hiệu quả về thị giác trong phim Việt Nam được tạo ra bằng việc tận dụng các động tác máy: lia, travelling, zoom…Ở một số bộ phim được đánh giá là sáng tạo, vượt khó, những nhà làm phim có nghĩ thêm cho chiếc máy quay những chuyển động khác nhau. Trong phim “Con chim vành khuyên”, nhà quay phim Nguyễn Đăng Bảy đã hi sinh thân mình, ôm máy quay treo người lên cọc tre, để những người trợ lý điều khiển cọc tre lên xuống, lắc trái, lắc phải. Chính những thước phim quay được trong lúc nhà quay phim chới với này đã là trường đoạn ấn tượng của những giây phút bé Nga quay cuồng khi bị giặc bắn. Rất nhiều bộ phim có những cảnh rừng chông, rừng cây, hàng rào dây thép gai được dựng lên. Những cảnh quay này đều được thực hiện bằng cách người quay phim sẽ ngồi thụp nhanh xuống, tạo cảm giác các vật thể mọc lên liên tiếp và nhanh chóng. Đó cũng là một phần kỹ xảo nhưng đang được thực hiện một cách thủ công nhất. Đáng buồn là, nhiều năm sau những động tác như thế còn biến mất luôn trên màn ảnh. Một thời gian dài những phim mỳ ăn liền đã lăng xê những Việt Trinh, Lý Hùng, Diễm Hương bằng một loạt cận cảnh hay cận cảnh đặc tả. Dẫu biết rằng những diễn viên thời đó có vẻ ngoài khá bắt mắt nhưng việc lạm dụng cận cảnh đã càng thể hiện lối diễn xuất cường điệu hình thể của diễn viên.

Một lí do khác hay được nhắc tới là nền điện ảnh Việt Nam được ra đời trong những năm tháng ác liệt của hời gian dài trong chiến tranh, nhiều năm phát triển trong tình trạng kinh tế khó khăn, điều kiện tiếp xúc với máy móc hiện đại hầu như không có. Chính vì thế, các bộ phim chỉ được chăm chút về mặt nội dung, thông điệp phim. Những nhà biên kịch không muốn nghĩ đến việc sáng tạo những đại cảnh hoành tráng vì họ biết rằng kịch bản của mình sẽ còn bị cắt gọt nhiều sao cho dựng cảnh với chi phí ít nhất. Còn kỹ xảo ư, nếu đạo diễn muốn “chơi” sẽ tự sáng tạo và cân đối tài chính để ra nước ngoài thực hiện.

VN đã có bước khởi đầu, sao không cố thêm?

Nhưng nếu nhìn nhận tinh tế một chút, khán giả đã có thể thấy người làm phim đã cố gắng đưa vào những yếu tố kỹ thuật. Các phim nhựa thương mại những năm gần đây như “Đẻ mướn”, “Khi đàn ông có bầu” hay “Nụ hôn thần chết” đều đã đầu tư làm kỹ xảo. Một số cảnh quay bay lượn như chiếc xích lô bay trong “Khi đàn ông có bầu” hay Thần chết rượt đuổi trong “Nụ hôn thần chết” thường được thực hiện trong giai đoạn hậu kỳ ở nước ngoài đã làm đã phần nào con mắt người xem.

Hiện nay, một số thể loại phim đặc trưng cần đến các hiệu quả hình ảnh đặc biệt đang xuất hiện hay trở lại trong thị trường điện ảnh Việt Nam. Phim kinh dị, phim hành động, giả tưởng, phim phiêu lưu mạo hiểm hay những bộ phim có các yếu tố của các thể loại nêu trên đã bắt đầu tạo được ấn tượng với khán giả. Dẫu mọi người vẫn chê về kết cấu kịch bản hay diễn xuất trong loạt phim kinh dị của Nguyễn Chánh Tín (Suối oan hồn, Chết lúc nửa đêm, bốn thí nghiệm trong đêm tân hôn…) nhưng cũng cần phải thừa nhận sự kết hợp giữa nghệ thuật hóa trang và kỹ xảo đã khiến những con ma trong các bộ phim này không còn giống các “anh hề” nữa.

Trong lĩnh vực phim truyền hình, một số bộ phim đã có những thành công nhất định khi áp dụng những kỹ xảo trong quá trình hậu kỳ. “Những ngọn nến trong đêm” và “Những giấc mơ dài” đều có phần credit (giới thiệu phim) được dàn dựng kỹ thuật công phu, những trường đoạn mô ta giấc mơ và ảo giác được thực hiện bởi kỹ xảo đẹp mắt khiến bộ phim có những khoảnh khắc ấn tượng. Tuy nhiên, đến nay khi các đài truyền hình đang triển khai nhiều bộ phim sitcom với bối cảnh chủ yếu ở trong nhà, kỹ xảo đã không được áp dụng. Khán giả mệt mỏi với không gian chật chội của những bức tường trong trường quay, những cảnh kỹ xảo chêm xen về toàn cảnh ngôi nhà lại được thực hiện “phô” đến mức biến phim sitcom thành kịch pha hoạt hình!

Nhưng trên hết, kỹ xảo trong phim Việt mới chỉ dừng lại ở mức khắc phục những khó khăn về kinh phí trong dàn cảnh, tiết kiệm thời gian và công sức với những cảnh quay ngoại. Nói cách khác, kỹ xảo trong phần lớn các bộ phim chỉ là biện pháp cuối cùng đạo diễn lựa chọn nhằm tiết kiệm kinh phí và “minh họa” cho kịch bản phim. Người làm phim chưa chủ động khai thác kỹ xảo trong phim nên khó lòng có thể gửi đến người xem cái hay, cái đẹp – mục tiêu chính của việc áp dụng kỹ xảo trong điện ảnh.

Một nguyên nhân khác là nhân lực làm kỹ xảo vừa thiếu lại vừa yếu, kèm theo đó là điều kiện kỹ thuật rất hạn chế đã khiến cho kỹ xảo điện ảnh Việt càng ít cơ hội phát triển.

Chính khán giả cũng phần nào tác động

Khán giả cũng có một phần trách nhiệm dù vô tình trong việc trì trệ lâu dài của kỹ xảo điện ảnh Việt. Khán giả của chúng ta, một bộ phận vốn đã quen với việc thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật theo hình thức “miến phí” qua vé mời, phim tặng, phim chiếu truyền hình miễn phí đã không đòi hỏi nhiều từ phía chất lượng chung của bộ phim cũng như trên phương diện kỹ xảo phim. Một bộ phận khán giả khác, tự tìm nguồn vui ở điện ảnh nước ngoài đã hoàn toàn quay lưng lại với điện ảnh Việt Nam, không quan tâm đến sự tìm tòi sáng tạo của người làm điện ảnh. Họ có thể xuýt xoa trầm trồ bàn luận không ngớt về những bộ phim mà kỹ xảo áp đảo của thế giới như Ma Trận, Kẻ hủy diệt… và bĩu môi khi nhắc đến kỹ xảo phim Việt.

Sự dễ dãi quá mức hay khó tính đến mức không thèm quan tâm trong thói quen người xem đã khiến nhiều chục năm trôi qua, chúng ta vẫn phải xem những thước phim như của những thập kỷ trước. Thậm chí nếu người xem tinh ý còn có thể phát hiện ngay cả ở ánh sáng, bối cảnh, phim Việt Nam còn nhiều lỗi cơ bản chứ đừng nói đến nâng cao nghệ thuật điện ảnh. Nhưng nhìn chung vẫn là sự im lặng, thậm chí gạt khỏi mối quan tâm thường ngày.

Người làm phim chỉ có thể có những sáng tạo, phá vỡ nguyên tắc khi nắm rõ những nguyên tắc. Và họ chỉ có thể làm thế, khi chính bản thân khán giả cùng chia sẻ với họ.

(vietimes)

 
Leave a comment

Posted by on 20/11/2008 in Features

 

The Kite Runner

The Kite Runner (2007)

Đạo diễn : Marc Forster

Diễn viên : Homayoun Ershadi, Khalid Abdalla, Zekiria Ebrahimi, Ahmad Khan Mahmoodzada
Thể loại : Drama

vCritic : Phuongcobain - Đánh giá : 4 / 5*


 

 

the-kite-runner1

 

Mùa giải thưởng điện ảnh đầu năm 2008 vừa qua tại Mỹ là một mùa giải khá đặc biệt so với vài năm trở lại đây. Hầu hết các ứng cử viên nặng ký, từ Atonement, There will be blood, cho đến Into the wild, No Country for old men, The Diving Bell and the Butterfly đều được dựa trên những cuốn sách rất nổi tiếng và ăn khách. Kịch bản The Kite Runner cũng được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Khaled Hosseini

Nội dung phim kể về ba quãng thời gian quan trọng trong cuộc đời của nhân vật Amir, từ lúc còn là cậu bé mê thả diều tại thành phố Kabul, Afghanistan cho đến khi trở thành một nhà văn nổi tiếng sinh sống tại San Francisco, Mỹ.

Mỗi câu chuyện trong ba thời điểm khác nhau đều để lại cho người xem ấn tượng riêng. Nếu như tình bạn giữa Amir và Hassan, con trai người giúp việc ở phần đầu được xây dựng hết sức cảm động, thì tình cảm của hai cha con Amir trường đoạn giữa lại rất sâu lắng. Toàn bộ câu chuyện thẫm đẫm tình người được kết nối, sâu chuỗi với nhau thông qua phần cuối của tác phẩm khi Amir đi tìm lại đứa con của Hassan.

Xuyên suốt cả bộ phim, ngoài đường dây chính là nhân vật Amir, The Kite Runner còn đề cập đến vấn đề chính trị phức tạp tại Afghanistan từ khi đất nước này còn hoà bình (năm 1978), cho đến khi chiến tranh nổ ra hỗn loạn với sự xuất hiện lần lượt của quân đội Nga, rồi lực lượng nổi dậy Taliban. Nhưng, bỏ qua những vấn đề chính trị rắc rối kể trên, khán giả hầu như bị cuốn hút bởi cách dẫn dắt câu chuyện hấp dẫn, đầy cảm động của đạo diễn Marc Forster (Monster’s ball, Stranger than Fiction), chìm đắm trong những giai điệu tuyệt vời của nhà soạn nhạc Alberto Iglesias (được đề cử giải Oscar 2008 nhạc nền hay nhất), và phần quay phim xuất sắc của Roberto Schaefer. The Kite Runner là một trong số ít các tác phẩm mà khi chuyển thể từ tiểu thuyết thành phim truyện lại khiến khán giả hài lòng đến như vậy.


(SVVN)

 
Leave a comment

Posted by on 18/11/2008 in Reviews

 

Twilight (2008) – Cơn sốt mới?

Twilight sẽ được chiếu tại các rạp Việt Nam trong vài ngày tới. Có thể nói đây là một lựa chọn hợp lý của các nhà nhập phim, bởi lẽ, đây là bộ phim dựa theo bộ sách ăn khách nhất hiện nay của Stephen Meyer.

Tập đầu tiên của bộ sách – Twilight (Chạng vạng) đã được xuất bản ở Việt Nam từ năm 2007, và tập tiếp theo vừa xuất bản năm nay. Đây là một trong những bộ sách kỳ ảo dành cho teen từng tạo nên kỳ tích tại Mỹ: trong suốt hơn một năm qua, loạt truyện nay chưa từng rời khỏi danh sách bán chạy nhất của mọi tạp chí, vượt qua cả Harry Potter.

Bộ phim Twilight, cũng như cuốn sách, hội tụ đầy đủ những yếu tố chinh phục tuổi Teen: những nhân vật tài ba, xinh đẹp, cốt truyện đầy cảm động và ly kì về tình yêu đắm say của tuổi mới lớn với những cấm kỵ, nỗi khao khát và đau khổ… Và hơn thế nữa, đối với các bậc phụ huynh, đây là tác phẩm hoàn toàn trong sáng: không sex, không ma túy… Dù các nhà làm phim phải thừa nhận họ phải thay đổi rất nhiều chi tiết so với sách, nhưng với một cốt truyện khá hoàn hảo và thu hút, bộ phim vẫn có đủ lý do để kéo khán giả tới rạp.

Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 16/11/2008 in Preview

 

Tags: , , , ,

Toàn cảnh Liên hoan phim Cannes 2008

Một cảnh trong Gomorra

Một cảnh trong Gomorra

Vậy là sau 21 năm, kể từ ngày Sous le Soleil de Satan (1987) của đạo diễn Maurice Pialat đoạt giải Cành cọ vàng, nước Pháp mới lại có một bộ phim giành giải cao nhất tại Liên hoan phim Cannes. Khi chủ tịch Liên hoan phim, nam diễn viên kiêm đạo diễn Sean Penn công bố giải thưởng Cành cọ vàng thuộc về tác phẩm Entre le Murs, ắt hẳn đã có rất nhiều người Pháp vui mừng, sung sướng. Đích thân nam diễn viên kỳ cựu Robert De Niro trao giải cho đạo diễn Laurent Cantes trong những tràng pháo tay chúc mừng từ phía khán giả. Đã lâu lắm rồi, người Pháp mới có một bộ phim đứng trên đỉnh cao nhất của liên hoan phim danh tiếng được tổ chức trên chính quê hương mình.

Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 14/11/2008 in Features

 

Tags: , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers