Vietnam Film Critics Community

Where true cinema lovers meet

Archive for November, 2008

Forever the Moment (2008)

Posted by Selfish Driftwood on 25/11/2008

Đạo diễn: Lim Soon-Rye
Diễn viên: Moon Su-Ri, Kim Jeung-Eun, Uhm Tae-Woong
Thể loại: Drama / Sport
vCritic : Selfish Driftwood – Đánh giá : 4 / 5*

Mục tiêu chính yếu của mỗi cuộc thi đấu thể thao là chiến thắng. Điều gì cũng có hai mặt của nó, và chiến thắng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đội bóng ném nữ Hàn Quốc có lẽ trải nghiệm điều ấy rõ hơn ai hết. Họ dành huy chương vàng tại Olympic Barcelona 1992, rồi thất bại trước tuyển bóng ném Đan Mạch tại Atlanta 1996 và Sydney 2000. Phong độ tệ hại của họ kéo dài suốt cho tới vài tháng trước khi Olympic Athens 2004 diễn ra. Nhiều người khi ấy còn cho rằng họ sẽ không thể đoạt vé tới Athens. Nhưng một điều kỳ diệu đã xảy ra! Một đội bóng gồm cả cựu binh lẫn tân binh đi một mạch tới trận chung kết tại đất nước của những thần thoại và gặp lại đối thủ đầy duyên nợ Đan Mạch. Ở đó, họ đã buộc đối thủ hơn hẳn mình về thể lực cũng như thể hình phải thi đấu thêm 2 hiệp phụ trước khi chịu thua trong loạt ném luân lưu may rủi. Nỗ lực của các cầu thủ nữ đã khiến cả Hàn Quốc phải dõi theo họ và nói như báo giới thì tấm huy chương bạc của đội bóng ném nữ Hàn Quốc 2004 có giá trị không kém gì một tấm huy chương bằng vàng ròng. 4 năm sau sự kiện đó, khi mà câu chuyện kỳ diệu ấy đã nguội đi, nữ đạo diễn Lim Soon-Rye cho ra đời bộ phim Forever the Moment dựa trên phần lớn sự việc có thật với đội bóng ném nữ Hàn Quốc 2004. Phim lập tức trở thành một trong hai hit lớn nhất tại Hàn Quốc hồi đầu năm 2008.

Forever the Moment poster

Cái tên Lim Soon-Rye khá xa lạ, ngay cả với tôi dù tôi, cho dù cũng hay theo dõi phim Hàn Quốc bởi lần cuối bà cho ra mắt một bộ phim dài đã là từ 7 năm trước (phim ca nhạc Waikiki Brothers). Tôi chỉ kịp nhớ ra bà khi một người bạn nhắc lại rằng Lim là đạo diễn của phần phim ngắn The Weight of Her trong tập đầu tiên của series If You Were Me . Các bộ phim của bà thường tập trung vào những nỗi thất vọng hay những điều bất công trong cuộc đời và bà cũng không bao giờ có ý định “tô hồng” cho cuộc sống cả. Câu chuyện Forever the Moment và đoạn kết của phim là một ví dụ điển hình cho phong cách đó. Lim Soon-Rye với blockbuster là hai cụm từ khập khiễng. Thế nên khi bộ phim thể thao có kinh phí thấp này của bà thắng lớn tại các rạp chiếu bóng Hàn Quốc, người ta không khỏi cảm thấy bất ngờ!

Nói chính xác thì Forever the Moment là một phim tâm lý thể thao. Khi các bạn đọc phần trên tôi viết thì đã có thể đoán ra đoạn kết của phim ra sao nhưng điều ấy không làm hỏng đi tâm lý của người xem khi xem phim. Điều mà Lim Soon-Rye muốn nhấn mạnh toàn phim chính là từng nhân vật trong đội tuyển bóng ném và mối quan hệ giữa họ. Đầu tiên là lão tướng Mi-Sook (Moon So-Ri). Cô từng đoạt huy chương vàng tại Barcelona và là người hiểu rõ sự đi xuống của đội tuyển. Giờ cô đã có con trai nhỏ tuổi cùng một người chồng cũng từng là vận động viên bóng ném nhưng nay đã là con nợ bị chủ nợ truy nã tới cùng. Cô buộc phải kiếm thêm một nghề tay trái ở siêu thị và vác cả con tới sân tập bóng. Hye-Kyung (Kim Jeung-Eun) thì đã giải nghệ nhưng lại kiếm được bộn tiền nhờ chuyển qua làm huấn luyện viên cho một câu lạc bộ bóng ném tại Nhật Bản. Dù Hye-Kyung từng luôn ghen tị với tài năng của Mi-Sook trên sân bóng nhưng ngoài đời, cả hai vẫn là bạn tốt. Hye-Kyung trở về Hàn Quốc lãnh chức huấn luyện viên đội nữ bóng ném Hàn Quốc vô kỷ luật sau khi huấn luyện viên hiện thời đột ngột từ chức. Nhưng Hye-Kyung tại vị không lâu chỉ vì liên đoàn không muốn huấn luyện viên là một phụ nữ đã ly dị. Ngôi sao Ahn Seung-Pil (Uhm Tae-Woong), vốn là người yêu cũ của Hye-Kyung, được bổ nhiệm vào vị trí này và cách huấn luyện theo phong cách châu Âu của Ahn có vẻ như khiến đội bóng vốn đã dở lại càng trở nên tệ hơn!

Đạo diễn Lim Soon-Rye tốn tới 3/4 thời gian đầu phim để miêu tả sự thay đổi tâm lý trong và giữa các nhân vật. Như đã nói ở trên, Lim muốn tập trung vào nhân vật, những gian nan họ gặp phải, mặt trái của vinh quang chứ không hẳn là những cuộc đấu bóng nảy lửa trên sân đấu. Vậy nên nếu ai trông chờ một bộ phim thể thao gay cấn, hồi hộp, theo sát con đường chiến thắng của đội Hàn Quốc thì có thể thấy thất vọng. Rất nhiều vấn đề được đặt ra: lòng ghen tị, đố kỵ, quan hệ giữa huấn luyện viên và vận động viên, huấn luyện viên với ban lãnh đạo liên đoàn bóng ném, những hy sinh của bản thân cho sự nghiệp (như có một vận động viên chỉ vì uống thuốc tránh chu kỳ kinh nguyệt để được gọi vào đội tuyển đã trở nên vô sinh), sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong xã hội (có vẻ đạo diễn Lim khá trăn trở với vấn đề này, không biết bà có gặp khó khăn gì trong việc làm phim không?)… Tất cả được bày ra trong một tốc độ hợp lý và khi mà trận đầu chính thức đầu tiên xuất hiện trong phim là trận bán kết với Pháp, người ta có cảm giác như những vận động viên này đã trở thành những người anh hùng. Đạo diễn Lim Soon-Rye cũng không cần thiết phải cường điệu hay thêm thắt quá nhiều sự kiện cho các trận đấu này. Chỉ có hơi tiếc là ở đoạn kết, nhiều nhân vật phụ đã bị bỏ qua. Nếu có một chút cảnh chạy qua những nhân vật phụ xuất hiện suốt từ đầu phim đang theo dõi trận chung kết thì có lẽ sẽ tròn trịa hơn. Nhưng dù sao 1 phút cuối cùng của phim sẽ cực kỳ đáng nhớ và ám ảnh với mỗi khán giả.

Tựa gốc của bộ phim trong tiếng Hàn Quốc là “The Best Moment in Our Lives” dù sến nhưng khá đúng và cay đắng với những gì mà Forever the Moment đã miêu tả. Các cầu thủ nữ ấy đã bỏ ra quá nhiều công sức nên dù họ có thất bại thì đó có lẽ vẫn là thời khắc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của họ. Khi mà trận đấu kết thúc, họ sẽ lại trở về với cuộc sống thường nhật tại Hàn Quốc (hay thậm chí có những người chẳng còn nhà mà về). Cay đắng và chân thực có lẽ là hai điều khiến người ta sẽ nhớ tới Forever the Moment.

P.S.: Tuần trước, bộ phim Forever the Moment vừa vượt qua các tên tuổi lớn khác của điện ảnh Hàn Quốc 2008 như The Good, the Bad, the Weird, The Chaser… để đoạt giải Phim xuất sắc nhất tại liên hoan phim Rồng Xanh lần thứ 29. Xin chúc mừng bà, Lim Soon-Rye!


Posted in On Screen | Leave a Comment »

Les Cahiers du Cinema – Top 100 Movies of All time

Posted by phuongcobain on 24/11/2008

citizen-kane

 

 

Mới đây, tạp chí về điện ảnh nổi tiếng của Pháp – Les Cahiers du Cinema đã bầu chọn ra Top 100 phim hay nhất qua mọi thời đại. Nhưng không hiểu có phải người Pháp ghét người Anh hay không mà trong Top 100 chẳng có lấy một phim UK. Rất nhiều tác phẩm nổi tiếng như The Third Man, Black Narcissus, Brief Encounter, Lawrence of Arabia, Monty Python and the Holy Grail, Pygmalion, The Fallen Idol… đều không có mặt.

Cũng giống như cuộc bình chọn do AFI tổ chức, Citizen Kane vẫn là “thí sinh” về nhất. Điều này không ai có thể phủ nhận. Khi Citizen Kane hoàn thành vào năm 1941, Orson Welles mới hơn 26 tuổi. Khá bất ngờ khi The Night of the Hunter của đạo diễn / diễn viên Charles Laughton về thứ hai (đây là bộ phim duy nhất mà ông làm đạo diễn trong suốt cả sự nghiệp). Sunrise, tác phẩm mà tôi rất thích đứng ở vị trí thứ 4.

Lọt vào trong Top 10 có đến 5 phim của người Mỹ, 3 phim của người Pháp, 2 phim của người Đức. Không có phim nào của Ý, Nga, Tây Ban Nha, Nhật. Chỉ có 2 tác phẩm sản xuất trong thế kỷ 21 được Les Cahiers du Cinema chọn vào Top 100 là Talk to her (2003) và Mullholand Drive (2001), nhưng đều xếp gần cuối bảng.

Điều đáng chú ý khác đó là hàng loạt bộ phim thuộc trào lưu Làn sóng mới trong thập niên 60, 70 của những tên tuổi như Jean Luc Godard, Francois Truffaut, Louis Malle… đều xếp khá thấp, cho dù họ đều là những cây viết, nhưng cộng tác viên nhiệt tình cho tạp chí Cahiers du Cinema thời kỳ đầu. Chỉ duy nhất Contemp của Jean Luc Godard là “leo” lên được vị trí thứ 15. Tiếp sau đó là Hiroshima, Mon Amour của Alain Resnais xếp thứ 26.

1. Citizen Kane – Orson Welles
2. The Night of the Hunter – Charles Laughton
3. The Rules of the Game (La Règle du jeu) – Jean Renoir
4. Sunrise: A Song of Two Humans (L’Aurore) – Friedrich Wilhelm Murnau
5. L’Atalante – Jean Vigo
6. M – Fritz Lang
7. Singin’ in the Rain – Stanley Donen & Gene Kelly
8. Vertigo – Alfred Hitchcock
9. Children of Paradise (Les Enfants du Paradis) – Marcel Carné
10. The Searchers – John Ford
11. Greed – Erich von Stroheim
12. Rio Bravo – Howard Hawkes
13. To Be or Not to Be – Ernst Lubitsch
14. Tokyo Story – Yasujiro Ozu
15. Contempt (Le Mépris) – Jean-Luc Godard
16. Tales of Ugetsu (Ugetsu monogatari) – Kenji Mizoguchi
17. City Lights – Charlie Chaplin
18. The General – Buster Keaton
19. Nosferatu the Vampire – Friedrich Wilhelm Murnau
20. The Music Room – Satyajit Ray
21. Freaks – Tod Browning
22. Johnny Guitar – Nicholas Ray
23. The Mother and the Whore (La Maman et la Putain) – Jean Eustache
24. The Great Dictator – Charlie Chaplin
25. The Leopard (Le Guépard) – Luchino Visconti
26. Hiroshima, My Love – Alain Resnais
27. The Box of Pandora (Loulou) – Georg Wilhelm Pabst
28. North by Northwest – Alfred Hitchcock
29. Pickpocket – Robert Bresson
30. Golden Helmet (Casque d’or) – Jacques Becker
31. The Barefoot Contessa – Joseph Mankiewitz
32. Moonfleet – Fritz Lang
33. Diamond Earrings (Madame de…) – Max Ophüls
34. Pleasure – Max Ophüls
35. The Deer Hunter – Michael Cimino
36. The Adventure – Michelangelo Antonioni
37. Battleship Potemkin – Sergei M. Eisenstein
38. Notorious – Alfred Hitchcock
39. Ivan the Terrible – Sergei M. Eisenstein
40. The Godfather – Francis Ford Coppola
41. Touch of Evil – Orson Welles
42. The Wind – Victor Sjöström
43. 2001: A Space Odyssey – Stanley Kubrick
44. Fanny and Alexander – Ingmar Bergman
45. The Crowd – King Vidor
46. 8 1/2 – Federico Fellini
47. La Jetée – Chris Marker
48. Pierrot le Fou – Jean-Luc Godard
49. Confessions of a Cheat (Le Roman d’un tricheur) – Sacha Guitry
50. Amarcord – Federico Fellini
51. Beauty and the Beast (La Belle et la Bête) – Jean Cocteau
52. Some Like It Hot – Billy Wilder
53. Some Came Running – Vincente Minnelli
54. Gertrud – Carl Theodor Dreyer
55. King Kong – Ernst Shoedsack & Merian J. Cooper
56. Laura – Otto Preminger
57. The Seven Samurai – Akira Kurosawa
58. The 400 Blows – François Truffaut
59. La Dolce Vita – Federico Fellini
60. The Dead – John Huston
61. Trouble in Paradise – Ernst Lubitsch
62. It’s a Wonderful Life – Frank Capra
63. Monsieur Verdoux – Charlie Chaplin
64. The Passion of Joan of Arc – Carl Theodor Dreyer
65. À bout de souffle – Jean-Luc Godard
66. Apocalypse Now – Francis Ford Coppola
67. Barry Lyndon – Stanley Kubrick
68. La Grande Illusion – Jean Renoir
69. Intolerance – David Wark Griffith
70. A Day in the Country (Partie de campagne) – Jean Renoir
71. Playtime – Jacques Tati
72. Rome, Open City – Roberto Rossellini
73. Livia (Senso) – Luchino Visconti
74. Modern Times – Charlie Chaplin
75. Van Gogh – Maurice Pialat
76. An Affair to Remember – Leo McCarey
77. Andrei Rublev – Andrei Tarkovsky
78. The Scarlet Empress – Joseph von Sternberg
79. Sansho the Bailiff – Kenji Mizoguchi
80. Talk to Her – Pedro Almodóvar
81. The Party – Blake Edwards
82. Tabu – Friedrich Wilhelm Murnau
83. The Bandwagon – Vincente Minnelli
84. A Star Is Born – George Cukor
85. Mr. Hulot’s Holiday – Jacques Tati
86. America, America – Elia Kazan
87. El – Luis Buñuel
88. Kiss Me Deadly – Robert Aldrich
89. Once Upon a Time in America – Sergio Leone
90. Daybreak (Le Jour se lève) – Marcel Carné
91. Letter from an Unknown Woman – Max Ophüls
92. Lola – Jacques Demy
93. Manhattan – Woody Allen
94. Mulholland Dr. – David Lynch
95. My Night at Maud’s (Ma nuit chez Maud) – Eric Rohmer
96. Night and Fog (Nuit et Brouillard) – Alain Resnais
97. The Gold Rush – Charlie Chaplin
98. Scarface – Howard Hawks
99. Bicycle Thieves – Vittorio de Sica
100. Napoléon – Abel Gance

Posted in Features | 2 Comments »

Lost in Translation (2003)

Posted by Minh Thi on 23/11/2008

lost_in_translation_main_menu_thumbnail


Đạo diễn: Sofia Coppola
Diễn viên: Bill Murray, Scarlett Johansson, Giovanni Ribisi, Anna Faris
Thể loại :  romance / comedy / drama
vCritic : MinhThi – Đánh giá : 5/5*

Hàng năm ở Mỹ có rất nhiều bộ phim tâm lý tình cảm được sản xuất. Tuy vậy những phim tình cảm lãng mạn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem lại không nhiều. Rất khó để làm ra một phim tình cảm vừa cảm động sâu sắc lại vừa mới mẻ, tinh tế, không đi vào lối mòn. Thế nhưng bộ phim Lost in Translation của nữ đạo diễn trẻ Sofia Coppola lại làm được điều đó. Thành công của Lost in Translation (giải Oscar cho Kịch bản nguyên gốc xuất sắc nhất và rất nhiều đề cử cho nhiều giải thường danh giá khác nhau) đã khẳng định tên tuổi của Sofia Coppola như một nhà viết kịch bản, một đạo diễn trẻ tài năng, đồng thời đưa nữ diễn viên chính trong phim, Scarlett Johansson trở thành một trong những ngôi sao trẻ được mến mộ nhất.

Lost in translation kể về Bob Harris (Bill Murray thủ vai), một ngôi sao điện ảnh Mỹ độ tuổi trung niên đến Tokyo quay quảng cáo cho một công ty rượu. Sự nghiệp của ông đang có chiều hướng xuống dốc và cuộc hôn nhân của ông dường như đã nguội lạnh qua năm tháng. Đến với một thành phố hoàn toàn xa lạ và khác biệt, Bob không khỏi cảm thấy lạc lõng. Vì vậy rất nhanh chóng, ông bị thu hút bởi Charlotte, một phụ nữ trẻ đã kết hôn, người dường như cũng cô đơn và lạc lõng như ông trên đất nước Nhật Bản xa lạ này. Charlotte (Scarlett Johansson thủ vai) là một sinh viên triết học đã tốt nghiệp Đại học Yale. Cô là vợ một nhiếp ảnh gia lúc nào cũng bận rộn với công việc tới mức dành thời gian bên những ngôi sao trẻ còn nhiều hơn với vợ mình. Bị bỏ bê và vỡ mộng trước hôn nhân, Charlotte dành phần lớn thời gian lang thang trên đường phố Tokyo, như để tìm kiếm mục đích cuộc đời mình. Giống như Harris, Charlotte bị khó ngủ vào ban đêm, bởi vậy hai con người lạc lõng này thường xuyên bắt gặp nhau trong hộp bar khách sạn. Giữa họ bỗng nảy sinh một mối quan hệ đặc biệt , một thứ tình cảm tri âm thuần khiết kỳ lạ.

25597090

Nhìn bề ngoài, có vẻ như Lost in translation chỉ là một bộ phim nói về sự choáng ngợp của con người khi lần đầu tiên tiếp xúc với một nền văn hóa khác biệt. Trong phim, hai nhân vật chính Harris và Charlotte đều cô đơn và lạc lõng trong thành phố Tokyo xa lạ mà họ cảm thấy khó hòa nhập. Có lẽ chỉ đến khi gặp nhau, họ mới tìm thấy nguồn an ủi và niềm vui thực sự.

Mặc dù vậy, dường như hai nhân vật chính không chỉ cảm thấy lạc lõng vì lần đầu tiên được tiếp xúc với một nền văn hóa xa lạ hay vì họ không thể giao tiếp bằng tiếng Nhật. Trước khi đặt chân tới Nhật, Bob và Charlotte hẳn đã bối rối và mất phương hướng, bởi họ không biết phải làm gì với cuộc sống của mình và cả hai đều gặp rắc rối trong hôn nhân. Họ là hai linh hồn lạc lối trong một thành phố rộng lớn. Họ là hai con người cô độc chẳng thể tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống mà họ đã chọn lựa. Dường như cả hai người đều “vỡ mộng”. Họ không hài lòng với cuộc sống của mình. Đó chính là lí do đưa họ đến với nhau một cách thật tự nhiên, rồi nhanh chóng trở nên thân thiết, và người này bị thu hút bởi người kia.

lost-in-translationjpg

Phim có những cảnh quay rất đẹp. Người xem có thể thấy hình ảnh Tokyo hiện lên kiêu sa, lộng lẫy với những ánh đèn sáng trưng và những tòa nhà chọc trời, biểu tượng cho sự phồn vinh của đất nước Nhật Bản giàu có. Thế nhưng những hình ảnh đó lại được quay từ xa một cách cố ý, như muốn ám chỉ sự xa cách và lạc lõng của hai nhân vật chính. Cả Bob và Charlotte, lúc này hay lúc khác, đều dõi mắt nhìn xuống thành phố bên dưới qua những tấm kính lớn trong phòng khách sạn. Dường như giữa họ và thành phố ấy, đất nước ấy, nền văn hóa ấy, luôn luôn có một khoảng cách không thể san bằng. Tấm kính lớn ngăn cách họ với thế giới bên ngoài sôi động, náo nhiệt của Tokyo. Và ngay cả khi lang thang trên những con phố đông đúc ồn ào, họ cũng cảm thấy lạc lõng và cô đơn như khi tự giam mình trong buồng khách sạn.

 

029088_24

Có thể nói điểm nhấn góp phần tạo nên thành công cho Lost in Translation chính là diễn xuất của hai diễn viên chính. Bill Murray, ở độ chín muồi của tài năng và kinh nghiệm diễn xuất, đã hóa thân vào nhân vật hết sức tài tình. Ông như đã thổi sức sống vào nhân vật. Ông làm chúng ta phải bật cười trước những tình huống hài hước mà nhân vật của ông gặp phải, nhưng trên hết ông khiến chúng ta động lòng và cảm thông sâu sắc với những nỗi ưu tư của Bob Harris, với tình cảm nhân vật này dành cho cô gái trẻ tình cờ gặp mặt. Với Lost in Translation, Bill Murray xứng đáng nhận được một đề cử Oscar dành cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất.

Bạn diễn của Bill Murray, Scarlett Johansson, chỉ mới 18 tuổi khi bộ phim bắt đầu bấm máy, nhưng cô ngay lập tức đã khẳng định được tài năng của mình. Diễn xuất giản dị, tự nhiên của Scarlett đã tạo nên một Charlotte quyến rũ, đáng yêu, dịu dàng mà gần gũi. Cô là đại diện cho một thế hệ diễn viên mới trẻ đẹp của Hollywood. Vẻ đẹp cũng như tài năng của cô đã góp phần không nhỏ làm nên thành công của bộ phim.

24zhwtl2

(chú ý : có tiết lộ nội dung phim , bôi đen nếu bạn muốn đọc phần này)

Lost in Translation có một đoạn kết đáng nhớ. Cuối phim, khi đang trên đường tới sân bay, Harris bất chợt trông thấy Charlotte đang đi bộ một mình trên phố và kêu tài xế dừng xe. Ông đến với cô, ôm cô trong vòng tay rộng lớn của mình và thầm thì điều gì đó vào tai cô – điều gì đó người xem không thể nghe thấy. Ta không thể nghe bởi những gì ông nói với cô là bí mật của hai người. Một bí mật không thể sẻ chia. Một bí mật không ai được quyền biết và không nên biết.

Lost in translation là một bộ phim hài nhẹ nhàng, trong sáng và tinh tế. Đoạn kết của câu chuyện không có gì khó đoán. Hai nhân vật chính phải lòng nhau nhưng có lẽ họ sẽ không bao giờ gặp lại. Ngay cả nếu họ có gặp lại, quan hệ của họ khó lòng trở thành một mối tình thực sự do sự khác biệt về tuổi tác và hơn nữa, do cả hai đều đã kết hôn. Mặc dù vậy, hạnh phúc chóng vánh mà họ từng có bên nhau có lẽ sẽ là một kỉ niệm không thể phai mờ trong lòng mỗi người. Và khán giả khi rời khỏi rạp sẽ thắc mắc về số phận của họ, cảm thấy xao lòng đôi chút nhưng hoàn toàn toại nguyện vì đã có cơ hội đuợc xem một bộ phim hay.

Lost in translation là một phim đáng nhớ. Một bộ phim làm cái đầu phải suy nghĩ và trái tim xao xuyến.


Posted in DVD Reviews | Tagged: , , | Leave a Comment »

(Short review) Một số bộ phim của đạo diễn Todd Haynes

Posted by phuongcobain on 23/11/2008

imnotthere1

I’m not there (2007)

Đạo diễn : Todd Haynes
Diễn viên : Cate Blanchett, Richard Gere, Heath Ledger, Christian Bale
Thể loại : Biography / Music / Drama / Experimental
vCritic : Phuongcobain – Đánh giá : 4/5*

Thể loại phim tiểu sử nhân vật nói chung, đặc biệt là tiểu sử ca sĩ / nhạc sĩ nổi tiếng nói riêng, luôn là một thử thách lớn đối với các nhà làm phim tại Hollywood. Để giới thiệu tới khán giả một cách cô đọng và hấp dẫn nhất cuộc đời của họ trong khoảng 2 tiếng đồng hồ quả là một công việc rất khó. Tuy nhiên, không vì thế mà có ít phim tiểu sử được làm ra.

Trong một thập kỷ trở lại đây, cứ mỗi năm người ta lại tung ra một tác phẩm thuộc thể loại này nhằm tôn vinh hay để tưởng nhớ tới các ca sĩ / nhạc sĩ nổi tiếng như Ray (về Ray Charles), Last Days (Kurt Cobain), Walk the Line (Johnny Cash), La Vie en Rose (Édith Piaf). I’m not there kể về cuộc đời đầy biến động của Bob Dylan trải dài suốt mấy chục năm, từ khi còn bé xíu cho tới khi ông trở thành huyền thoại nhạc Folk của thế giới.

Rất nhiều ca khúc của Bob Dylan đã trở nên bất hủ và có sức ảnh hướng lớn cho tới tận ngày hôm nay như Knockin’ on heaven’s door, All Along The Watchtower, Blowing in the wind. Điểm đặc biệt trong I’m not there đó là có tới sáu diễn viên thể hiện hình tượng Bob Dylan qua các thời kỳ khác nhau. Trong đó nổi bật nhất chính là phần đảm nhận của nữ diễn viên Cate Blanchett. Chính nhờ vai Bob Dylan mà cô đã được đề cử giải nữ diên phụ xuất sắc nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 80 vừa qua. Đạo diễn bởi Todd Haynes (từng làm Far from heaven), I’m not there sẽ khiến nhiều khán giả phải mất ăn mất ngủ vài ngày sau khi thưởng thức.

( Nguoimau )

 


Superstar : The Karen Carpenter Story (1987)

Đạo diễn : Todd Haynes
Diễn viên : Barbie , Ken
Thể loại : short / biography / documentary / animation / experimental
vCritic : Youta – Đánh giá : 5/5*

Hiện nay đạo diễn Todd Haynes đã là một nhà làm phim có tiếng tăm (mặc dù có thể nhiều người không biết đến ông vì Haynes là một người làm phim indie và thử nghiệm), thế nhưng trước khi phim Superstar : The Karen Carpenter (S:TKCS) được đem chiếu ở Sundance và một số rạp phim nghệ thuật thì Haynes mới chỉ là một sinh viên điện ảnh mới tốt nghiệp, và bộ phim đặc biệt này đã làm nên sự nghiệp cho ông. S:TKCS dài 43 phút, kể lại câu chuyện về sự thành công và chứng biếng ăn đã dẫn đến cái chết của danh ca quá cố Karen Carpenter và phần nào đó, bối cảnh xã hội Mỹ trong những năm 70.

Trong khoảng thời gian S:TKCS được chiếu, nó rất thành công và người ta đi xem nó không phải vì quan tâm đến Karen Carpenter mà là vì những diễn viên mà Todd Haynes sử dụng không phải người thật mà là búp bê Barbie và Ken. Rất tiếc, Richard Capenter không thích cách đạo diễn hư cấu về gia đình mình trong phim này, đồng thời vì phim sử dụng nhạc của The Carpenter không phép nên nó đã bị cấm chiếu kể từ năm 1990, hiện nay chúng ta chỉ có thể xem được nó qua mạng.

Đây là một bộ phim có tính chất thử nghiệm rất cao, không chỉ bởi vì nó sử dụng búp bê Barbie & Ken (một sự ẩn dụ về ngoại hình không tưởng của Barbie với nỗi ám ảnh về ngoại hình của Karen Carpenter). Rất khó để nói nó có phải là một phim tài liệu hay một bộ phim tiểu sử vì nó là sự pha trộn giữa các trường đoạn hư cấu với Barbie mà không khác gì các bộ phim thông thường qua các cách đặt máy quay rồi dolly máy .v.v… và các đoạn footage (bao gồm các các đoạn phim tư liệu , giả tài liệu và các đoạn phim mang tính biểu hiện được thực hiện rất sáng tạo). Đồng thời việc dựng phim và hoà âm cũng được làm rất tuyệt khiến cho S:TKCS rất đa dạng về mặt hình ảnh và âm thanh,làm phong phú thêm cho câu chuyện. Sự sáng tạo trong lối kể chuyện làm khán giả thích thú và nhớ đến nó như một tác phẩm biểu hiện, hơn là sự xúc động với cuộc đời của Karen Carpenter (nhưng cũng không thể phủ nhận giọng ca của cô cất lên trong câu chuyện của chính cô cũng đem lại những cảm xúc rất đặc biệt).

S:TKCS là một bài học rất hay về việc kể chuyện qua một bộ phim với bất kỳ một người làm phim nào.

 

 

Posted in On Screen | 1 Comment »