RSS

Monthly Archives: January 2009

Một số bộ phim Châu Á có chủ đề tình yêu

vCritic : Youta

Isabella (2006, Hồng Kông)

Đạo diễn : Pan Ho-Chueng

Diễn viên : Chapman To , Isabella Loeng

Thể loại : Drama / Romance

Đánh giá : 4 /5*


Đạo diễn Pan Ho-Chueng (Edmond Pang) là một nhà làm phim có khả năng sáng tạo rất cao người Hồng Kông, các phim của anh đạo diễn hoặc viết kịch bản thưởng rất thông minh và ấn tương. Sinh năm 1973, một nhà làm phim trẻ nhưng sẽ là một người khổng lồ tương lai. Isabella là bộ phim Pang trình làng năm 2006, tuy dán mác Hồng Kông nhưng lại kể chuyện ở Ma Cao.

Một cảnh sát kiêm playboy kiêm luôn cả xã hội đen tên là Shing lôi được một cô gái tên Yan về nhà ngủ qua đêm, sẽ là chuyện bình thương nếu như cả ngày hôm sau cô gái không bám theo Shing như hình với bóng và cuối cùng tiết lộ cô là con gái của anh ta với mối tình sâu nặng thời còn trẻ. Shinh phải từng bước chấp nhận sự can dự của cô con gái trên trời rơi xuống này vào cuộc sống playboy của mình … Hai nhân vật chính trong phim là những người bị mối tình trong quá khứ ám ảnh sâu sắc, và họ đến gần với nhau qua cái  ám ảnh đó, về cuối phim  mối quan hệ của họ sẽ trở nên gắn bó hơn cùng với những điều bí mật mới được tiết lộ. Hai diễn viên chính đóng rất đạt, nhất là Shing do Chapman To (một gương mặt phụ quen thuộc trong các phim xã hội đen) thể hiện, còn cô ca sĩ Đài Loan Isabella Loeng cũng đem lại cho khán gải những giây phút rất thú vị vì những hành động trẻ con đáng yêu của nhân vật Yan . Phim đặt trong bối cảnh Ma Cao sắp được trả về cho Trung Quốc năm 2001, tuy nhiên sự thay đổi này không có ảnh hưởng gì đến số phận của hai nhân vật chính, có lẽ chỉ là một ẩn dụ về sự thay đổi hoàn toàn cuộc đời của họ mà thôi.

Đạo diễn Pang đã dùng những góc mấy hết sức đẹp để kể lại câu chuyện này, không chỉ đẹp vì khung cảnh nên thơ của đảo Ma Cao mà còn là những bố cục, tương phản ,ánh sáng, chuyển động máy quay tuyệt vời, những hình ảnh trong phim hiện lên đầy cảm xúc, đầy chất thơ . Đặc biệt phần âm nhạc đã đoạt giải Gấu Bạc cho nhạc phim tại LHP Berlin 2006 thì không thể chê vào đâu được. Isabella cũng được đề cử giải Gấu Vàng nhưng không thành công.



A love of blueness
(2000, Trung Quốc)


Đạo diễn : Hou Jian-qi

Diễn viên : Pan Yueming , Yuan Quan

Thể loại : Romance / Drama / Mystery

Đánh giá : 4,5 /5*


Đạo diễn Hou Jian-qi sinh năm 1958 là một nhân vật thuộc thế hệ thứ 5 của điện ảnh Trung Quốc, ông đã gặt hái được nhiều giải thưởng quốc tế nhưng chắc chắn tên tuổi không nổi đình đám như các bạn đồng môn Trần Khải Ca hay Trương Nghệ Mưu, phim của Hou cũng không mấy thành công về thương mại, nhưng điều đó không làm Hou quyết định ngừng làm những bộ phim tuyệt vời mà ông thường thực hiện.

A love of blueness là câu chuyện về hai thanh niên trẻ ở một thành phố Trung Quốc, Lin là một cảnh sát hình sự mới vào nghề tiếp bước người cha sau khi thi trượt trường Mỹ thuật, một lần tình cờ anh ta cứu một cô gái định nhảy cầu tự tử. Cô gái nói rằng cô ta đã giết bạn trai nên Lin đưa cô gái về đồn ngay lập tức. Đúng lúc đó có một vụ án mạng thật, nhưng cuối cùng nạn nhân lại là phụ nữ. Qua một đêm , cô gái thú nhận mình là Yun, một diên viên kịch và chỉ là nói đùa với anh cảnh sát trẻ mà thôi. Vài ngày sau Yun đến tìm Lin, nhờ anh tìm giúp một người tên là Mã Bạch Câu, đó là người yêu cũ của mẹ cô, bà đang bị mất trí vì tai nan, cô hi vọng sẽ giúp cho mẹ cô bình phục. Một cô gai xinh đẹp thì không thể từ chối, sau vài ngày tiếp xúc hai thanh niên này đã yêu nhau từ lúc nào không hay . Và câu chuyện sẽ chỉ là như vậy nếu như  người đội trưởng của Lin không nói với anh rằng, Mã Bạch Câu là nghi phạm bỏ trốn của một vụ án giết cảnh sát bí ẩn tử 20 năm trước …

Đây là một câu chuyện tình yêu , phải nói là hai câu chuyện mới đúng xảy ra quanh một vụ án mạng, chính cái bí ẩn này khiến người xem bị hấp dẫn cho đến cuối, và khi điều bí ẩn được bật mí thì cũng thật hết sức bất ngờ, quá khứ của người mẹ và hung thủ của vụ án được làm sáng tỏ trong sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người. Cách kể chuyện cực kỳ thú vị, xen kẽ những màn kịch hiện đại  mang hơi hướm performance art cùng với những khung hình đậm chất lãng mạn. là dấu ấn của đạo diển Hou Jian-qi . Không chỉ là vì điều bí ẩn, bộ phim còn hấp dẫn ở cuộc tình của LinYun, với đầy đủ cung bậc đam mê, giận dỗi, tin tưởng, nghi ngờ được thể hiện qua diễn xuất không thể chê của Phan Việt MinhViên Tuyền, hai gương mặt trẻ trung đáng yêu .



Undo (1994, Nhật Bản)


Đạo diễn : Shunji Iwai

Diễn viên : Etsushi Toyokawa , Tomoko Yamaguchi

Thể loại : Romance / Thriller

Đánh giá : 5 / 5*

Không có gì nghi ngờ khi Shunji Iwai là một tên tuổi khá nổi bật tại một đất nước có quá nhiều tài năng là Nhật Bản. Sinh năm 1963, làm phim hơn 10 năm, Iwai luôn làm những bộ phim xuất sắc và còn đa tài viết cả nhạc phim. Những bộ phim ấn tượng nhất của Iwai có thể kể đến Swallowtail butterfly (Yentown) hay All about Lily Chou-chou vì sự khốc liệt và táo bạo đến quái đản, ngoài ra anh cũng làm một số bộ phim tình cảm khá ăn khách như Love letters. Tuy nhiên Undo, bộ phim nhựa đầu tay dài 45′ của Iwai lại là sự kết hợp giữa cả 2 phong cách của anh , quái đảnlãng mạn , và đó chỉ có thể là tuyệt hảo.

Câu chuyện cực kỳ đơn giản, một đôi tình nhân đang có vấn đề trong tình cảm , xuất phát từ những sự việc tưởng chừng như vô cùng nhỏ nhoi. Cô gái , với một tính cách có phần trẻ con bắt đầu có những biểu hiện không bình thường : cô ta ngồi buộc dây tất cả những đồ vật trong nhà và buộc cả chính mình. Chàng trai đưa cô đi khám tâm thần và bác sĩ kết luận cô gái mắc Triệu chứng ám ảnh thắt nút buộc dây, bác sĩ khuyên chàng trai rằng cô gái không cảm thấy an toàn và anh hảy thử trói cô thật chặt. Nhưng vấn đề là liệu chàng trai có thể (hoặc có muốn) buộc chặt hay không ?

Bộ phim rất ngắn và câu chuyện cũng đơn giản nhưng tạo ra một ẩn dụ có ấn tượng mạnh mẽ : những sợi dây trói  và mối ràng buộc của quan hệ tình cảm. Để thể hiện nội dung này, Iwai đã sử dụng những hình ảnh installation art hết sức ấn tượng : những đám dây nhằng nhịt, rối vào nhau từ sự “sáng tạo” của cô gái tâm thần . Ánh sáng tương phản mạnh trong nội cảnh tông vàng sẫm, những bố cục bức bối của khung hình, tạo ra một không khí vừa lãng mạn vừa đen tối, rờn rợn. Một bộ phim có khả năng ám ảnh lâu dài , một ví dụ tuyệt vời cho việc người ta có thể tạo ra một kịch bản với sức căng tâm lý rất lớn từ những tình tiết vô cùng lặt vặt, một viên ngọc quý hiếm gặp.



Yi yi : A one and a two (2000, Đài Loan)


Đạo diễn : Edward Yang

Diễn viên : Wu Nien Jen, Elaine Jin, Kelly Lee

Thể loại : Family / Drama / Romance / Comedy

Đánh giá : 5 / 5*


Edward Yang (Dương Đức Xương) là một trong ba nhà làm phim nghệ thuật tiên phong của Đài Loan (tề danh cùng Hầu Hiếu Hiền và Thái Minh Lượng), sinh năm 1947, ông là nhà làm phim gạo cội đã làm phim trên 20 năm , đề tài thường chọn của ông là đời sông của con người đô thị Đài Loan hiện đại. Đã từng là một kỹ sư máy tính có bằng Ph.D tại Mỹ nhưng lại đam mê làm phim từ tận đáy lòng, có lẽ chính cuộc đời ông đã tạo cảm hứng cho ông bắt đầu kịch bản của Yi yi :

Đó là cuộc sống của một gia đình Đài Loan và những biến cố của cuộc sống thường nhật đến với họ, có biến cố nhỏ, có biến cố lớn, có biến cố nghiêm trọng , bộ phim là cái nhìn của các thành viên trong gia đình với vấn đề riêng và chung, qua đó có cách giải quyết để trọn tình vẹn nghĩa. Tuy vậy, phim tập trung và 3 tuyến truyện chính, 3 câu chuyện về tình yêu : Cậu con trai út 10 tuôi đang bộc lộ thiên khiếu nhiếp ảnh và bắt đầu để ý một cô bạn nhỏ , Cô con gái 15 tuổi bắt đầu biết yêu nhưng lại là một cuộc tình lấp chỗ trống , và 2 đứa con này chính là hình ảnh phản chiếu của người cha, giám đốc một công ty phần mềm nhưng thực sự lại đam mê âm nhạc và có tài năng thực sự, ông chọn nghề kỹ sư vì cô gái ông yêu thủa xưa nhưng rồi cô gái đó lại ra đi. Ở tuổi trung niên với sự nghiệp đang trong lúc khủng hoảng, người vợ cũng bỏ đi tu,  bất ngờ ông gặp lại người yêu cũ, trong trạng thái chán nán, một ngọn lửa yêu thương lại bùng lên …

Mở đầu bằng một đám cưới, kết thúc bằng một đám ma , Yi yi là một bộ phim mô tả lại cuộc sống thường nhật và khá dài nên có thể nói là tính giải trí không quá cao, tuy nhiên vì đó là cuộc sống thường nhật nên người xem thường sẽ cảm thấy thân quen, dường như thấy bản thân mình trong đó, tiết tấu phim nhẹ nhàng nhưng cuốn hút về mặt tình cảm, một phim dành cho một tối yên tĩnh cộng với trạng thái tinh thần hướng nội của khán giả. Đây quả thực là một bộ phim dàn dựng công phu, dày dạn các chi tiết thú vị, có những trường đoạn hết sức xúc đông, có lúc lãng mạn mơ mộng và đôi khi lại thót tim khi nhân vật cận kề cái chết . Yi yi được giới phê bình đánh giá là một kiệt tác vì những ẩn dụ và cảm xúc rất nhân văn, đem lại cho Edward Yang danh hiệu Đạo diễn xuất sắc nhất tại Cannes 2000 và rất nhiều giải thưởng quốc tế .

Ông Edward Yang vừa qua đời năm 2007, cùng một mùa hè với Michelangelo AntonioniIngmar Bergman. Một năm mất mát của điện ảnh thế giới.


 
Leave a comment

Posted by on 28/01/2009 in Reviews

 

In Bruges (2008)

phkdcqmq2earor_m

Đạo diễn: Martin McDonagh
Diễn viên
: Colin Farrell , Brendan Gleeson , Ralph Fiennes , Clémence Poésy
Thể loại: Crime/Drama/Comedy/Thriller
vCritic: MinhThi – Đánh giá: 4/ 5 *

In Bruges chỉ mới là phim đầu tay của đạo diễn kiêm nhà viết kịch bản người Anh Martin McDonagh. Thế nhưng bộ phim này đã gặt hái được khá nhiều đề cử quan trọng của các giải thưởng lớn. Mới đây, In Bruges đã mang về một giải Quả Cầu Vàng hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho diễn viên Colin Farrell. Ngoài ra, In Bruges còn nhận được nhiều đề cử giải Bafta, trong đó có đề cử cho phim Anh hay nhất và một đề cử Oscar cho Kịch bản nguyên gốc xuất sắc nhất. Quả là những thành tích ấn tượng đối với một bộ phim độc lập.

In Bruges trước hết gây ấn tượng bởi bối cảnh của nó: thành phố Bruges xinh đẹp trong lòng nước Bỉ. Bruges với những viện bảo tàng cổ kính, những cây cầu thơ mộng, những dòng kênh êm đềm hẳn dễ dàng chinh phục những du khách khó tính tới đây vãn cảnh. Thế nhưng vẻ đẹp nao lòng của thành phố này không thể nào yên ủi trái tim trĩu nặng tội lỗi của một du khách trẻ tuổi. Đó là Ray (Colin Farrell thủ vai), tên giết người máu lạnh không chút do dự khi hạ sát một vị cha xứ già nhưng lại không thể tha thứ chính mình vì đã vô tình giết hại một cậu bé. Trái ngược với Ray, người bạn đường của hắn là Ken (Brendan Gleeson), một tên giết người khác, lại hào hứng với chuyến đi và xem đây như môt dịp để xả hơi và thưởng ngoạn cảnh đẹp. Chuyến đi của Ray và đồng sự được ông chủ của chúng là Harry Waters (Ralph Fiennes) tài trợ, nhằm mục đích giúp hắn nguôi ngoai sau vụ giết người bi kịch dẫn đến cái chết của đứa trẻ vô tội. Tuy nhiên, đằng sau sự tài trợ hào phóng này là một âm mưu đen tối khác.

Phần đầu của In Bruges có thể nói là phần hay nhất trong cả bộ phim, khi chất hài châm biếm rất đặc trưng của Anh được pha trộn hài hoà với tính bi kịch của hoàn cảnh và tâm lý nhân vật. Phần đầu phim vì thế  tuy mang không khí nặng nề u uất nhưng vẫn rất lôi cuốn với những đoạn hội thoại , những tình huống hài hước tinh tế giữa hai kẻ sát nhân . Tuy nhiên, càng về cuối phim, câu truyện càng trở nên u ám và nghiêm túc hơn , lộ rõ tính chất của một bộ phim hình sự điển hình dù vẫn điểm xuyết một vài tình huống gây cười .

Ngoài ra, người xem còn có dịp thưởng thức những cảnh quay rất đẹp không khác gì những thước phim quảng cáo du lịch về thành phố Bruges êm đềm và thơ mộng. Vẻ đẹp yên bình của thành phố ngập trong tiếng đàn dương cầm êm dịu ngân vang suốt bộ phim đã tạo nên một hiệu ứng tương phản rõ rệt.

Thành phố yên bình là thế, nhưng tâm trạng con người không chút bình yên. Trong khi Ray bị dằn vặt không dứt bởi tội lỗi mình vô tình gây nên thì Ken lại băn khoăn trước nhiệm vụ mới mà ông chủ hắn giao phó. Sự phức tạp trong tâm lý này khiến cho đôi bạn đường hiện lên như hai con người đáng thương hơn là những sát thủ máu lạnh. Bởi ngay cả những tên giết người đáng ghê tởm nhất cũng có thể có những nguyên tắc đạo đức chúng không muốn vi phạm.

Thành công đó là nhờ In Bruges đã có thể quy tụ được một dàn diễn viên đầy tài năng. Colin Farrell xứng đáng với giải Quả Cầu Vàng anh mới nhận khi khắc họa một tên giết người không thể tội nghiệp hơn. Brendan Bleeson với khuôn mặt buồn đầy biểu cảm gợi nhớ nhiều đến Gene Hackman trong bộ phim Scarecrow từng đoạt giải Cành Cọ Vàng năm 1973, trong đó Gene thủ vai một tên tội phạm mới ra tù bặm trợn, người bạn đường tận tụy của nhân vật do Al Pacino đóng. Với In Bruges, Brendan cũng nhận được một đề cử Quả Cầu Vàng cho Nam diễn viên xuất sắc nhất. Ralph Fiennes với vai Harry Waters tàn ác và đầy nguyên tắc càng khẳng định vững chắc tên tuổi của mình: một trong những diễn viên Anh tài năng nhất. Và In Bruges hẳn là một trong những bộ phim đáng nhớ với diễn viên trẻ người Pháp Clémence Poésy – cô bé Fleur Delacour trong phim Harry Potter. Clémence đóng vai một cô gái người Bỉ mà Ray tình cờ gặp và nảy sinh tình cảm.

* Trước In Bruges, Martin McDonagh đã đạo diễn và viết kịch bản phim, nhưng đó là một bộ phim ngắn. Phim này tên là Six Shooter, đoạt giải Oscar phim ngắn hay nhất năm 2006.

 
Leave a comment

Posted by on 28/01/2009 in Reviews

 

Tags:

Slumdog Millionaire (2008) – Câu chuyện cổ tích thời hiện đại

Đạo diễn: Danny Boyle
Diễn viên
: Dev Patel, Freida Pinto, Anil Kapoor, Irrfan Khan, Madhur Mittal
Thể loại
: Crime / Drama / Romance
vCritic: Selfish Driftwood – Đánh giá : 4/ 5


209761112

Jamal Malik chỉ còn cách 20 triệu rupee (tương đương hơn 400 ngàn USD) đúng một câu hỏi. Làm thế nào mà cậu ta có thể làm được điều đó?

A – Cậu ta ăn gian
B – Cậu ta may mắn
C – Cậu ta là một thiên tài
D – Đó là định mệnh

Tại đất nước Ấn Độ, trò chơi truyền hình Who Wants to be a Millionaire (chính là chương trình Ai là triệu phú tại Việt Nam) là một trong những cách giúp người ta có thể thoát được khỏi cảnh bần hàn và đổi đời nhanh nhất. Như đạo diễn Danny Boyle tiết lộ, các giáo sư, tiến sỹ hay các luật sư nơi đây thậm chí còn tìm cách che giấu thân phận thật của bản thân để có thể được tham gia trò chơi này cho nên độ khó của những câu hỏi tại Ấn Độ là cực kỳ cao. Chưa ai vượt qua được mức 600 ngàn rupee hết. Thế nhưng, tại Mumbai, 2006, chàng trai Jamal Malik, một “chaiwala” – người bưng bê cà phê và nước giải khát, có xuất thân từ những khu phố ổ chuột bẩn thỉu và tồi tàn nhất Ấn Độ đã vượt qua hết câu hỏi này tới câu hỏi khác, và đứng trước ngưỡng cửa thiên đàng.

Trở lại với câu hỏi đầu bài? Quá đơn giản, câu trả lời cuối cùng là A! Đó rõ ràng là cách giải thích đơn giản nhất. Làm gì có chuyện một chaiwala có thể thực hiện được một điều phi thường tới vậy? Có những sự vô lý đùng đùng trong lượt chơi của Jamal, bởi có câu hỏi một đứa bé Ấn Độ lên 5 được ăn học tử tế cũng hay nhưng Jamal thì không; còn có những câu hỏi ngang đánh đố người chơi, hoặc quá xa vời đối một người thất học và nghèo khó như Jamal thì cậu lại có thể trả lời ngon lành. Cảnh sát vào cuộc, họ tra tấn Jamal hòng bắt cậu khai ra mánh khóe gian lận.

Nhưng thực sự thì chẳng có mánh khóe nào ở đây hết. Đằng sau mỗi câu trả lời của Jamal đều là một câu chuyện gắn liền với cuộc đời cậu. Đó là những câu chuyện đau lòng, cả về tinh thần lẫn thể xác, trong cuộc đời Jamal. Quả đúng là đôi khi chẳng cần phải là một thiên tài để có thể trả lời được những câu hỏi trong cuộc chơi. Quan trọng hơn, Jamal tham gia trò chơi không phải vì tiền như bao người khác; mà chỉ đơn giản là muốn cho cô bạn gái từ thuở ấu thơ được thấy mình vẫn còn sống và chờ đợi cô.

Xuyên suốt cả cuộc chơi của Jamal, hay thực chất chính là 20 năm cuộc đời cậu, một bức tranh ảm đạm về đáy xã hội Ấn Độ, cả về cảnh sắc lẫn con người, được khắc họa rõ nét và chân thực khiến người xem phải thắt cả tim lại. Mỗi lần Jamal trả lời đúng câu hỏi và giải thích cho cảnh sát về lý do cậu biết câu trả lời, người xem vừa thấy hân hoan bởi cậu đang tới gần hơn được cái đích mà cậu hướng tới, nhưng cũng không khỏi quặn lòng bởi những gì mà cậu từng phải trải qua thật quá khắc nghiệt. Có lẽ chính bởi thế mà gương mặt của Dev Patel, người diễn vai Jamal Malik tuổi thanh niên, luôn có một cái nét nơm nớp và lo lắng gì đó rất khó tả. Nhưng cũng thật kỳ lạ, bởi ẩn dưới cái nét kỳ lạ đó lại là một niềm tin và ý chí phi thường vào định mệnh về cậu và cô bạn gái của cậu. Bởi thế, có 20 triệu rupee hay không có 20 triệu rupee, thì cậu vẫn sẽ là người chiến thắng, là “triệu phú của khu ổ chuột“.

Tất nhiên, trong phim không chỉ có một mình Jamal Malik mà còn những nhân vật đáng nhớ khác. Nếu như cô bạn gái Latika của Jamal không quá nổi trội, và chính là một phần nguyên nhân khiến cho người xem đôi lúc cảm giác tình yêu của Jamal dành cho cô là mù quáng thì nhân vật anh trai của Jamal là Salim lại ít nhiều khiến người ta nhớ lại Lil’ Ze trong City of God. Salim là một điển hình cho giai cấp bần cùng dưới đáy xã hội của Ấn Độ, thực hiện mọi thứ chỉ đơn giản vì tiền. Và bên cạnh Dev Patel, người xem sẽ không khỏi tưởng thưởng dàn diễn viên nhí đóng vai ba nhân vật Jamal, Salim và Latika thuở còn nhỏ. Chúng chính là những đứa trẻ bụi đời được đạo diễn Danny Boyle tuyển lựa và cho đi học một khóa tiếng Anh cấp tốc 3 tháng trước khi bộ phim bắt đầu khởi quay.

Bộ phim dựa trên cuốn tiểu thuyết Q&A của Vikas Swarup và được nhà viết kịch bản Simon Beaufoy chắp bút nên. Kịch bản phim, cho dù để lộ ra một sơ hở rất lớn, nhưng nhìn chung vẫn khá logic, hợp lý và không để thừa thãi bất cứ chi tiết nào cả. Đạo diễn Danny Boyle đã sử dụng thủ pháp đối lập một cách lão luyện, từ hình ảnh, màu sắc tới phần âm nhạc do  A.R. Rahman (kết hợp thứ âm nhạc truyền thống Ấn Độ với nhạc điện tử hiện đại) thực hiện giúp gây cho khán giả những cảm xúc rất mạnh.

Câu chuyện của Jamal Malik là một câu chuyện cổ tích thời hiện đại, có thể làm hài lòng cả những người yêu hay không yêu những kết cục có hậu. Không sa đà vào kể nghèo kể khổ, Slumdog Millionaire chỉ đơn giản ca ngợi tình yêu và khao khát giành được hạnh phúc của con người.

Và giờ đây, chính câu chuyện xoay quanh bộ phim Slumdog Millionaire cũng đang dần trở thành một câu chuyện cổ tích. Từ chỗ được dự tính phát hành trực tiếp dưới dạng DVD, bộ phim giờ đang trở thành ứng cử viên lớn nhất cho tượng vàng Oscar hạng mục Phim truyện xuất sắc nhất, vẫn trụ vững trong Top 10 phim ăn khách Bắc Mỹ với hơn 55 triệu USD thu về từ thị trường này. Khởi điểm từ liên hoan phim Toronto cho tới gần đây nhất là lễ trao giải Quả Cầu Vàng, Slumdog Millionaire đã gặt hái được 40 chiến thắng lớn nhỏ khác nhau, phim truyện xuất sắc nhất có, kịch bản hay nhất có, nhạc nền hay nhất cũng có… Với 10 đề cử Oscar (chỉ kém The Curious Case of Benjamin Button với 13 đề cử), đạo diễn Danny Boyle cùng các cộng sự khó có khả năng sẽ ra về tay trắng vào đêm ngày 22/2 tới đây. Hãy thử cùng chờ xem liệu cái kết đẹp nhất có đến với Slumdog Millionaire hay không!

 
Leave a comment

Posted by on 26/01/2009 in On Screen

 

Tags:

Gomorra (2008) – Nơi tội ác là cuộc sống

Đạo diễn : Matteo Garrone
Diễn viên : Toni Servillo, Gianfelice Imparato,
Thể loại : Drama / Crime
vCritic : V+ – Đánh giá : 5 / 5 *

Khi cả thế giới đang hướng toàn bộ sự chú ý về phía bên kia bờ Đại Tây Dương, bàn tán về kết quả lễ trao giải Quả cầu vàng và hồi hộp đón chờ danh sách đề cử Oscar của Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ, thì ở phía bờ “cựu lục địa”, trong một buổi lễ giản dị và ít được biết tới, người Châu Âu đã tìm ra được tác phẩm điện ảnh tiêu biểu của riêng mình. Bộ phim Gomorra của đạo diễn Matteo Garrone, chuyển thể từ quyển sách cùng tên của tác giả Roberto Saviano, đã được Viện phim Châu Âu trao tặng năm giải thưởng, bao gồm: phim hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, kịch bản chuyển thể hay nhất, nam diễn viên chính xuất sắc nhất và quay phim xuất sắc nhất. Trước đó bộ phim cũng đã đoạt giải thưởng lớn (Grand Prix) tại liên hoan phim Cannes 2008. 

Gomorra không có một cốt truyện xuyên suốt mà là tập hợp của năm câu chuyện nhỏ. Một thủ quỹ thiện tâm nhưng bị buộc làm việc cho một tổ chức tội phạm để rồi phải chịu sự nguyền rủa của láng giềng; một cậu bé chưa qua tuổi thành niên nhưng đã muốn trở thành tay chân của tội phạm đến nỗi bán đứng cả người thân; một thợ may bậc cao vì thiếu tiền nên phải lén lút truyền nghề cho đối thủ cạnh tranh với xưởng may nơi mình làm việc; một cử nhân mới ra trường phải chứng kiến công việc của mình đang đẩy người dân vào bước đường cùng; và câu chuyện về hai thanh niên khao khát có được sự tôn trọng trong thế giới tội phạm. Năm câu chuyện hoàn toàn độc lập, với những tuyến nhân vật riêng, tuy nhiên tất cả lại không làm mạch phim trở nên rời rạc, bởi đạo diễn Matteo Garrone đã khéo léo vận dụng yếu tố tội ác như một chất keo dính để liên kết cả năm câu chuyện thành một thể thống nhất.  

Lấy bối cảnh thành phố Napoli thời hiện đại, Gomorra có cách thể hiện như một bộ phim tài liệu miêu tả xác thực hoạt động của những băng nhóm buôn ma túy xuyên quốc gia, những cuộc thanh trừng giữa các tổ chức tội phạm, sự cạnh tranh đẫm máu của những ngành nghề vô hại như may mặc,… Tội ác trong Gomorra không chỉ được gây ra bởi những kẻ khát máu mà còn bởi những doanh nhân lịch lãm tìm mọi cách đẩy người nông dân ra khỏi đồng ruộng để lấy đất chôn chất thải độc hại, và bởi cả những quan chức mục ruỗng bị mua chuộc để làm ngơ. Gomorra đã buộc tội tiền bạc chính là căn nguyên của tất cả tội ác này. Đạo diễn Matteo Garrone đã đặc tả không sót một cuộc thanh toán tiền mặt nào với gần như đầy đủ mệnh giá và sắc thái của đồng Euro: mới, cũ và vấy máu. 

Mặc dù mật độ bắn giết trong Gomorra khá dày đặc, thế nhưng không giống nhiều đạo diễn khác, Matteo Garrone thể hiện bạo lực một cách tự nhiên mà không kiểu cách hóa nó. Matteo thậm chí còn giảm thiểu tối đa mức bạo liệt trong từng cảnh bắn giết. Hầu hết những trường đoạn thanh toán đẫm máu giữa các nhóm tội phạm trong phim đều không sử dụng nhạc nền kịch tính mà thay vào đó là những ca khúc pop nhẹ nhàng hoặc những điệu nhạc nhảy sôi động. Bằng cách đó, Matteo Garrone không định kích thích giác quan của khán giả, mà muốn mang đến cho họ trải nghiệm về những gì đang thực sự diễn ra ở Napoli, nơi tội ác và bạo lực cũng chỉ bình thường như bất kỳ hoạt động xã hội nào khác, và chính sự bình thường đó mới là bi kịch mà Matteo muốn xây dựng. Cách đây không lâu, đạo diễn bậc thầy của thể loại phim bạo lực gai góc, Martin Scorsese, đã đích thân đứng tên phát hành Gomorra tại Mỹ, có lẽ ông đã tìm thấy được một sự đồng cảm nào đó trong phong cách làm phim của người đồng nghiệp trẻ. 

Giữa muôn trùng tội ác, Gomorra vẫn được gài gắm thêm những khoảng lặng để người xem tạm thoát khỏi sự chân thực đau đớn để suy ngẫm: đó là cảnh người thủ quỹ lật đật bước qua những xác chết để chạy trốn khỏi công việc tội lỗi của mình; đó là cảnh người thợ may, lúc này đã bị đẩy khỏi công xưởng để làm tài xế xe tải, lặng nhìn chiếc váy của mình trên người nữ diễn viên Scarlett Johansson; và đặc biệt là cảnh hai thanh niên trần trụi điên cuồng xả đạn không mục tiêu để trút bỏ những bế tắc trong cuộc sống. 

Bộ phim kết thúc mà không có tội ác nào phải trả giá, chỉ có những con người vô tội sống trong vòng vây của nó là phải trả giá. Ở cuối phim có lời giới thiệu, tiền thu được từ những hoạt động bất chính của các tổ chức tội phạm này sẽ được đầu tư vào những dự án lương thiện, trong đó có dự án tái thiết tòa tháp đôi tại New York. Quả là thực tế mỉa mai, một công trình bị tội ác khủng bố phá sập lại được tái thiết bởi những tội ác khác. Nếu coi đó là một thông điệp thì Gomorra không còn diễn ra trong phạm vi Napoli và nước Ý nữa, cái ác sẽ mãi như một vòng lặp không có điểm kết thúc, và con người buộc phải coi nó là một phần của cuộc sống.

Thể thao Văn hóa

 
Leave a comment

Posted by on 12/01/2009 in Reviews

 

(Những bộ phim bị đánh giá sai) Street of Fire (1984)

Đạo diễn : Walter Hill
Diễn viên : Micheal Paré , Diane Lane, Willem Dafoe, Amy Madigan
Thể loại : Action / Music / Romance
vCritic : Youta – Đánh giá : 4 / 5 *

Có lẽ đây một bộ phim đã bị lãng quên giữa những Mad Max, Terminator, Blade Runner … những phim hành động nổi tiếng và rất hay của thập niên 1980. Đạo diễn Walter Hill , một tài năng của Hollywood đã định biến nó thành một blockbuster mùa hè năm đó để cuối cùng nhận kết quả là phim chỉ thu về 8 triệu / 14,5 triệu dollar kinh phí. Tuy nhiên bù lại, nó vẫn trở thành một dạng cult movie trong lòng những người trót hâm mộ nó. Và như vậy là công bằng đôi chút cho một bộ phim cũ vì nó thật sự rất tuyệt .

Streets of fire là sự kết hợp giữa drama, action kiểu phim cao bồi , romancerock’n'roll. Nhưng sự thực thì nó cũng không phức tạp như thế, nó chỉ đơn giản là : một tay trùm băng motor bắt cóc một cô ca sĩ nhạc rock và bạn trai cũ của cô này đến cứu . Một câu chuyện tình cảm rất dễ thương và đơn giản, chẳng có gì cần phải động não ở đây, thế nhưng xem một phim như Streets of Fire mà chỉ chú ý xem mọi sự sẽ ra sao thì bạn sẽ mãi mãi thất vọng vì cái bạn nên chú ý đó là sự tinh tế của thiết kế, sự sắc sảo của những khuôn hình tuyệt đẹp, sự kỹ lưỡng của đạo diễn và một lối cắt cảnh có thể gọi là tiền thân của phong cách dựng phim MTVstyle hiện nay đã tạo ra một nhịp phim nhanh, gọn, đẹp cho bộ phim này (nếu Hill bắt đầu là đạo diễn phim muộn hơn một chút, ông hẳn sẽ trở thành môt đạo diễn clip ca nhạc  tuyệt vời) . Các nhân vật chúng ta hoạt động trong một thành phố giả tưởng (có rất nhiều cảnh quay trên thực địa của Chicago), một thời điểm giả tưởng với những chiếc xe 1950 Studebakers , những thứ quần áo, đồng phục cảnh sát, đầu tóc, tất cả đều gợi nhớ đến thập niên 50 . Đó là một hành phố đẫm nước mưa, sống dưới bóng đổ của những đường ray tàu điện và hít thở không khí của những đêm sáng đèn neon đầy chất rock’n'roll . Đúng vậy, trên tất cả đó là rock’n'roll , đúng như dòng chữ mà người ta đã ghi lên tất cả các poster : Streets of Fire : a rock’n'roll fable, chỉ có thể nói rằng nếu Streets of Fire của Walter Hill có thể trở thành cult movie thì phải đến 60% đóng góp của phần soundtrack hoàn mỹ.

Một trong những người đứng sau phần âm nhạc là một cái tên đáng nhớ : nhạc sĩ Jim Steinman – người đã sáng tạo ra dòng nhạc Wagnerian rock , sự kết hợp giữa nhạc kich của Wagner và rock’n'roll , mà có thể chúng ta sẽ rất quen thuộc với các nghệ sĩ một thời như Meat Loaf, Bonnie Tyler … và những bài hits do chính Steinman sáng tác như : Total eclipse of the heart, I’d do anything for love (but I won’t do that), It’s all coming back to me now hay Making love out of nothing at all. Và những gì mà Jim Steinman làm trong Streets of Fire là những bài hát như thế , đó chính là những giai điệu và lời ca Wagnerian rock tuyệt vời, thành ra Streets of Fire trở nên một bộ phim với không khí 1950 sống trong âm nhạc 1980, một trải nghiệm không tồi . Những bài hát như Tonight is what it means to be young, No where fast và bài hit I can dream about you ( sáng tác của Dan Hartman )… thực sự là những giai điệu khó quên.

Ca khúc Tonight is what it means to be young

Streets of Fire thất bại về doanh thu vì một kịch bản quá đơn giản ( được viết trong 10 ngày ) với một cái kết có phần buông thả, nhưng thật may nó không thất bại về chất lượng, một điều mà rất có thể đã xảy ra nếu không có tài năng của Walter Hill, xin cám ơn ông. Sự tươi tắn của bộ phim và những gì còn lại xứng đáng được xem không chỉ một lần. Diễn xuất của Micheal Paré hay Amy Madigan có thể hơi thiếu biểu cảm nhưng họ làm cho nhân vật của họ có những nét thực sự đáng yêu . Đáng yêu cũng chính là tính từ đúng nhất dành cho Street of Fire .

 
Leave a comment

Posted by on 11/01/2009 in On Screen

 

Năm Đinh Hợi, nói chuyện về phim con heo

vCritic: Phuongcobain

Vậy là một năm mới đã đến, năm Đinh Hợi, hay nói nôm na trong dân gian là năm con heo, con vật được cho là lười biếng, suốt ngày chỉ biết quanh quẩn ăn với ngủ. Nhân dịp đầu năm mới, chúng ta hãy cùng nói chuyện về phim con heo. Bạn đừng vội giật mình, vì phim con heo ở đây không phải là thể loại phim rẻ tiền, không phải là cách gọi lóng của phim cấp 3, mà là những bộ phim trong đó có con heo làm nhân vật chính hoặc phụ, hay đơn giản chúng chỉ xuất hiện qua trong phim.

Nếu so với các loài khác thì heo không phải là mẫu con vật được các nhà làm phim ưa thích. Chuột chúng ta đã được thưởng thức qua những bộ phim như Stuart Little, Mouse Hunt. Rồng là con vật thiêng liêng theo quan niệm của người Châu Á, thật hung tợn, khủng khiếp theo quan niệm của người phương tây nên chúng cũng xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm như The Lord of the Rings, Dragon Heart, Eragon, Reign of Fire. Đặc biệt là chó và mèo, những con vật nuôi dễ thương, gần gũi với con người trong nhà, vì vậy chúng luôn được các nhà làm phim tập trung khai thác, có thể kể đến Cats and Dogs, 101 Dalmations, Garfield: the movie, Wallace and Gromit, Eight Below, Must love Dog

large_12732Có lẽ vì heo là con vật nuôi để lấy thịt, lười biếng, ham ăn nên chúng ít được điện ảnh đoái hoài đến so với những con vật khác. Tuy nhiên, một khi chúng được xuất hiện trên màn ảnh rộng, heo luôn là con vật hết sức dễ thương, và thường là những chú heo nhỏ để lại ấn tượng tốt trong tâm trí khán giả. Không giống như chó và mèo đều là những con vật thông minh, gần gũi với con người nên rất dễ sai bảo, heo lại không có được những phẩm chất đó, khiến cho việc đóng phim trở nên đặc biệt khó khăn. Trước năm 1995, nếu như con heo được xuất hiện trong phim chỉ đơn thuần là vật làm cảnh cho con người, hoặc sự đóng góp cũng không có gì đặc biệt. Nhưng với bộ phim Babe chú heo chăn cừu (Babe – 1995), cuộc cách mạng đã thực sử mở ra, khi một chú heo con biết nói làm nhân vật chính trong phim.

Sau khi bị chia cắt khỏi gia đình, Babe lạc đến một trang trại mới. Buốn bã và chán nản tại một nơi xa lạ, nhưng cậu không cô đơn khi được một chú chó tốt bụng giúp đỡ như một thành viên trong gia đình. Vì còn nhỏ, nên khi phát hiện ra số phận cuối cùng của những con vật nuôi lấy thịt như heo, gà là ở trên bàn ăn của con người, Babe rất sợ hãi và muốn trở thành một thành viên của bầy cừu vốn được chăn thả để lấy lông chứ không bị mổ lấy thịt. Cuối cùng, vô tình Babe đã trở thành chú heo chăn cừu đầu tiên giúp chủ đánh bại những chú chó khác để giành giải quán quân trong cuộc thi chó chăn cừu giỏi nhất thị trấn. Các con vật trong phim đều là thật, cùng sự giúp sức của kỹ xảo vi tính tuyệt vời, những nhà làm phim đã tạo nên chú heo chăn cừu Babe trên phim rất sinh động, đặc biệt là cử động của miệng rất khớp với lời nói. Một cốt truyện thông minh, dễ thương, phù hợp với mọi đối tượng khán giả đã khiến tác phẩm của Australia này được đề cử giải phim hay nhất, đoạt giải hiệu quả hình ảnh xuất sắc nhất tại lễ trao giải Oscar năm 1996. Tiếp nối thành công trong quá khứ, ba năm sau, phần II Babe: pig in the City được tung ra và chú heo con cũng đem về thành công đáng kể cho đoàn làm phim đến từ xứ sở Kanggaru. Trong suốt quá trình quay, vì Babe lớn quá nhanh nên các nhà làm phim đã phải sử dụng tới 48 chú heo con để đóng nhân vật này.

charlotteswebNăm 2006, Hollywood đã tung ra một tác phẩm dành cho thiếu nhi cũng nói về heo hết sức dễ thương, với sự xuất hiện của ngôi sao nhí Dakota Fanning, có tựa đề Charlotte’s Web. Cô bé Fern Arable (Dakota Fanning đóng) sinh ra và lớn lên tại một trang trại nước Mỹ. Khi lứa lợn mới được sinh ra, cô bé đã xin cha một chú heo con để nuôi làm bạn trong nhà. Fern và chú heo Wilbur nhanh chóng trở thành “cặp bài trùng” thân thiết. Nhưng thời gian thấm thoát trôi đi, Wilbur ngày càng lớn lên, và chú được chuyển đến cho một nông dân nuôi. Mặc dù vẫn được Fern thường xuyên đến chăm sóc, nhưng Wilbur nhanh chóng nhận ra số phận cuối cùng của chú cũng như những con heo khác là ở trên bàn ăn tối của con người. Những gia súc trong trang trại, đặc biệt là nàng nhện cái Charlotte tốt bụng đã hết sức giúp đỡ Wilbur an toàn để mãi là bạn của con người. Được chuyển thể từ tiểu thuyết kinh điển cùng tên dành cho thiếu nhi của nhà văn E.B White, Charlotte’s Web có sự tham gia lồng tiếng của rất nhiều ngôi sao lừng danh tại Hollywood như: Robert Redford, Oprah Winfrey, Kathy Bates, Julia Roberts…

Khán giả đã từng thưởng thức bộ phim Những cô gái chân dài của đạo diễn Vũ Ngọc Đãng, hẳn sẽ vẫn còn nhớ chú heo mọi do nhân vật của người mẫu Anh Thư mang từ quê lên dễ thương thế nào. Đặc biệt trong cảnh quay Minh Anh phải đuổi theo để tóm lấy chú heo mọi rất vất vả, chắc hẳn đạo diễn đã phải “đốt” phim khá nhiều.

Phải nói rằng, ngày nay, khi mà kỹ xảo vi tính có những bước phát triển tột bậc đã giúp sức rất nhiều cho điện ảnh, khiến cho trí tưởng tượng, dù là xa với nhất của khán giả đều có thể được thoả mãn. Nếu như trước kia để huấn luyện cho một chú heo đóng phim như một diễn viên (điều này dễ dàng hơn nếu là chó hoặc mèo) là một điều bất khả thi, thì nay chúng đã có thể đi lại, nói năng, hành động i như thật. Mặc dù không được yêu chuộng và quý mền bằng những động vật nuôi trong nhà, nhưng mỗi khi xuất hiện trên màn ảnh rộng, heo luôn luôn là con vật dễ thương, dễ làm mủi lòng khán giả. Trong những ngày tết đấm ấm vui vẻ này, khi chúng ta thưởng thức những món ăn được chế biến từ thịt heo, xin quý vị khán giả yêu thích nghệ thuật thứ bẩy hãy nhớ tới Babe, Wilbur… những diễn viên thật đặc biệt trong lịch sử phát triển điện ảnh.

(Thanhnien)

 
1 Comment

Posted by on 10/01/2009 in Features

 

(Những bộ phim bị đánh giá sai) Speed Racer (2008)

Đạo diễn : Andy Wachowski , Larry Wachowski
Diễn viên : Emile Hirsch, Christina Ricci, Susan Sarandon, Bi Rain
Thể loại : Action / Sport / Family / Comedy
vCritic : Youta – Đánh giá: 4,5/ 5*


Speed Racer là bộ phim do anh em nhà Wachowski (làm phim The Matrix) viết kịch bản và đạo diễn, chuyển thể từ series phim anime cùng tên rất nổi tiếng vào những năm 1960. Phim kể về một thiên tài lái xe chiến đấu vì sự trong sáng của thể thao và sự an toàn của gia đình …. (xin mời xem phim).

Speed Race đã thất bại về doanh thu và nhận không ít những lời chê bai nhưng chắc chắn sẽ trở thành cult film,điều đó có lý do của nó. Về mặt câu chuyện thì phim hoàn toàn không có gì đặc sắc ,nó không nhảm nhí nhưng là phim dành cho thiếu nhi 100% ,thật khó nếu như đòi hỏi phim thiếu nhi phải phức tạp như The Matrix, hoặc chí ít là như V for Vendetta . Chỗ đặc sắccủa Speed Racer là phần thiết kế hình ảnh và  không khí chung của toàn phim. Sự thực là đôi khi câu chuyện chưa phải là tất cả đối với một bộ phim .

Nhều người đã chê “kỹ xảo dở tệ“, điều này thì cũng nên suy nghĩ , kỹ xảo CGI ngày nay không phải là cái gì ghê gớm cả , mà với kinh phí 120 triệu $ , không lý nào anh em nhà Wachowski lại không thể làm được kỹ xảo nhìn “đẹp như thật” mà lại làm như Speed Racer mà chúng ta đã thấy ? Câu trả lời là họ cố tình làm như vậy, chính vì họ cố tình cho nên những lỗi rất thường thấy ở phim hoạt hình nhiều tập ngày xưa (do phải sản xuất nhanh, kỹ thuật đồ hoạ vi tính chưa có) như : sai phối cảnh, giản lược động tác , lặp chuyển động … khi được người ta mô phỏng lại đúng ý như thế trong phim Speed Racer lại trở thành rất hay. Đồng thời những “lỗi hoạt hình” đó cộng với một số trường đoạn giống như cutout animation (phim hoạt hình cắt dán) , khi xuất hiện trong một phim live-action, lại tao ra hiệu quả mộng mị (dream-like), khiến nhiều trường đoạn trong Speed Racer rất siêu thực (surreal).

Điểm hay nữa là cảm giác cực kỳ ép phê mà bộ phim này tạo ra được trong các đoạn đua xe. Đường đua độc đáo, lạ lùng và rất nguy hiểm là nơi Speed Racer đua xe với tốc độ nghẹt thở. Thiết kễ kỹ, triển khai kỹ, ghép dựng phim lại càng kỹ, rất đồng bộ từ đầu đến cuối, làm đuợc việc này cần những đạo diễn phim giỏi chuyên môn thực sự mới có thể điều khiển , kết nối tất cả những công tác này . Cảm giác thích thú , vui vẻ khi xem cho đến cuối phim là cái mà  những nhà làm phim muốn tạo ra ở đây.

Những scene đua xe rất hấp dẫn

Ngoài ra, khán giả Châu Á vốn quen thuộc với Bi Rain cũng không nên nghi ngờ khả năng diễn xuất của chàng ca sĩ này. Anh đã từng đóng rất hay trong bộ phim I’m a Cyborb, but that’s OK của đạo diễn danh tiếng người Hàn Quốc Park Chan Wook . Lần này anh  đã nhập vai tay đua người Nhật Taejo cũng rất không tồi dù nhân vật này thực sự là một vai phụ.

Bỏ qua cốt chuyện đơn giản (nhưng không ngốc nghếch), Speed Racer thực sự là một bộ phim độc đáo của năm 2008.


 
Leave a comment

Posted by on 10/01/2009 in Reviews

 

Hoạt hình và Nhạc cổ điển

vCritic : Youta

Ai cũng biết rằng những người đầu tiên khai sáng ra nghề làm phim là anh em nhà Lumiere và ngài Thomas Edison đáng kính, và chắc chắn tất cả chúng ta còn rõ hơn rằng, nhũng phát minh vĩ đại của họ xuất phát từ một nguyên lý đã được ứng dụng từ rất lâu cho những trò chơi con trẻ, một trong các ví dụ là tấm bìa 2 mặt có chú chim và chiếc lồng , hoặc như tôi nhớ lúc còn nhỏ, có một cuốn sách bé tí, cỡ bằng 1 bao diêm mà bọn trẻ rất thích, nếu như ta miết nhanh các trang vẽ sẽ được xem một trận đấu karate kịch liệt, hoặc một trong những trò nghịch của những chú học trò nhí nhố có chút hoa tay là vẽ những hình linh tinh trên các góc vở để chúng chuyển động thật khéo . Từ những hình vẽ động, cùng với sự phát triển của máy quay, máy ảnh ,máy vi tính, và tư duy sáng tạo của con người , đã phát triển thành một loại hình nghệ thuật với nhiều cách thức biểu hiện , từ hoạt hoạ cho đến búp bê, từ cắt giấy cho đến đất sét và mới nhất, tân tiến nhất là công nghệ tạo hình 3D . Thật khó để có thể nói hết cho thật rõ ràng, rành mạch về nghệ thuật hoạt hình hiện đại, nhất là về sức mạnh tư duy mà nó có thể đạt được. Hãy nói về hoạt hoạ, thể loại truyền thống và là nền tảng cơ bản của hoạt hình. Để được thừa nhận một nghệ thuật đích thực, con đường của hoạt hoạ lại khó khăn hơn đứa con điện ảnh của nó , ngay cả bây giờ đại đa số vẫn cho rằng nó giống như một trò chơi hơn. Chính vì như vậy mà các nghệ sĩ hoạt hình đã phải cố gắng rất nhiều để khẳng định vị trí cho công việc của họ. Và có một lần, một con người vĩ đại đã nảy ra một ý tưởng

Fantasia (1940) – Walt Disney


Cùng với sự phát triển của công nghệ, phim ảnh nói chung đã có trong tay một vũ khí mới – âm thanh stereo. Walt Disney, sau khi 2 bộ phim dài Snow White Pinochio đạt được thành công rực rõ đã chợt nghĩ : âm thanh stereo có thể đem lại cho phim âm thanh cực kỳ trung thực , tại sao lại không thử làm một thử nghiệm giữa hoạt hình và âm nhạc cổ điển ? và cuộc gặp gỡ bất ngờ taị một nhà hàng ở New York với nhạc trưởng trứ danh Leopold Stokowski đã khiến cho một trong những cột mốc của hoạt hình hiện đại hình thành, một ý tưởng mang tính tiên phong và cũng là bộ phim đầu tiên có phần âm thanh stereo trong lịch sử, nó được đạt tên là Fantasia . Walt và các cộng sự đã lựa chon ra một số các tác phẩm sau để kết hợp với hoạt hình , và đây là lần đầu tiên hoạt hình đứng sánh ngang với một thứ nghệ thuật được nhân loại tôn sùng và đóng vai trò người dẫn đường cho các khán thính giả đi sâu vào cảm nhận bản nhạc, tuy nhiên, những người thực hiện cũng hề nói rằng những gì họ vẽ ra chính là ý tưởng của các nhà soạn nhạc, chỉ đơn giản để cho trí tưởng tượng của họ thăng hoa

* Johann Sebastian Bach — Toccata and Fugue in D Minor (một đoạn video trừu tượng với sự chế biến ánh sáng mầu, bóng đổ của dàn nhạc và nhạc trưởng Leopold Stokowski)

* Pyotr Ilyich Tchaikovsky — Nutcracker Suite Op. 71a (Một đêm vũ hội của các tiểu tinh linh, hoa cỏ, nấm … nhưng không có chàng kẹp hạt dẻ nào xuất hiện cả)

* Paul Dukas — The Sorcerer’s Apprentice, (Khi chuột Mickey mất dần đi sự hâm hộ về tay anh chàng lắm mồm và hay gặp rủi Vit Donald , Walt Disney quyết định để chú chuột đóng vai chính trong đoạn phim này ) hết đoạn này có một đoạn phim mang tính lịch sử khi Mickey chạy lên chúc mừng nhạc trưởng Stokowski

* Igor Stravinsky — The Rite of Spring (sự tiến hoá của các sinh vật, và sự thống trị của loài khủng long kỷ Jura)

* Ludwig van Beethoven — 6th symphony in F, Op.68 “Pastorale – Đồng quê” (Với tinh thần đồng quê của bản nhạc, môt câu chuyện về tinh yêu của các thần dê, các centaur và nhiều sinh vật thần thoại khác)

* Amilcare Ponchielli — La Gioconda: Dance of the Hours. (Một khúc ballet hài hước với sự tham gia của các vũ công đà điểu, hà mã, voi và cá sấu)

* Phần cuối gồm 2 trích đoạn :

-Modest Mussorgsky — Night on Bald Mountain (con quỷ triệu tập những linh hồn chết từ dưới mộ, một đoạn phim đen tối và đáng sợ nhất và cũng là duy nhất trong lịch sử hãng Walt Disney)
-Franz Schubert — Ave Maria (Một buổi hành lế sáng)

Là người đóng vai trò tiên phong, chúng ta phải thừa nhận rằng, Fantasia đã vượt qua được một bước với tư duy đương thời và đưa hoạt hình lên một tầm cao mới. Thế nhưng vẫn phải nói về các nhược điểm : các tác phẩm trình bày dù đã được trích ra vẫn còn quá dài và các ý tưởng tạo hình vẫn còn chưa thật súc tích khiến cho các hình ảnh cuối cùng chỉ là một loạt những minh hoạ rời rạc. Và với tư cách là một bộ phim (chứ không phải một buổi hoà nhạc), Fantasia vẫn còn những điểm chưa ổn, và vì thế một thiên tài khác bắt đầu cảm thấy ngứa ngáy

Đánh giá : 4 / 5*

Allegro non troppo (1977) – Bruno Bozzetto


Đất nước Italia đã sinh ra đủ thứ thiên tài và trong số đó nảy ra một ngài animator có tên là Bruno Bozzetto. Nghệ sĩ Bozzetto mà nay đã có thể gọi ông là một bậc thầy lão thành nổi tiếng vì những bộ phim hoạt hình ngắn hài hước châm biếm rất điệu nghệ, ông có thể cà khịa  với tất cả bằng tính khôi hài đáng yêu của mình, kể cả lịch sử nhân loại. Là một người có tâm hồn trẻ chung, khi hoạt hình Flash bùng nổ trên mạng internet, Bruno, lúc đó đã 80 tuổi, cũng hăng hãi nghiên cứu và làm một số phim ngắn rất nổi trong cộng đồng mạng (Olympic, Italy vs EU …) . Tất nhiên năm 1977 thì Bozzetto chưa già đến thế, và vì ông còn khá trẻ nên máu ngang tàng khiến ông muốn “tuyên chiến” với Fantasia , nói vui vậy thôi, chứ thật ra Allegro non troppo cũng là một hành động để vinh danh những người tiên phong mà Bruno rất tôn kính. Nhưng nếu cứ cho rằng đó là một cuộc thi đấu thì tôi tin Allegro non troppo chiếm thế thượng phong và có thê hạ nock out đối thủ. Các đoạn phim được dẫn dắt bằng một bộ phim kiểu Fellini có nội dung như sau :

Một tay sản xuất phim nảy ra ý tưởng kết hợp hoạt hình với nhạc cổ điển (mặc dù nghe nói là có Prinsney nào đó ở Hoa Kỳ đã làm rồi) cùng với một tay nhạc trưởng độc tài (đồng nghiệp của ngài Stokowski trứ danh đây) lợi dụng một dàn nhạc toàn các bà cụ gần đất xa trời và một nghệ sĩ hoạt hình vốn đã bị chúng bắt cóc và giam cầm 5 năm để thực hiện cái dự án rất là tiên phong này. Nghệ sĩ bị ép buộc phải minh hoạ cho các bản nhạc sau :

* Claude Debussy – Prélude à l’après-midi d’un faune (đoạn này nhại lại phần về các sinh vật huyền thoại của Fantasia, một thần dê già nhung vẫn còn yêu các người đẹp nhưng bị các nàng phũ phàng từ chối)

* Antonín Dvořák – Slavonic Dance No. 7  (Một đoạn phim châm biếm tính bắt chước của con người với một cái twisted ending rất hài hước)

* Maurice Ravel – Boléro ( đoạn này nhại lại đoạn về sự tiến hoá của Fantasia, trái đất đã bị huỷ hoại và con người cuối cùng rời khỏi trái đất đã vứt lại một chai Coca, giọt Coca còn sót lại bắt đầu tiến hoá cho một giống nòi mới)

* Jean Sibelius – Valse Triste (trong một tổng thể hài hước, đây là một đoạn phim rất buồn, sâu lắng và đầy chất thơ)

* Antonio Vivaldi – Concerto in C Major (sau một đoạn phim quá buồn, nhà nghệ sĩ bị ép phải là một đoạn phim hài vô tư lự này, một chú ong bé nhỏ muốn soạn bàn ăn, nhưng một đôi tình nhân đang say đắm kiên quyết không cho chú thực hiện điều mong muốn đó)

* Igor Stravinsky – The Firebird (hài hước về ông bà Adam & Eva và trái cấm, đoạn phim này có nhại lại con Quỷ trong Fantasia)

Với phong cách hài hước vốn có và trình độ hoạt hình bậc thầy, các phim của Bozzetto không còn là những đoạn minh hoạ rời rạc cho âm nhạc mà nó thực ra là bắt âm nhạc minh hoạ cho mình. Với một chủ đề và dụng ý rõ ràng, Allegro non troppo không chỉ là vinh danh cho những người tiên phong mà còn là tuyên ngôn nghệ thuật cho một thời đại mới của hoạt hình. Buồn thay, bộ phim thất bại thảm hại khi công chiếu, chẳng ai thèm đi xem ngoại trừ những hoạ sĩ đã tham gia vào bộ phim này. Tuy vậy, Allegro non troppo vẫn được những người yêu hoạt hình trên thế giới coi như là một cột mốc của hoạ hình hiện đại.

Đánh giá : 4,5 / 5*

Fantasia 2000 (1999) – hãng Walt Disney


60 năm đã đủ để một thế hệ ra đi, Walt Disney vĩ đại đã qua đời từ lâu nhưng ý tưởng của ông ngày này vẫn cón có những tác động to lớn đến nghệ thuật hoạt hình, và hãng Walt Disney dù có mang tính thương mại cao thì vẫn cứ là nơi chứa chấp nhiều nghệ sĩ hoạt hình hàng đầu. Vì thế họ có đầy đủ lý do,nhân lực, vật lực đê thực hiện một buổi lễ kỷ niệm Fantasia không thể nào quên, mang tên Fantasia 2000, dù mất đến gần 10 năm để cho nó thật hoàn hảo . Chắc hẳn đã có tham khảo Allegro non troppo, người ta khoác cho Fantasia 2000 mọt chiếc áo hài hước, vui nhộn hơn, dù không châm chích như Bozzetto nhưng cũng vẫn rất hay vì giữ được vẻ đúng mực vốn có của Disney. Và dù có long lanh hơn vì được công nghệ hiện đại giúp sức, Fantasia 2000 vẫn nguyên tinh thần của những người đi trước : Sáng tạo và sáng tạo không ngừng . Đây là một loạt phim ngắn tuyệt vời , và các tác phẩm được trình bày là :

* Ludwig van Beethoven – Symphony No. 5 in c minor-I. Allegro con brio  (một đoạn hoạt hình mang tính trừu tượng với hình ảnh của bướm ,dơi trong thế giứoi của ánh sáng và mầu sắc )

* Ottorino Respighi – Pines of Rome (một phim rất siêu thực với bầy cá voi bơi lội trong không trung)

* George Gershwin – Rhapsody in Blue (Không có gì hợp hơn với chất blue/jazz của bản nhạc với câu chuyện về những người dân thành phố New York thời Khủng hoảng 1930, mỗi người đều có những bi kịch và ước mơ, rất vui và cảm động) .

* Dmitri Shostakovich – Piano Concerto No. 2 in F Major-I. Allegro ( kể lại câu chuyện Chú lính chì dũng cảm của Hans Thomas Andersen với một happy ending)

* Camille Saint-Saens – The Carnival of the Animals, Finale  ( một phim rất vui về một chú hồng hạc chơi yoyo)

* Paul Dukas - The Sorcerer’s Apprentice  (chính là đoạn phim cũ trong Fantasia, kết thúc là cảnh Mickey chạy lên chúc mừng nhạc trưởng Stokowski và bươc ra dưới hình dạng 3d để trò chuyện với người dẫn chương trình và giới thiệu anh bạn Donald, nhân vật chính của đoạn phim tiếp theo)

* Edward Elgar - Pomp and Circumstance – Marches 1, 2, 3 và 4   ( kể lại câu chuyện về ông Noah trong Cựu ước, Donald là người giúp việc cho ông Noah, đây là đoạn phim về tinh yêu của Donald và Daisy trong cơn Đại Hồng Thuỷ)

* Igor Stravinsky – Firebird Suite – bản của năm 1919  (câu chuyện về sự sống, cái chết và tái sinh, quy luật bất biến của tự nhiên thông qua cuộc chiến giữa Nũ chúa Xuân và con chim lửa )

Đánh giá : 5 / 5*

***

Từ ý tưởng ban đầu của Walt Disney là dựa vào nhạc cổ điển để thay đổi cái nhìn của công chúng với hoạt hình cho đến ngày hôm nay, chúng ta có thể nhìn thấy những bước tiến rất dài của bộ môn nghệ thuật này. Cùng một chủ để và có ít nhiền liên quan đến nhau, ba tuyển tập phim trên đây có thể minh hoạ lại phần nào chặng đường dài đó của hoạt hình . Những sự thay đổi về tư duy, những sự tiến bộ về kỹ thuật, tất cả những điều đó sẽ không xảy ra nếu như thiếu đi sự nhiệt tình và lòng ham muốn sáng tạo. Hi vọng một ngày nào đó, chúng ta sẽ được thấy những bộ phim hoạt hình Việt Nam cũng  có đủ khả năng chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả như những bậc tiền bối ấy.

 
1 Comment

Posted by on 10/01/2009 in Features, On Screen

 

Hayao Miyazaki – The Elder

vCritic : Youta

Nếu bạn hỏi ai đó rằng Hayao Miyazaki là ai thì có thể nhiều người không biết nhưng nếu bạn hỏi người đó có biết Spirited Away hay Princess Mononoke không thì có lẽ câu trở lời “Có” đến khá dễ dàng. Thực ra, nếu như ai đó quan tâm một chút thôi đến hoạt hình hoặc dòng phim anime Nhật Bản đều sẽ biết Hayao Miyazaki bởi vì đó là nghệ sĩ anime thành công nhất hiện nay tại Nhật, đồng thời là một nhà làm phim danh tiếng của thế giới … Nhân dịp bộ phim mới nhất của ông – Ponyon on a cliff – sắp ra mắt, xin được nói về con người này.

Photobucket
Phác thảo của Hayao Miyazaki cho Laputa the castle in the sky (1986)

Ai là Hayao Miyazaki ?

Sinh ngày 5/1/1941 tại Tokyo, Hayao là con thứ hai trong một gia đình có xưởng chế tạo máy, trong Thế chiến, xưởng này chế tạo cánh lái cho loại máy bay chiến đấu A6M Zero cho quân đội Nhật, vì thế máy bay là niềm đam mê cả đời của ông . Người đầu tiên ảnh hưởng đến tư duy của cậu bé Hayao chính là mẹ của ông, một người ham đọc sách và thường đặt câu hỏi đối nghi vấn với những điều thường được mọi người chấp nhận rộng rãi, tính cách hoài nghi này hay tạo nên những sáng tạo độc đáo và điều đó đúng với Hayao.

Ông trải qua thời niên thiếu trong những năm sau chiến tranh, đó cũng là thời điểm trỗi dậy của anime – thể loại phim hoạt hoạ đặc trưng của Nhật Bản , sự khởi đầu đó được đánh dấu bằng sự ra đời của hãng phim hoạt hình Toei Doga, hãng phim hoạt hình lớn đầu tiên của Nhật Bản năm 1948 . Thực ra, từ những năm 1917, ở Nhật Bản đã xuất hiện hoạt hình ở nhiều thể loại khác nhau như hoạt hoạ ,rối, đèn chiếu, búp bê .v.v… nhưng phải đến khi Toei ra đời và bắt đầu học theo cách tiếp cận khán giả của Disney và các hãng phim Hoa Kỳ, bằng việc sản xuất rất nhiều phim điện ảnh cũng như TV series có tính đặc trưng văn hoá rất cao, anime mới chính thức ra đời và từng bước chinh phục cả thế giới như một hiện tượng đặc biệt của văn hoá đại chúng. Những bộ phim đầu tiên của Toei thời đó như Hakujaden (năm 1958, đây là bộ phim anime điện ảnh có màu đầu tiên) có sức cuốn hút mạnh mẽ và đã tạo nên một thế hệ nghệ sĩ mới rất có ảnh hưởng sau này như Hayao Miyazaki, Go Nagai, Isao Takahata hay Leji Matsumoto .v.v… Tuy vậy, cũng phải nói thêm rằng, dù anime nổi tiếng thê giới nhưng tại Nhật cũng có rất nhiều nghệ sĩ theo đuổi các thể loại hoạt hình khác, ví dụ như Kihachiro Kawamoto, bậc thầy về phim búp bê.

Photobucket

Hakujaden (Truyện Bạch Xà) – Bộ phim anime có mầu đầu tiên


Sau khi tốt nghiệp trung học, giống như nhiều nghệ sĩ anime cùng thời, ông không được khuyến khích tham gia vào ngành công nghiệp còn rất non trẻ và bấp bênh này, theo ý nguyện của gia đình, Hayao tốt nghiệp đại học với tấm bằng về khoa học chính trị và kinh tế năm 1963. Tuy nhiên cũng năm đó Hayao tham gia vào Toei như là định mệnh không thể chối bỏ, mặc dù không học về mỹ thuật, nhưng bằng kinh nghiệm hội hoạ tự rèn luyện rất phong phú, Hayao nhanh chóng trở thành hoạ sĩ quan trọng của hãng này. Năm 1968, ông làm hoạ sĩ thiết kế chính cho phim Hol : Prince of the sunIsao Takahata làm đạo diễn, mở đầu cho sự cộng tác lâu dài giữa hai người trong hơn 30 năm sau này.
Photobucket
Future boy Conan (TV series)

Tuy nhiên, do bất đồng về quan điểm nghệ thuật với ban lãnh đạo Toei, Hayao và Isao Takahata rời hãng này năm 1971. Trong khoảng thời gian này, Hayao lần đầu tiên đạo diễn một TV series, đồng thời cũng là hoạ sĩ chính , đó là Future boy Conan. Đến năm 1979, Lupin III: The castle of Cagliostro, bộ phim điện ảnh đầu tiên do ông đạo diễn được trình chiếu . Năm 1984, bộ phim tiếp theo do ông đạo diễn và viết kịch bản chuyển thể từ bộ truyện tranh của chính ông , Nausicaa of the Valley of the Wind, giành được thành công chưa từng có trong lịch sử, bộ phim này là khởi đầu cho phong cách đặc trưng của Miyazaki và cũng khởi đầu cho hãng phim hoạt hình nổi tiếng Studio Ghibli .

Photobucket
Poster phim và bìa manga Nausicaa of the Valley of the Wind

Nhờ sự thành công của Nausicaa, Hayao Miyazaki và Isao Takahata thành lập nên Studio Ghibli năm 1985. Kể từ đó, tất cả các tác phẩm chính của Hayao được sản xuất thông qua Studio này, lần lượt các phim Laputa the castle in the sky, Kiki Deliverance Service, My Neighbor Totoro … ra đời với chất lượng nghệ thuật vượt trội ,đưa tên tuổi của ông và Ghibli lên một vị trí rất cao trong lĩnh vực anime ở Nhật, có lẽ chỉ chịu đứng sau Osamu Tezuka.

Photobucket
Logo của Studio Ghibli – Totoro , nhân vật do Hayao sáng tạo

Năm 1997, bộ phim Princess Mononoke trở thành bộ phim ăn khách nhất của mọi thời đại ở Nhật (sau này bị Titanic xô đổ) và khi được trình chiếu ở Mỹ, mặc dù không thành công rộng rãi nhưng cũng gây kinh ngạc cho khán giả không thua gì hiện tượng Akira (bộ phim anime làm năm 1988 của đạo diễn Katsuhiro Otomo, gây chấn động vì sự vượt trội của kỹ thuật và tư tưởng của anime trước hoạt hình phương Tây). Princess Mononoke khiến tên tuổi của Hayao Miyazaki trở nên quen thuộc với khán giả quốc tế. Rồi đến năm 2001, Spirited Away, kiệt tác đem lại cho ông giải Oscar phim hoạt hình hay nhất thì ông chính thức trở thành một huyền thoại. Năm 2006, Hayao Miyazaki được bầu chọn là một trong 60 người châu Á có ảnh hưởng nhất.

Photobucket
Princess Mononoke (1997)

Một điều thú vị là tất cả các phim của Hayao đều rất thành công, Studio Ghibli nhờ vậy mà lớn mạnh trở thành một công ty giải trí có tầm cỡ ở Nhật Bản. Ở khía cạnh này, ông thường được so sánh với Walt Disney. Tuy vậy, bản thân Hayao không thích sự so sánh này, ông chỉ tự coi mình là một nghệ sĩ may mắn, có thể thành công đủ để được làm phim theo ý đồ nghệ thuật cá nhân mà thôi.

Tôi là một người làm phim hoạt hình. Tôi thấy mình giống như quản đốc một phân xưởng làm phim hoạt hình. Tôi không phải là nhà quản trị. Tôi giống một người thợ cả , người đứng đầu một nhóm các nghệ nhân hơn . Đấy là tinh thần của cái cách mà tôi làm việc” – Hayao Miyazaki


Phong cách bậc thầy

Photobucket
Tác phẩm Nausicaa do nghệ sĩ nổi tiếng người Pháp Moebius vẽ.Moebius và Hayao là những người hâm mộ của nhau.

Hayao Miyazaki thừa nhận mình là người hâm mộ và chịu ảnh hưởng từ nhiều nghệ sĩ tên tuổi, từ Moebius, Yuri Norstein cho đến cả các nghệ sĩ hoạt hình đất sét của Aardman Studio. Tuy nhiên có lẽ phong cách của ông là của riêng, đến từ bản năng sáng tạo của Hayao chứ không phải từ ai khác. Ông cũng là người khá bảo thủ, mặc dù hình ảnh của các nhân vật anime đã thay đổi rất nhiều qua thời gian, Hayao vẫn trung thành với phong cách tạo hình mà ông đã chọn từ thập kỷ 70. Ông cũng thú nhận là không thích nghe phản biện của các cộng sự về ý đồ của mình và mặc dù không phủ nhận sức mạnh của đồ hoạ vi tính (CGI), ông vẫn không chấp nhận để cho có quá 10% trong tác phẩm của mình có sự can thiệp của máy tính, bàn tay của ông và các cộng sự vẫn là phương tiện chủ yếu để vẽ nên những hình ảnh tuyệt đẹp. Ông cũng là một nghệ sĩ có lối làm việc ngẫu hứng, ông thường bắt tay vào làm phim mà chưa biết được kịch bản sẽ diễn biến thế nào, với ông câu chuyện sẽ tự tìm ra kết thúc hợp lý. Những bộ phim thành công nhất cả về nghệ thuật lẫn thương mại, thường do chính Hayao tự viết kịch bản, tự làm hoạ sĩ chính, tự đạo diễn, đây là một khối công việc khổng lồ đã đôi lần khiến ông hết sức mệt mỏi nhưng ông vẫn không thể nhường cho người khác.

Photobucket
Spirited Away (2001)

Phim của Hayao mơ mộng, huyền ảo, đôi khi gần với chủ nghĩa siêu thực và có giá trị nhân văn rất cao, ông thường đề cập đến môi trường sinh thái, tác động xấu của con người đến moi trường (Nausicaa, Princess Mononoke, Spirited Away…)tuy nhiên ông cũng ca ngợi mối tương quan tốt đẹp mà con người có thể tạo dựng đối với thiên nhiên (My Neighbor Totoro) , ông cũng thể hiện sự căm thù chiến tranh và bọn người hiếu chiến (Nausicaa, Laputa, Porco Rosso …). Tuy nhiên, mặc dù chủ đề tư tưởng rất sâu sắc nhưng câu chuyện của ông thường lại rất nhẹ nhàng, bài học ông nêu ra không hề giáo điều hay u ám. Đó là bởi vì ông luôn hướng đến khán giả nhỏ tuổi . Có những bộ phim rất tinh tế như My Neighbor Totoro hay Spirited Away được người lớn hết sức khâm phục nhưng kỳ thực lại là những món quà ông dành tặng đến các em ở lứa tuổi rất nhỏ, thậm chí những bộ phim đó ông lấy cảm hứng từ chính các em, đó có thể là con trai ông, là con gái của một người bạn hay kỷ niệm thời ấu thơ của ông đã khơi mở sáng tạo.

My neighbor Totoro lấy cảm hứng từ kỷ niệm hồi nhỏ của Hayao, khi mẹ của ông bị bệnh và phái sống xa các con tại bệnh viện. Vị thần sông bị ô nhiễm trong Spirited Away là hình ảnh con sông cạnh nhà ông lúc nhỏ, với một chiếc xe đạp hoen rỉ cắm sâu vào lòng sông. Đặc trưng nhất là sự bay lượn trong phim của ông, máy bay là niềm đam mê từ bé của Miyazaki, do đó trong phim ông, thường xuyên xuất hiện các nhân vật bay lượn, lúc thì đi máy bay, lúc thì lái phi thuyền hay thậm chí hoá thành rồng, với những trường đoạn này, ông luôn tạo ra những cảm giác bay bổng thực sự cho khán giả . Cộng với niềm đam mê nước Ý và miền biển Địa Trung Hải (ông đã từng chu du nhiều tháng ở Ý, từ những thành phố lớn đến tận các thôn làng xa xôi), ông đã dành hẳn một bô phim tên Porco Rosso để kể về một người phi công chống phát xít người Ý, viên phi công đó bị biến thành một chú lợn, Hayao nói rằng đó là tượng trưng cho ông và bộ phim là một tác phẩm tự sự tưởng tượng của ông.

Photobucket

Porco Rosso (1992)

Có một điều đặc biệt trong phim của ông, đó là thường không có những nhân vật độc ác thực sự, những nhân vật phản diện của ông thường là không thực sự muốn làm điều ác. Đó cũng không hẳn là cái nhìn của ông đối với con người, ông tự nhận là một người bi quan, chỉ có điều ông muốn đem đến cho các em nhỏ cái nhìn lạc quan với cuộc sống . Chính vì vậy mà có lần đạo diễn nổi tiếng Mamoru Oshii , một người hay làm những bộ phim rất triết lý vào bạo lực, sau khi đổ vỡ một dự án với Ghibli , đã nhận xét về phim của Hayao Miyazaki là quá ngây thơ, nhưng có lẽ đó chính là điều mà Hayao hướng đến khi làm phim cho trẻ em.


Trẻ em luôn có cơ hội để làm lại từ đầu” – Hayao Miyazaki

Photobucket

Trẻ em vui chơi tại Bảo tàng Ghibli ,đây là nhân vật Catbus do Hayao sáng tạo, rất được trẻ em yêu mến.

Điều cuối cùng khiến phim của Hayao đặc biệt đó là trong phim ông chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá Nhật Bản, mặc dù những thứ ảnh hướng đến ông không phải là truyền thống dân tộc nhưng những gì ông tạo ra vẫn mang tinh thần Nhật Bản không thể chối bỏ, ngay cả khi ông làm phim về Châu Âu.

Ponyo on a cliff – bộ phim cuối cùng của Hayao Miyazaki ?

Sau gần 50 năm sáng tạo, ảnh hưởng của Hayao Miyazaki là rất lớn, ở Nhật Bản ông đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ hoạ sĩ anime. Ngay cả ở phương Tây cũng có nhiều nghệ sĩ tôn sùng ông. Ví dụ như trong series Samurai Jack của Gendy Tartakovsky , có một tập phim dành để tôn vinh nhân vật Totoro của Miyazaki . Thế nhưng, giờ đây Hayao đã cao tuổi, ông không còn kham nổi khối lượng công việc đồ sộ như trước đây. Người cộng sự lâu năm Isao Takahata đã ngừng làm phim lớn từ cách đây gần mười năm. Với Miyazaki, ngay từ sau Princess Mononoke năm 1997, ông đã tuyên bố nghỉ hưu . Quyết định này của ông lúc đó cũng một phần là vì cái chết hết sức đột ngột của Yoshifumi Kondo, một nghệ sĩ hoạt hình tài năng, người mà được coi là sẽ kế nghiệp Miyazaki và Takahata tại Ghibli . Tuy nhiên, quyết định này cuối cùng lại trở thành một câu chuyện hài hước cho những người hâm mộ Ghibli vì sau đó Hayao trở lại với Spirited Away năm 2001, đây cũng chính là bộ phim đem đến cho ông nhiều vinh quang nhất (giải Oscar và Gấu vàng Venice) . Vì vậy, kể từ khi có tuyên bố rằng bộ phim cuối cùng của Hayao sẽ là Ponyo on a cliff hồi năm 2005 đến nay, thực tế vẫn không có mấy ai tin rằng đây sẽ là lời chào tạm biệt của ông.

Photobucket

Promo artworks của Ponyo on a cliff


Thực ra thì có lẽ ngay cả bản thân Hayao cũng không thể biết được điều này. Hãy nhớ lại năm 1997, Princess Mononoke là một bộ phim tuyệt vời, thành công vang dội, nghỉ hưu sau một thành công lớn như vậy là hết sức ngọt ngào, ấy thế nhưng chỉ vì quan sát thấy cô con gái nhỏ của một người bạn trong một kỳ nghỉ, trong đầu Hayao lại nảy ra ý tưởng mới, đó chính là Spirited Away. Sau đó, năm 2005, trong một kỳ nghỉ khác , tại căn nhà trọ trên một vách núi bên bờ biển, Hayao lại nảy ra ý tưởng cho Ponyo ( Giữa 2 phim này là bộ phim gần đây nhất, Howl’s Moving Castle, tuy nhiên dự án này chỉ là ông buộc phải tham gia sau khi đạo diễn ban đầu là Mamoru Hosoda bất ngờ bỏ dự án này.). Như vậy có thể thấy rằng, nếu như một ngày nào đó ý tưởng mới lại đến với Hayao, tin chắc rằng ông sẽ rất khó khăn để từ chối thực hiện nó. Đối với những nghệ sĩ lớn, ý tưởng có sức lôi cuốn vô biên.

Hiện tại có rất ít thông tin về Ponyo on a cliff, chỉ biết rằng đó sẽ là câu chuyện về một công chúa cá vàng tên là Ponyo, vì muốn trở thành người mà làm bạn với cậu bé Sosuke. Nhân vật Sosuke sẽ được tạo hình theo con trai lớn Goro Miyazaki của Hayao khi anh 5 tuổi, đây có thể là món quà để hoà giải với người con này vì hai cha con đã giận nhau kể từ khi Goro đạo diễn bộ phim Tales from Earthsea trong khi Hayao kiên quyết cho rằng anh chưa đủ kinh nghiệm. Ponyo on a cliff sẽ được vẽ bằng màu nước, giống như phong cách tạo hình cho bộ phim của Ghibli mà Isao Takahata làm năm 1999 – My neighbor the Yamadas, và sẽ hoàn toàn không có bất kỳ một sự can thiệp nào của máy tính. Ngày 19 tháng 7 này, Ponyo sẽ được công chiếu tại Nhật, chúng ta hãy cùng chờ xem những phản hồi đầu tiên, bởi nếu như thực sự đây là lời chia tay của Hayao, nó sẽ phải vô cùng đặc biệt.

Photobucket
Storyboard và một cảnh trong phim My neighbor Totoro (1988), đây là trường đoạn thể hiện khả năng đạo diễn bậc thầy của Hayao Miyazaki khi ông xử lý cảm xúc
và tâm lý của các nhân vật hết sức tinh tế.

6/2008
 
Leave a comment

Posted by on 10/01/2009 in Features

 

The Crow (1994) – không có cơn mưa nào rơi mãi

http://bigearflux.files.wordpress.com/2008/02/the-crow-poster-c10299388.jpg?w=274&h=402

“It can’t rain all the time” – Eric Draven

Đạo diễn : Alex Poyas
Diễn viên: Brandon Lee, Micheal Wincott, Bai Ling, Rochelle David
Thể loại : action / thriller / fantasy / crime
vCritic : Youta - Đánh giá : 4,5/5*

Năm 1994, nếu có ai đó điều tra về thành phần của những người đã mua vé vào xem The Crow chắc chắn sẽ chỉ có 3 loại : dân goth, những người hâm mộ bộ truyện The Crow (t/g Jame O’Barr) và những kẻ tò mò muốn xem bộ phim cuối cùng của Brandon Lee (người đã tử nạn khi bộ phim gần đóng máy). Hiển nhiên là 3 loại khán giả này cũng có sự chuyển hoá lẫn nhau và nói chung là họ đều không chờ đợi điều gì từ bộ phim này, miễn sao nó không quá xoàng là ổn rồi. Ấy vậy mà tất cả đều đã ra khỏi rạp với một sự bất ngờ (có thể nói là khủng khiếp) và kể từ đó đến nay, The Crow đã trở thành một trong những cult movie được tôn thờ bởi vài ba thế hệ khán giả, kể cả khi họ không phải là dân goth( những người hiển nhiên sùng bái hình tượng Eric Draven của Lee đến phát cuồng ).

Eric Draven


Quần áo da đen bó sát, goth rock, corpse paint , người chết sống lại , Halloween, những điều huyền bí, một thành phố tội ác trong những đêm mưa ướt át bất tận … tất cả xoay quanh một câu chuyện đơn giản : tay rocker Eric Draven (Lee) đã chết được Con Quạ đưa trở lại dương thế để trả thù bọn vô lại đã giết anh và vợ chưa cưới. Nghe có vẻ quá đơn giản nhưng đó là một câu chuyện có đầy đủ các sắc thái, có tội ác và tình yêu đối chọi nhau, có sự độc ác mạnh mẽ đối lập với lòng nhân yếu ớt, ai thích những bộ phim có “thông điệp” – The Crow có, mặc dù nó vẫn là một phim action/thriller đúng nghĩa. Tất nhiên, câu chuỵện cũng không hẳn là quá hoàn hảo, nhưng cũng không cần quá khắt khe để thấy rằng câu chuyện ngắn gọn của The Crow chính là một ưu điểm, tuyến truyện logic và liên kết chặt chẽ chẳng lẽ lại không phải là ưu điểm ? Sẽ không ai thấy một chi tiết què quặt nào trong The Crow. Hơn nữa, theo như Roger Ebert , người mà trong hầu hết các trường hợp có những nhận xét tinh tế, thì nếu như người ta cố bồi da đắp thịt thêm cho The Crow , phát triển câu truyện và các nhân vật cho thêm phức tạp thì chưa chắc bộ phim đã thành công đến thế, vì điều quan trọng ở The Crow không phải là cốt chuyện mà là cái không khí, cái thế giới goth kỳ lạ mà đoàn làm phim đã tạo ra.

Thực vậy, thường thì những hình ảnh mà chúng ta thấy trong phim là để kể một câu chuyện, còn với The Crow , câu chuyện dường như chỉ để liên kết một loạt các hình tượng, hình ảnh mà cái đẹp của nó hình như đã đạt đến độ toàn bích. The Crow hầu như đã truyền tải lại toàn bộ phong cách tạo hình từ bộ truyện gốc ,tất nhiên là không tái hiện truyện tranh đến mức cho cả các chấm tram xuất hiện trên phim như Sin City sau này mà đó là những mảng tường sáng tối tương phản manh như film-noir của những toà nhà tồi tàn nhơ nhớp trong mưa, những cú máy lúc thì bay cao tít cùng đôi cánh của con quạ, lúc lại sát sạt vào con dao sáng loáng đang xoay vù vù , là gương mặt corpse paint của Lee lúc sầu bi đến ngạt thở lúc lại không khác gì một thiên thần của Ngày phát xét …. Tất cả đều sặc mùi trầm cảm, u uất mà vô cùng huyền ảo của dân goth, của nghệ thuật goth, tranh goth, ảnh goth, nhạc goth . Những nhân vật như Eric Draven – người hùng u ám với dáng cao gầy thất thểu, Top Dollar – trùm của các trùm,tàn ác, mưu mô mà phong độ bá vương và cực kỳ duy mỹ, hay Myca do một Bai Linh thời son trẻ thủ vai , quyến rũ, bí ẩn đến chết người , tất cả như bước ra từ bộ truyện tranh goth mà Jame O’Barr sáng tác sau khi vợ mất , như thực sự thoát thai từ bài thơ buồn và rùng rợn The Raven của Edgar Poe. Có lẽ hiếm có (hay là không hề có) một phim nào mà khâu thiết kế visual style lại thành công đến như thế, hoàn mỹ đến thế (ngay cả Dark City hay Sin City cũng khó mà so sánh được với nó), Một trong những hình ảnh đẹp nhất là cú toàn cảnh khi Brandon Lee đứng ở bên trái khuôn hình, và từ từ một con quạ lửa cháy rực lên, ấn tượng nghẹt thở …

Một rockfan kỳ cựu nói rằng :”Cốt truyện của “The Crow” không có gì đặc biệt, nhưng nó có quá nhiều thứ đáng để mắt đến hơn. Xem xong chỉ muốn đi boot mặc áo choàng trèo lên mái nhà ngồi cạnh ống khói (một hình ảnh đẹp trong phim, Lee ngồi một mình trên mái nhà và chơi một đoạn guitar solo ai oán – NV) . Đi trả thù đánh đấm be bét nhưng không quên treo đàn lên mắc áo trước khi hành sự, quả đúng là tinh thần rock n’ roll! “. Lại cũng cần phải trích thêm cả ý kiến của Roger Ebert : “Có nhiều lúc bộ phim giống như một video ca nhạc bạo lực, tất cả chỉ là hình ảnh và hành động, không nội dung“. Trên nền nhạc của những nghệ sĩ alternative rock/ goth rock / metal kỳ cựu như The Cure, Stone Temple Pilot, Pantera , Nine Inch Nail, Rage Against the Machine .v.v.. , nhận xét có phần khắc bạc của Ebert cũng đúng trên vài khía cạnh, ở đây âm nhạc đóng góp một phần không nhỏ cùng với hình ảnh khiến cho người xem mê đắm vào cái thế giới u ám ướt át, khiến cho không ít người phải đại ngôn lên rằng đây là bộ phim stylish nhất trong lịch sử ( e rằng nếu có cho là thứ nhì thì e không có phim nào dám đứng thứ nhất).

Alex Proyas, đạo diễn của bộ phim , người đã từng đạo diễn hơn 100 video clip ca nhạc cho nhiều nghệ sĩ tên tuổi , thể hiện rõ mình biết làm như thế nào để khán giả nhìn thấy nhân vật nào của mình cũng cool, cũng stylish dù cho là người xấu hay người tốt . Là người đã thể hiện được con mắt hình ảnh của mình từ khi còn trẻ, với sở trường độc đáo trong các phim thuộc dạng sci-fi hoặc fantasy( tất nhiên không thể thiếu sự trợ giúp của cả équipe mà trong The Crow là những cái tên như chỉ đạo nghệ thuật Simon Murton, quay phim Dariusz Wolski …v..vv..), ngoài The Crow, Proyas còn có một tuyệt tác khác là Dark City năm 1998 và quả bomb I,Robot mùa hè năm 2004. Một đạo diễn vừa có được thành công thương mại và vừa ăn giải loanh quanh trên thế giới.


Proyas và Brandon Lee

Brandon Lee, người mà số phận trớ trêu đã cướp đi mạng sống của anh trong một bộ phim mà anh sắm vai một người hùng trở về từ cõi chết, đã chứng tỏ được rằng mình hoàn toàn có thể trở thành một ngôi sao, thậm chí còn sáng hơn cả người cha vốn đã là huyền thoại – Bruce Lee , Lý Tiểu Long . Cái chết của anh cũng đưa anh trở thành huyền thoại, không chỉ là vì những lời đồn đại về một con rồng có thù với cha con họ Lý, mà vì bởi anh đã kịp có một vai diễn để đời trong một bộ phim huyền thoại. Eric Draven của Lee khác với những siêu anh hùng đã lên màn bạc như Clark Kent, Bruce Wayne, Peter Packer hay V , anh là một người hùng mang bi kịch thực sự và chỉ xuất hiện để trả thù cho cái chết của người yêu, không hề có ham muốn cứu thế giới mà chỉ vì bảo vệ những người anh ta yêu thương, Eric vô tình thực hiện sứ mệnh làm sạch xã hội ,không phải là một siêu nhân muốn sống như con người, anh ta luôn là con người , một con người bị dày vò bởi những bi kịch cá nhân , điều đó khiến hình tượng Eric Draven gần gũi, sống động , mang những tình cảm chân thực như nỗi cô độc và bất hạnh thiêng liêng mà dân goth tôn thờ.

Nhưng hãy nhớ chính Eric Draven cũng đã nói với cô bé Sarrah : “It can’t rain all the time” ….

 
1 Comment

Posted by on 09/01/2009 in Reviews

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers