RSS

Monthly Archives: March 2009

Aaaaaaaaaaaaaaaaaargh! – Tiếng thét Wilhelm

vCritic: Selfish Driftwood

Thử tưởng tượng thế này, bạn đang rơi xuống từ một độ cao khủng khiếp. Hay đang đối diện trước một họng súng chỉ chực nổ trong giây lát. Hay một con cá sấu đang ngoạm lấy bạn và cố lôi bạn xuống dưới vũng bùn lầy. Hoặc một samurai vừa rút kiếm ra khỏi bao rồi đâm xuyên qua bụng bạn…

Bạn sẽ làm gì?

Nếu bạn là một nhân vật trong phim, nhiều khả năng bạn sẽ phải mở miệng và thét lên một trong những hiệu ứng âm thanh nổi tiếng bậc nhất tại Hollywood, hay vốn dĩ vẫn là một trò đùa trong giới làm phim nơi đây bấy lâu nay. Có thể bạn chưa bao giờ nghe nói tới Tiếng thét Wilhelm, nhưng thực tế là bạn đã từng nghe thấy nó phải tới cả trăm lần trong các bộ phim nổi tiếng nhất của Hollywood rồi! Nó đã được sử dụng đi sử dụng lại trong suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, chẳng hạn như trong cả sáu tập phim Star Wars, ba tập đầu của Indiana Jones, hai trong số bộ ba phim Lord of the Rings và hơn 200 bộ phim khác, từ The Wild Bunch cho tới Kill Bill.

Giờ thì hãy tạm trở lại với con cá sấu nhắc tới ở đầu bài. Câu chuyện về Tiếng thét Wilhelm bắt đầu năm 1951, trong bộ phim cao bồi viễn Tây Distant Drum với sự góp mặt của Gary Cooper. Trong một cảnh quay, nhóm của Cooper phải lội qua đầm lầy, và bất ngờ một người trong nhóm bị cá sấu đớp rồi lôi xuống nước. Các kĩ sư âm thanh phải thu âm lại tiếng thét ở cảnh này trong quá trình thực hiện hậu kỳ. Tiếng thét của một người bị cá sấu cắn không hề dễ thể hiện chút nào. Nghệ sĩ lồng tiếng lấy một hơi thật sâu “Aaaaagh!” Nghe không quằn quại đau đớn cho lắm! “Aaaaaaow!” Các nhân viên dựng âm thanh cảm thấy không hài lòng, tiếng thét trước còn hay hơn nhiều. Lần thứ ba “Aaaoooohh!” Thậm chí còn tệ hơn nữa! Mọi người cần một tiếng thét thực sự chứ không chỉ có “Ối” lên như thế. Người diễn viên lồng tiếng hít một hơi thật sâu và rồi “AAAAAOOOOOORRRGGGGHHH!

Chính xác thì tiếng thét này thế nào nhỉ? The thé. Tuyệt vọng. Không gượng ép. Đầy đau đớn xen lẫn cả vẻ ngạc nhiên. Và thế là Warner Bros có tiếng thét “cá sấu” của riêng họ và lưu trữ nó trong thư viện hiệu ứng âm thanh của bổn hãng.

Nhưng trong suốt hai năm kể từ sau Distant Drum, tiếng thét hãi hùng đó đã im bặt. Chỉ cho tới khi Binh Nhì Wilhelm dừng lại nhồi tẩu thuốc giữa vùng đất của người da đỏ trong bộ phim viễn Tây năm 1953, The Charge at Feather River. Rõ là một hành động ngốc nghếch! Từ đâu đó một mũi tên của người da đỏ được bắn ra. Người dựng âm thanh muốn có một chút gì đó thật thú vị, và thế là tiếng thét trong Distant Drum đã có đất dụng võ.

Binh nhì Wilhelm xấu số trong The Charge at Feather River

Binh nhì Wilhelm xấu số trong The Charge at Feather River

Họ đã sử dụng tiếng thét sởn gai ốc của Wilhelm thêm hai lần nữa trong bộ phim và nó nhanh chóng trở thành một hiệu ứng âm thanh được ưa thích của những chuyên gia về âm thanh tại Warner Bros. Trong suốt ba thập niên sau đó, tiếng thét này đã vang lên trong khắp mọi bộ phim, từ Them! năm 1954 tới The Green Berets năm 1968 và cả The Wild Bunch nữa. Gần như chẳng một ai để ý tới điều đó…

Được tìm thấy lại trong không gian!

Làm việc tại khoa điện ảnh đại học Nam California, nhà biên tập âm thanh tài năng Ben Burtt cùng hai người bạn là Rick Mitchell và Richard Anderson có cơ hội được theo dõi rất nhiều bộ phim, hay nói đúng hơn, là  lắng nghe chúng. Họ bắt đầu để ý thấy những tiếng thét vang vọng trong nhiều bộ phim không phải là nghe quen quen nữa mà đích xác là tới cùng từ một hiệu ứng âm thanh! Và tới năm 1974, họ thậm chí đã lồng nó vào bộ phim nhái The Scarlet Blade do chính họ thực hiện.

Ben Burtt

Ben Burtt

Hai năm sau, Burtt có cú bứt phá lớn nhất trong sự nghiệp của bản thân. Một đạo diễn trẻ có tên George Lucas thuê ông về xử lý hiệu ứng âm thanh trong một bộ phim đầy tham vọng mang đề tài phiêu lưu khoa học giả tưởng có tên là Starwars. Được phép nghiên cứu kho tài liệu của một số studio để có thể tạo ra những âm thanh hoàn toàn mới (chẳng hạn như kết hợp tiếng gấu, chó, sư tử, hải mã thành tiếng gầm của Chewbacca, kết hợp tiếng rè rè khi không bắt được sóng TV và tiếng ù ù của một chiếc máy chiếu cũ cỡ 35 li cho tiếng gươm ánh sáng…), Burtt đã lần ra được dấu bản ghi âm gốc tiếng thét mà mình vốn ưa thích bấy lâu nay. Ông gắn cho nó cái tên “Wilhelm”, theo họ của nhân vật thét lên và gắn nó vào trong cảnh một tên lính Stormtrooper  của Đế chế rơi xuống từ một mép vực.

Một tiếng thét đặc biệt!

Kể từ đó, dường như Burtt bị đôi chút ám ảnh. Khi Tiếng thét Wilhelm đã được lưu lại cẩn thận trong thư viện hiệu ứng tại Skywalker Sound, ông bắt đầu lồng ghép nó vào tất cả các dự án mà ông tham gia, từ Indiana Jones cho tới Willow. Nó trở thành dấu ấn âm thanh của Burtt, cũng như Richard Anderson. “Chúng tôi bắt đầu đưa Tiếng thét Wilhelm vào trong những bộ phim mà chúng tôi tham gia và nó đã trở thành một thủ thuật giúp nâng tầm người sử dụng nó,” Anderson hồi tưởng lại. Và ông không hề đùa! Anderson đã sử dụng Tiếng thét Wilhelm trong một số bộ phim lớn nhất của Hollywood ba thập kỷ qua, như Poltergeist, Batman Returns, Beauty and the BeastThe Fifth Element. Khi những người “săn tiếng động” khắp Hollywood bắt đầu lén đưa tiếng thét này vào trong phim, sẽ không mất mấy thời gian để những đạo diễn lớn nhất nơi đây hiểu ra giá trị của “câu chuyện hài hước” kể trên. Có thể kể tới Tim Burton (dùng ba lần trong Planet of the Apes), Quentin Tarantino (hai lần trong Kill Bill: Vol. 1), Peter Jackson (The Two Towers, The Return of the KingKing Kong), và Guillermo del Toro (Hellboy).

Wilhelm còn có mặt trong cả Family Guy

Wilhelm còn có mặt trong cả Family Guy

Nhưng vẫn còn một bí ẩn chưa được vén màn. Ai là người thể hiện tiếng thét đó? Danh tính của ông đã chìm trong bí mật suốt hơn 50 năm. Và phải tới lúc thực hiện loạt phim Star Wars mới, Ben Burtt mới khám phá ra một file có tên gọi Distant Drums trong kho lưu trữ của Warner Bros. Nó có chứa danh sách bốn diễn viên tới ghi âm thêm thoại. Và sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng giọng nói của họ, Burtt đã nhắm ra được một người duy nhất.

Sheb Wooley đã kiếm tiền nhờ vô số các bộ phim cao bồi viễn Tây trước khi trúng lớn với việc viết và thu âm ca khúc Purple People Eater năm 1958. Ông sắm vai một tay súng lén bám theo Gary Cooper trong High Noon và tham gia vai phụ trong các bộ phim như Giants, The Outlaw Josey WalesSilverado. Còn trong Distant Drums, sự xuất hiện trong vai một người lính và với tư cách nghệ sỹ lồng tiếng thu âm của ông không hề được ghi lại ở cuối phim. Nhưng khám phá của Burtt là quá muộn, bởi Wooley đã chết vì bệnh máu trắng năm 2003, làm mất đi mọi cơ hội xác minh câu chuyện này.  Tuy vậy, vợ của Wooley hồi tưởng lại rằng, chồng bà vốn vẫn luôn kiêu hãnh khi kể lại về tài năng trong việc thể hiện tiếng thét lúc sắp phải giã biệt cuộc đời trong các bộ phim của Hollywood. “Sheb luôn đùa về chuyện mình giỏi giang thế nào trong chuyện gào thét và chết trong phim,” bà Linda Dotson-Wooley kể lại. “Tôi có biết tiếng thét của ông ấy xuất hiện trong một vài bộ phim, những bộ phim cao bồi viễn Tây cũ kỹ, nhưng không hề biết tới Star Wars hay các bộ phim khác.

Sau khi Burtt hoàn thành công việc trong Revenge of the Sith, rồi rời khỏi hãng Lucasfilm để tới Pixar, ông tuyên bố mình sẽ không bao giờ sử dụng lại Tiếng thét Wilhelm nữa. Liệu đây có phải là một sự kết thúc? Hoàn toàn không. Nó vẫn là một clip âm thanh kỳ quái bậc nhất và được lồng vào trong hết bộ phim này qua bộ phim khác. “Tôi nghĩ việc đặt dấu ấn lên bộ phim mà mình tham gia là một điều khôn ngoan,” – Rick Hinson, chủ tịch Hiệp hội âm thanh MPSE phát biểu. “Bằng cách đưa âm thanh đó vào trong phim.

Vậy từ bây giờ bạn hãy thử chú ý lắng nghe xem… Khi nhân vật Indiana Jones của Harrison Ford thổi bay một điệp viên KGB nhờ cú đấm móc bằng tay trái, khi Người Dơi ghim chặt một gã đàn em của Joker bằng vũ khí batarang, khi Người Khổng Lồ Xanh nghiền nát một tay lính kém may mắn, hay khi Người Sắt đập bẹp một tên khủng bố xui xẻo. Thì Wilhelm vẫn đang giãy giụa và gào thét!

tổng hợp từ tạp chí Total Film
Bài viết đăng trên 2!Đẹp số 9, ra tháng 1/2009

P/S : Không tưởng tượng được “tiếng thét Wilhelm”  là thế nào ư ? không sao, hãy xem và nghe một số lần Wilhelm được sử dụng trong điện ảnh nhé :



 
Leave a comment

Posted by on 07/03/2009 in Features

 

Film Credits hay “Tại sao tôi ngồi lại thêm năm phút?”

vCritic: Nham Hoa

Định nghĩa một cách ngắn gọn nhất, film credits là danh sách những người đã tham gia thực hiện một tác phẩm điện ảnh. Một khái niệm dễ hiểu, và tưởng chừng như cực kỳ đơn giản, vốn đã trở nên rất quen thuộc với khán giả từ khi môn nghệ thuật thứ bảy mới khai sinh. Nhưng kỳ thực, có không ít chuyện có thể nói và đáng để nói về hai chữ ấy.

Film credits – có hai film credits

Thông thường, film credits của một bộ phim sẽ gồm hai phần: opening creditsending credits. Như tên gọi của mình, opening credits xuất hiện ngay phần đầu bộ phim, liệt kê tên những thành viên quan trọng nhất như đạo diễn, nhà sản xuất, diễn viên chính… Ending credits xuất hiện sau khi bộ phim kết thúc, và kể từ thập niên 70 trở lại đây, nó thường là một danh sách dài dằng dặc liệt kê TẤT CẢ (vâng, tất cả!) những người đã có đóng góp vào quá trình sản xuất bộ phim. Nói cách khác, dù bạn chỉ là một nhân viên lo việc trang phục cho nhân vật Frank Abagnale Jr., bạn cũng sẽ được xuất hiện bên cạnh Leonardo DiCarpio và Tom Hanks trong ending credits của Catch Me If You Can. Dĩ nhiên bạn sẽ phải đợi khá lâu để có thể chỉ cho bạn gái thấy tên mình trên màn ảnh, nhưng dẫu sao đó cũng là một điều đáng để tự hào đấy chứ?

Opening credits của Casino Royale

Opening credits của Casino Royale

Như trên đã nói, opening credits xuất hiện ngay ở đầu phim, và trong một vài trường hợp nó có thể được biến tấu thành title sequence, trở thành một phần không thể tách rời của nội dung phim. Một ví dụ tiêu biểu là series 007, từ lâu đã nổi tiếng với phần mở đầu đầy những pha hành động và rượt đuổi nghẹt thở. Bởi vậy khán giả (trừ những ai đến muộn) sẽ được/phải xem opening credits cho dù họ muốn hay không. Nhưng ending credits thì khác, nó chỉ đến khi bộ phim đã kết thúc (hay chí ít cũng có vẻ là đã kết thúc). Là những người rất tiết kiệm thời gian, không hề muốn bỏ phí dù chỉ năm phút cho những thứ vô bổ ấy, đa số khán giả Việt Nam sẽ đứng dậy và lũ lượt ra về ngay khi dòng ending credits đầu tiên xuất hiện. Và một câu hỏi được đặt ra ở đây là: liệu credits có đáng để chúng ta kiên nhẫn ngồi lại cho đến phút cuối cùng hay không? Câu trả lời là: Rất đáng!

4+ cái đáng của credits

Cái đáng đầu tiên, ngồi lại xem credits là một hành động tối thiểu để thể hiện sự tôn trọng đối với những người đã góp phần tạo nên một tác phẩm điện ảnh mà chúng ta vừa xem. Nếu một ca sĩ sau khi biểu diễn một bài hát được khen ngợi bằng một tràng vỗ tay, thì những người đứng đằng sau một bộ phim hay cũng xứng đáng được nhận sự trân trọng tương tự. Thật đáng tiếc khi ở Việt Nam chưa có khái niệm standing ovation – một tập quán đẹp thường thấy ở các liên hoan phim, khi khán giả đồng loạt đứng lên và dành một tràng pháo tay cho bộ phim xuất sắc họ vừa xem. Có một số người tuy rất muốn ngồi lại song vì thấy ngại ngùng trước ánh mắt lạ lẫm của những người ra về hay của nhân viên nhà rạp nên lại thôi. Tại sao nhỉ? Nếu biết việc mình làm là đúng, thì việc gì phải ngại?

Phần ending credits trong Kung Fu Panda

Phần ending credits trong Kung Fu Panda

Cái đáng thứ hai là “trâu chậm uống nước trong.” Nếu ai từng kiên nhẫn ngồi xem hết credits của Shrek 2 thì chắc hẳn đã từng rất khoái chí khi biết rằng chú Lừa đã lấy ả Rồng và đẻ ra một lũ lừa con có cánh biết phun lửa. Giống như ở Shrek 2, không ít nhà làm phim cố tình đưa vào ending credits một vài chi tiết độc đáo liên quan đến nội dung phim. Porco Rosso, bộ phim hoạt hình của đạo diễn nổi tiếng Hayao Miyazaki, có kết thúc mở, nhưng phần credits lại giấu một chi tiết tiết lộ cho khán giả về số phận của nhân vật chính. Ý thức được sự nhàm chán của một danh sách toàn tên dài dằng dặc, nhiều ê-kíp làm phim đã bỏ công sức chăm chút tỉ mỉ cho phần ending credits để biến nó thành một sự ngạc nhiên thú vị cho những người yêu điện ảnh đích thực. Sự bất ngờ ấy có thể là một bài hát khiến khán giả thấy bùi ngùi hay phấn khích, những nét vẽ đầy nghệ thuật như trong Ratatouille, một phần hình ảnh đầy sáng tạo như của Juno, một chút bình yên như trong Kung Fu Panda và cũng có thể là một ý tưởng ngộ nghĩnh như trong Cars.

Cái đáng thứ ba là trong phần credits có nhiều thông tin rất thú vị mà nếu chú ý một chút ta sẽ phát hiện ra. Một điều rất quan trọng của credits là thứ tự các bên tham gia làm phim (hay còn gọi là billing). Thông thường thì tên nhà sản xuất được xuất hiện trước tiên, chẳng hạn như A George Lucas Production. Nếu đạo diễn có tên tuổi thì sẽ có thêm dòng A Steven Spielberg film. Đôi khi, những cái tên diễn viên đầu tiên xuất hiện trong credits lại là vai phụ. Chẳng hạn như trong Superman (1978) cả Gene Hackman và Marlon Brando (vai phụ) đều được ghi danh trước Christopher Reeve (vai chính) vì cả hai là những diễn viên tên tuổi còn Reeve chỉ mới vào nghề. Việc liệt kê diễn viên còn có khá nhiều nguyên tắc khác nữa như thứ tự xuất hiện trong phim hay chỉ đơn giản là sắp xếp theo thứ vần ABC…

Một unit trong The Fall

Một unit trong The Fall

Ngoài ra, ending credits cũng là nơi tiết lộ khá nhiều thông tin như bối cảnh, quy mô và tầm vóc bộ phim. Credits của The Dark Night cho ta biết mỗi diễn viên chính và thứ đều có trợ lý riêng (Assistant to Mr. Ledger, Assistant to Mr. Oldman); Morgan Freeman có cả thợ làm tóc riêng… Điều này cho thấy quy mô tài chính của bộ phim, một điều không thể có ở một bộ phim độc lập kinh phí thấp. Tương tự như vậy, credits của The Fall (đạo diễn Tarsem Singh) cho biết bộ phim được thực hiện một cách cực kỳ công phu, lấy bối cảnh của Nam Phi, Ấn Độ, Anh, Bali, Fiji, Ý, Tây Ban Nha, Séc, Rumani, Trung Quốc, Nam Mỹ, ở mỗi nơi lại có một đơn vị riêng (unit) phục vụ cho quá trình làm phim.

Cái đáng thứ tư, hẳn rất đúng với hoàn cảnh Việt Nam, đó là các rạp chiếu bóng ở ta cực kỳ đông đúc và chật chội. Ngồi lại xem credits cũng là một cách rất hay để tránh phải chen nhau khi đi thang máy hay lấy xe ra về…

Có lẽ là có rất nhiều, thậm chí là quá nhiều lý do để trả lời cho câu hỏi “Tại sao tôi ngồi lại thêm năm phút?” Nhưng cũng có lúc cũng chẳng cần một câu trả lời nào hết. Đôi khi một bộ phim kết thúc, bỏ ta ngồi lại đó, hoặc ngẩn ngơ, hoặc thở phào một tiếng, hoặc quay sang người bạn đi cùng, cứ thế im lặng nhìn nhau và nghe dư âm của bộ phim đang sôi sục trong mình. Đôi khi, cũng chẳng cần phải có lý do nào hết!

Bài viết đăng trên 2!Đẹp số 11, ra tháng 3/2009

 
30 Comments

Posted by on 07/03/2009 in Features

 

Mother của Bong Joon-ho

Đạo diễn Bong Joon-ho

Đạo diễn Bong Joon-ho

vCritic: Selfish Driftwood


Một trong những niềm hy vọng ít ỏi của điện ảnh Hàn Quốc năm nay là Mother – bộ phim điện ảnh dài thứ 4 trong sự nghiệp của đạo diễn kỳ tài Bong Joon-ho.

Suốt kể từ sau thành công vang dội mang tên The Host hồi mùa hè 2006 (hơn 13 triệu vé tại thị trường nội địa), cùng dự án Tokyo! (bên cạnh hai đạo diễn Michel Gondry và Leos Carax), Bong Joon-ho đã âm thầm chuẩn bị cho bộ phim tiếp theo mang tên Mother, dự kiến ra mắt trong mùa hè năm nay. Cốt truyện của bộ phim vô cùng đơn giản: một bà mẹ tìm mọi cách để minh oan cho con trai mình khi nó dính dáng tới một vụ giết người. Với nhân vật người mẹ, Bong Joon-ho muốn đẩy cảm xúc của khán giả xem phim lên mức đỉnh điểm, điều mà vốn ông từng đã thành công trong các bộ phim trước.

Đáng chú ý, Mother là dịp để khán giả được thấy được một Bong Joon-ho vừa quen lại vừa lạ. Quen là bởi một lần nữa, câu chuyện trong phim của ông lại là một cuộc tìm kiếm. Barking Dogs Never Bite (2000) là cuộc tìm kiếm con chó bị thất lạc trong khu chung cư; Memories of Murder (2003) là cuộc tìm kiếm tên sát nhân hàng loạt; The Host (2006) là cuộc tìm kiếm cô cháu gái bé nhỏ bị con quái vật bắt đi của gia đình nghèo họ Park bên bờ sông Han. Và giờ đây là chuyến đi tìm kiếm những bằng chứng để minh oan cho cậu con trai mình được vô tội của một bà mẹ già. Hay quen nữa là bởi hình ảnh những đứa trẻ trong phim của Bong chưa bao giờ được là một nhân vật hoàn thiện hoặc luôn gặp rắc rối (chưa được sinh ra, bị giết một cách tàn bạo, bị bắt cóc đi, bị vu oan giá họa).

Kim Hye-ja trong vai người mẹ

Kim Hye-ja trong vai người mẹ

Nhưng Mother cũng là lúc để Bong Joon-ho làm mới mình, đem tới những điều lạ cho khán giả. Cái lạ đầu tiên tới từ hai diễn viên chính: Kim Hye-ja trong vai bà mẹ và tài tử Won-bin trong vai cậu con trai. Trong ba bộ phim trước, Bong Joon-ho thường xoay vòng các diễn viên mà ông thường làm việc cùng. Người làm nhân vật phụ ở phim trước có khi lại làm nhân vật chính ở phim sau và ngược lại. Tuy nhiên, đây mới chỉ là lần đầu tiên Bong làm việc với Kim Hye-ja và Won-bin. Đối với Kim Hye-ja, như Bong Joon-ho tiết lộ, thì vai diễn bà mẹ này vốn được “đo ni đóng giày” cho bà và nói một cách nào đó, dự án Mother chỉ có thể bắt đầu được, chính là nhờ Hye-ja. Còn Won-bin thì hẳn đang rất háo hức được trở lại màn ảnh rộng một cách đầy ấn tượng sau 5 năm (kể từ quả bom tấn Taegukgi hồi 2004).

Một điểm khác lạ nữa chính là việc Bong muốn tập trung khai thác chủ đề mẫu tử bởi trong bộ phim gần đây nhất, The Host, người ta chỉ thấy được tình phụ tử qua chi tiết cả hai thế hệ trong gia đình đều vắng bóng hình ảnh người mẹ. Và, Bong Joon-ho cũng sẽ không có được nhiều kinh phí chi trả dành cho Mother như  cho The Host hay Memories of Murder nữa. Tuy thế, Bong đảm bảo cảm xúc trong Mother vẫn sẽ rất đậm, hệt như “một tách nhỏ với thứ café espresso đậm đặc” vậy.

Liệu còn có một sự lạ nào nữa trong Mother hay không? “Đó là một cái kết công bằng và thực sự khiến cho khán giả thỏa mãn!” – theo tiết lộ mới nhất của Bong Joon-ho. Bởi kết phim của ông thường được khán giả nhớ đến với sự không thỏa mãn nhưng vẫn khiến khán giả phải đồng thuận , pha lẫn một chút gì đó bí ẩn, mơ hồ, hay thậm chí là gây tranh cãi. Và có lẽ đây chính là cái lạ nhất khiến người ta phải chờ đợi Mother ngay từ lúc này.

Box – Những bà mẹ đáng chú ý của ĐA Hàn Quốc gần đây

My Mother, the Mermaid (2004) – Jeon Do-yeon với một vai diễn đúp đáng nhớ trong bộ phim của đạo diễn Park Heung-shik. Sau rất nhiều mâu thuẫn của gia đình mà đỉnh cao là việc người bố bỏ đi, cô gái trẻ Na-young bỗng rơi về quá khứ và quen được bố cùng mẹ mình hồi trẻ. Jeon vừa vào vai Na-young, vừa vào vai người mẹ lúc trẻ!

Marathon (2005) – Kim Mi-sook trong vai bà mẹ của cậu con trai thiểu năng Cho-won, người luôn có ước mơ hoàn thành một cuộc thi marathon. Bộ phim dựa trên một câu chuyện có thật vô cùng xúc động và gây tiếng vang lớn tại Hàn Quốc hồi đầu năm 2005.

My Eleventh Mother (2007) – Kim Hye-soo sau vai diễn đầy quyến rũ trong Tazza nhập vai bà mẹ kế thứ 11 của cậu bé Jae-su. Sau những bất trắc ban đầu, cả hai nhận ra rằng giữa hai người có rất vô số điểm chung.

Seven Days (2007) – Ngôi sao series Lost Kim Yun-jin trong vai một luật sư thành đạt có con trai bị bắt cóc. Cô cần phải bào chữa cho một tên sát nhân trắng án nếu muốn con trai mình được sống sót.

Bài viết đăng trên 2!Đẹp số 11, ra tháng 3/2009

 
1 Comment

Posted by on 05/03/2009 in Preview

 

Trăng nơi đáy giếng – Bộ phim Việt Nam tốt nhất ?

Đạo diễn : Nguyễn Vinh Sơn

Diễn viên : Hồng Ánh , Hoàng Cao Đề

Thể loại : Drama

vCritic : Youta - Đánh giá : 4,5 /5*

Đầu năm 2008, tôi được nghe một tuyển trạch viên của LHP Venice đánh giá không cao Trăng nơi đáy giếng, lại cộng với việc đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn làm quá ít phim truyện nhựa khiến cho tôi đi xem TNĐG trong đợt chiếu phim Cánh Diều Vàng vừa qua với không có nhiều chờ đợi. Thế nhưng hoá ra, tôi lại được xem một bộ phim Việt Nam hay nhất mà mình từng biết, được biết tay nghề thực sự của một nhà làm phim Việt Nam giỏi , có đẳng cấp hàng đầu.

Kịch bản TNĐG được biên kịch Châu Thổ xây dựng dựa trên truyện ngắn cùng tên của nhà văn Trần Thuỳ Mai , kể về một người phụ nữ hết lòng vì người chồng mà cuối cùng “lộng giả thành chân”, mất chồng vào tay cô gái vốn chỉ được thuê để đẻ hộ một đứa con. Về cơ bản, côt truyện của kịch bản gần như không khác gì nguyên tác, nhưng về chi tiết, đã được xây dựng dầy dạn hơn rất nhiều, điều đó làm diễn biến tâm lý của nhân vật sống động và có lý hơn . Thành công dễ thấy nhất của kịch bản này là ở chỗ đặt câu chuyện vào một địa danh cụ thể – cố đô Huế. Có lẽ nhờ vậy mà khán giả có thể cảm thấy dễ chập nhận hơn đối với kiểu tòng phu cực đoan đến khó tin của nhân vật nữ chính – cô giáo Hạnh (Hồng Ánh). Đồng thời với không gian Huế, với ngôi nhà cổ của vợ chồng cô Hạnh, để tạo cảm giác đè nặng của những hủ tục phong kiến lên người phụ nữ, chi phối tâm linh người phụ nữ, thì có lẽ không nơi đâu có thể hơn được chứ đừng nói đến một khu tập thể công chức trong nguyên tác. Sự chỉnh chu và cầu kỳ trong từng lần cung phụng chồng của cô Hạnh cũng như sự hưởng thụ của ông chồng thì chỉ có ở Huế mới đủ để khán giả tin vào tính chân thật của câu chuyện. Ngoài ra, tôi cũng có cảm giác, biên kịch Châu Thổ và đạo diễn Vinh Sơn đã chọn căn nhà cổ từ trước khi bắt tay vào thực hiện kịch bản này vì có rất nhiều chi tiết trong hành động của các nhân vật, trong các động tác máy quay ở các phân cảnh, thể hiện rõ sự tính toán có ý đồ rất rõ ràng và gắn bó hữu cơ với bối cảnh , có thể ví dụ sự rườm rà của mỗi lần cô Hạnh mở cửa, và sự kiên nhẫn của cô khi dóng của mỗi tối, góp phần thể hiện tính cách nhân vật rất tuyệt vời.

Đặc biệt, có một điểm mà khán giả nào cũng sẽ nhận thấy nhưng lại ít khi được nói tới đó là chất trào phúng (black humour) của TNĐG. Tính chất này có trong giọng kể có phần tưng tửng nguyên tác, nhung khi lên phim, đạo diễn Vinh Sơn đã đẩy cao lên hơn rất nhiều. Chính vì vậy, mặc dù về tổng thể bộ phim hoàn toàn là chính kịch (drama) , đôi khi khán giả vẫn phải bật cười vì sự hài hước ngấm ngầm . Một số chi tiết có thể kể đến như cô Hạnh hàng đêm nghĩ một bài thơ để đánh thức chồng vào buổi sáng, cô Hạnh và cô giáo công đoàn nói chuyện vợ chồng ngoại tình trong khi học sinh đang biểu diễn văn nghệ, trong sự mê tín của bà đồng và cô Hạnh … Cái phi lý đáng cười đằng sau sự nghiêm túc, chính là điểm mà TNĐG có thể mang lại cảm nhận đa chiều cho khán giả.

Phong cách quay phim của TNĐG rất đặc biệt, đây làm phim thứ 2 ở Việt Nam sử dụng phong cách máy quay cầm tay làm chủ đạo (sau Cú và chim se sẻ)., đạo diễn Vinh Sơn nói rằng ông sử dụng phong cách này để thể hiện cái nhìn của người cõi âm đang theo dõi câu chuyện (điều này được thể hiện rất rõ ở một trường đoạn gần cuối phim). Tuy nhiên khác với Cú và chim sẻ sẻ – máy quay đặc biệt không ổn định, cắt cảnh nhanh theo phong cách giả tài liệu thường thấy ở phim Mỹ, TrĐG giống với phong cách Châu Âu hơn, máy rung nhẹ và dùng nhiều cú máy dài (long take) được tính toán rất kỹ. Đi kèm với những cú máy khó này phải nói đến tài năng xử lý ánh sáng của DOP Trinh Hoan, không thể chê được ở bất kỳ một cảnh nào. Có rất nhiều cảnh quay đẹp và có tính biểu hiện cao, giàu ý nghĩa. Rất tiếc, Giải cánh diều vàng đã không được trao cho nhóm quay phim của TNĐG, đây là một giải có kết quả không được thuyết phục.

Và người đứng đằng sau, tất nhiên là đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn. Do đây mới chỉ là phim nhựa thứ hai của ông, thật khó để một người chưa biết đến ông có thể tin ông làm tốt đến như vậy với TNĐG. Đây là lần đầu, tôi được thấy một đạo diễn Việt Nam thể hiện tầm nhìn xuyêt suôt cho cả bộ phim của mình, tạo được những điểm nhấn cần thiết, sự co giãn hợp lý của cảm xúc giũa hài hước và xúc động, đồng thời cũng rất tinh tế trong chỉ đạo các diễn viên bằng nhiều những chi tiết rất nhỏ nhưng đáng học hỏi. Tôi thực sự khâm phục đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn. Dù cho tại Cánh diều vàng 2009, có thể đạo diễn Lưu Huỳnh thể hiện được nhiều hơn, đoạt được giải Đạo diễn xuất sắc nhất vì Huyền thoại bất tử phức tạp hơn về mặt kỹ thuật, tôi vẫn tin rằng đạo diễn Vinh Sơn là nhà làm phim tài năng nhất của chúng ta hiện nay khi tác phẩm của ông thực sự có được ngôn ngữ biểu hiện của điện ảnh hiện đại.

Tuy nhiên, TNĐG cũng có những điểm yếu. Điểm yếu đầu tiên có lẽ chính là bản thân câu chuyện, có rất ít khán giả thực sự thích câu chuyện hơi cũ kỹ và được đẩy lên thái quá như thế , những điểm hay của kịch bản dẫu cò nhiều vẫn rất khó nhận ra đối với đại đa số khán giả, vì vậy không có gì ngạc nhiên nếu họ cảm thấy không thuyết phục. Một nhược điểm khác là sử dụng quá nhiều những cú máy dài, không thể phụ nhận là có rất nhiều cú máy thành công, tạo được cảm xúc mãnh liệt, nhưng cũng có rất nhiều cú máy không cần thiết, làm mạch phim bị chậm một cách rề rà đến sôt ruột. Những cú máy ít thành công này, phần nào đó làm giảm đi hiệu quả nhấn mạnh của những cú máy dài đặc sắc. Ngoài ra tôi cũng rất tiếc với đoạn kết của bộ phim, có lẽ vì để trung thành với nguyên tác, hoặc tiếc diễn xuất của diễn viên, đạo diễn Vinh Sơn đã bỏ lỡ một cách kết thúc đẹp và độc đáo, mà thay vào đó bằng một cách kết thúc không tồi nhưng quá thông thường. Đó cũng chính là điểm đáng tiếc nhất ở TNĐG. Nhưng dù vậy, cần phải khẳng định lại rằng, những nhược điểm đó không có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của bộ phim và dù không hiểu vì lý do gì mà nó chỉ được giải Cánh diều bạc, tôi vẫn tin chắc rằng TNĐG là bộ phim hoàn hảo nhất, xuất sắc nhất về mọi mặt mà điện ảnh Việt Nam đã từng có cho đến thời điểm này, và một bộ phim như TNĐG sẽ là mục tiêu phấn đấu của tất cả các nhà làm phim Việt Nam khác.

Lao Động Cuối Tuần, số 10, 6-8/3/2009

 
6 Comments

Posted by on 02/03/2009 in On Screen

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers