Vietnam Film Critics Community

Where true cinema lovers meet

Archive for April, 2009

Tình ca Tokyo, đừng từ bỏ những hy vọng dù là nhỏ nhất!

Posted by mytrang on 29/04/2009

Thể loại: Drama
Thời lượng: 121 phút
Đạo diễn: Kiyoshi Kurosawa
Diễn viên:
Haruka Igawa
Kai Inowaki
Teruyuki Kagawa
Kyoko Koizumi
Yu Koyanagi

Tokyo Sonata (tạm dịch Tình ca Tokyo), tác phẩm hợp tác của điện ảnh Nhật, Hà Lan và Hồng Kông đã vượt qua hàng loạt bộ phim bom tấn của điện ảnh Hàn Quốc, Trung Quốc chiến thắng giải phim hay nhất của Liên hoan phim quốc tế Hồng Kông lần thứ 33.  Tác giả kịch bản của bộ phim cũng được vinh danh ở hạng mục biên kịch xuất sắc nhất.

Từ một câu chuyện mang thông điệp xã hội…

Xuất hiện khá lặng lẽ, Tình ca Tokyo là tác phẩm mở đầu cho thời kỳ thôi làm phim kinh dị của đạo diễn hàng đầu Nhật Bản Kiyoshi Kurosawa. Bộ phim là một câu chuyện gia đình rất đỗi bình thường nhưng chứa đựng nguồn sức mạnh đáng kinh ngạc từ những điều chua xót, hài hước và niềm hy vọng luôn tồn tại trong mỗi con người.

tokyosonataPhim xoay quanh cuộc sống thường ngày của một gia đình Nhật Bàn điển hình. Người cha Ryuhei Sasaki (Teruyuki Kagawa đóng) là một thương gia Nhật Bản mải mê với công việc để đảm bảo cuộc sống gia đình. Vợ ông, Megumi ((Kyoko Koizumi) một bà nội trợ Nhật Bản chính hiệu,  một mình đảm đương việc trông coi nhà cửa và chăm sóc hai cậu con trai. Con trai  lớn là Takashi (Yu Koyanagi) luôn thể hiện vẻ ngoài gan lỳ bất cần. Cậu út Kenji (Kai Inowaki) yếu đuối, nhạy cảm, luôn lén lút tập đàn piano vì sợ sự phản đối kịch liệt của ông bố.

Nhìn bề ngoài, đó là một gia đình kiểu mẫu, mỗi người đều cố gắng sống đúng chuẩn mực của mình. Nhưng thực sự, cả bốn người trong gia đình đều có những vấn đề về giao tiếp. Họ không tìm ra cách để nói lên những điều mình mong muốn. Tất cả đều bị kìm nén dưới vẻ ngoài bình thản, trật tự. Mọi việc trở nên rắc rối khi Ryuhei, trụ cột kinh tế, điểm tựa tinh thần của gia đình bị mất việc. Quá xấu hổ, ông đã giấu kín mọi người trong gia đình, cố làm ra vẻ bình thường. Hàng ngày, ông rời nhà nhưng không đến văn phòng mà “ẩn nấp” ở công viên, ở những quán ăn từ thiện…Vợ ông, Megumi luôn cảm thấy mình không hạnh phúc mà không hiểu lý do tại sao. Nhịp sống đều đều đã rút kiệt sức lực của bà. Rồi khi bắt gặp chồng mình xin soup miễn phí, bà không chấp nhận việc đó, không muốn nhìn mặt chồng nữa. Hai cậu con trai cũng rơi vào trạng thái không muốn chia sẻ với những người thân…

Bộ phim mang màu sắc tâm lý rất đặc trưng của văn hóa Nhật Bản. Mới nghe qua nội dung, người đọc dễ hình dung đây là một bộ phim bi kịch khi nhân vật nào cũng vùng vẫy trong những bế tắc của mình. Nhưng điểm đặc sắc chính là cách kể chuyện của Kiyoshi Kurosawa không rơi vào bi kịch tận cùng hay sự hài hước ở mức đơn giản. Từ bối cảnh giản dị trong sáng, đa số những cảnh quay trung cảnh thể hiện điểm nhìn khách quan, lối diễn xuất nhẹ nhàng bình thản của diễn viên…đã khiến cho khán giả tham gia vào câu chuyện, đồng cảm với những suy nghĩ của nhân vật. Không còn thấy bóng dáng của phong cách kinh dị trước đó như Curu và Pulse trong Tokyo Sonata mà chỉ thấy một khả năng bóc tách tâm lý nhân vật rất tinh tế của Kiyoshi Kurosawa.

Có thể nói sự hấp dẫn của bộ phim không thể hiện nhiều ở nghệ thuật thể hiện mà chính là ở vấn đề mà bộ phim đã nêu ra. Đạo diễn đã thành công khi tạo dựng được một không khí chân thực của nỗi thất vọng tuổi trung niên. Chúng ta sẽ làm gì khi mãi mới nhận ra rằng, tất cả những gì mình lựa chọn, mình cố gắng cho một tương lai tốt đẹp hơn chỉ là ảo tưởng không hơn không kém? Đạo diễn Kurosawa trong lời phát biểu khi thay mặt nhóm tác giả nhận giải thưởng biên kịch xuất sắc nhất đã thổ lộ “câu chuyện nêu lên vấn đề của một gia đình bình thường đang sống tại Nhật Bản nhưng vấn đề đó đã không chủ đe dọa đến cuộc sống của người Nhật mà còn tác động đến mọi người, mọi nơi trên thế giới.”

…đến một cách làm mới của đạo diễn Kurosawa

Giá trị của bộ phim Tokyo Sonate đã được ghi nhận bằng một giải thưởng điện ảnh danh giá. Nhưng muốn biết quá trình đạo diễn tư duy về bộ phim diễn ra như thế nào, hãy cùng trò chuyện đạo diễn Kurosawa.

Khi kịch bản bộ phim đến tay ông, ông đã hình dung ngay thể loại phim mình sẽ làm chưa?
Lần đầu tiếp xúc với kịch bản, tôi chưa có được sự hình dung chi tiết là mình sẽ làm gì. Nhưng bạn biết đấy, trước đó tôi đã có kinh nghiệm làm phim kinh dị rồi và cũng gây được ấn tượng cho người xem ở thể loại phim đó.  Vì thế lần sau này, tôi muốn bộ phim của mình phải có màu sắc khác đi, càng khác với thể loại phim kinh dị càng tốt. Tôi đã chia sẻ với nhà sản xuất của tôi những suy nghĩ như vậy. Ông ấy đã mua một kịch bản drama, một bi kịch gia đình rất sâu sắc. Và tôi nghĩ là mình muốn làm nó.

Một trong những khía cạnh mà bộ phim phản ánh là mảng đời sống của những người thất nghiệp với số lượng ngày càng tăng lên ở các thành phố lớn. Ông có cho rằng đây là cái nhìn toàn cảnh về những mảnh đời có thật của Tokyo? Ông đã phỏng vấn ai trong số những người này?
Thú thực là tôi chưa thể phỏng vấn những người gia cư, thất nghiệp trên đường phố Tokyo nhưng tôi thực sự là đã nghe rất nhiều về họ. Cũng có nhiều quyển sách hay điều tra xã hội về cộng đồng này, tôi đọc và tìm xem mình sẽ đưa thêm những chi tiết gì vào phim. Tôi quay bộ phim này cách đây đã một năm, đến giờ tôi cho rằng cộng đồng thất nghiệp đã có ít nhiều thay đổi. Thái độ của người Nhật với hiện tượng này cũng có nhiều thay đổi. Mọi người không quá sock khi rơi vào tình cảnh này nữa, vì thất nghiệp có thể đến với bất cứ ai. Người thất nghiệp sẽ không phải giấu diếm gia đình bằng mọi giá như những gì bạn xem trong phim. Nhưng tôi vẫn cho rằng, thất nghiệp vẫn là chuyện cũ rích.

Trong một bài báo về bộ phim, tác giả bài viết cố gắng tìm ra những điểm chung giữa Tokyo Sonata và những phim kinh dị trước đó của ông. Liệu những kỹ thuật làm phim trước đây của ông có bị bỏ quên trong bộ phim này không hay ông vận tận dụng những kỹ thuật cũ vào bộ phim theo cách ít người nhận ra nhất?
Khi làm Tokyo Sonata, tôi luôn ý thức được rằng, mình không làm phim kinh dị nên không phải tìm cách tìm cách gia tăng nỗi sợ hãi. Tôi thường tưởng tượng trong đầu từng cảnh quay của bộ phim sắp sửa quay, chuyển động của các nhân vật trong nền cảnh thậm chí ngay trước khi tôi vẽ ra storyboard. Càng tưởng tượng rõ ràng sẽ càng dễ tìm ra cách cho các vật thể chuyển động trong khung hình.  Có một số yếu tố không thể thấy rõ trong khuôn hình nhưng sẽ được thể hiện qua ánh sáng, bóng mờ, gió, thậm chỉ cả âm thanh. Ở bất kỳ thể loại phim nào, người đạo diễn cũng cần ý thức về vấn đề đó. Tôi cũng vẫn thể hiện cách làm của mình cho phù hợp với từng bộ phim.

Ông đã xem phiên bản phim kinh dị Pulse do điện ảnh Mỹ thực hiện chưa? Cảm giác của ông như thế nào?

Tôi chưa có dịp xem, tôi thực sự muốn xem nó. Nhưng thẳng thắn mà nói công ty làm lại bộ phim đó không hề thông báo gì với tôi về quá trình thực hiện. Họ mua bản quyền qua hãng sản xuất và cứ thế thực hiện thôi, không biết lúc nào tôi có cơ hội được xem đây?

Tokyo Sonata được đón nhận như thế nào ở Nhật Bản?
Tôi không có những phân tích khách quan về những phản ứng của khán giả Nhật Bản nhưng chắc chắn không nhiều đâu. Tôi nghĩ điều đó cũng dễ hiểu với phong cách của bộ phim. Ở Nhật Bản chỉ có một số ít các bộ phim trở thành quả bom tấn với ý nghĩa về mặt doanh thu, trong khi điện ảnh đích thực đôi khi không có đông đảo khán giả. Cũng có lúc điện ảnh không phải là cảm xúc, là hồn của một dân tộc mà đơn thuần là một loại hình nghệ thuật mang lại niềm vui cho mọi người.

Nhưng bộ phim này của ông được coi là một bản miêu tả khá chân thực về Nhật Bản đương đại. Nếu nói như vậy, định hướng bộ phim này của ông sẽ là thị trường quốc tế chứ không phải khán giả nhà, những người không có nhiều hứng thú lắm?
Không thể nói như vậy được. Đến giờ tôi vẫn chưa nhận được những lời phàn nàn về việc định hướng khán giả thiên lệch hay có những dụng ý sai khác đi so với mục đích của người làm phim.  Gia đình nhỏ trong bộ phim của tôi rất thực tế, một kiểu gia đình điển hình Nhật Bản nhưng cũng không thể đại diện cho một nền văn hóa hay dân tộc Nhật Bản, bao gồm cả tôi trong đó. Tôi cũng lo lắng những khán giả nước ngoài sẽ phản ứng thế nào về bức chân dung này. Họ có hiểu được những lo lắng mà những gia đình kiểu Nhật hiện nay đang phải đối mặt hay không. Nhưng chính qua liên hoan phim lần này, khi tôi quan sát phản ứng của khán giả,  tôi đã nhận ra được sức mạnh quốc tế của phim ảnh. Không có quá nhiều trở ngại để khán giả nước này hiểu được bộ phim của nước khác. Thậm chí khán giả nước ngoài còn có thể tạo nên “sự cộng hưởng” trong cách hiểu một bộ phim. Điều này đã củng cố niềm tin vào sức mạnh phim ảnh của tôi.

Dưới góc nhìn của một khán giả Mỹ, tôi nhận thấy những điều mà bộ phim thể hiện có nhiều điểm tương đồng với xã hội của chúng tôi. Ông nghĩ thế nào về sự khác biệt của gia đình kiểu Nhật với thế giới?
Tôi không chắc những khán giả Mỹ nhìn nhận bộ phim theo cách nào. Nhưng tôi nghĩ điểm khác biệt lớn nhất là dường như các thành viên trong gia đình Nhật Bản tìm cách giao tiếp với nhau khó khăn hơn. Bạn có thể thấy mỗi người có rất nhiều điều muốn nói nhưng họ đã giấu kín trong lòng. Thậm chí ngay cả khi họ cùng ăn tối với nhau, cậu con trai nhỏ muốn chơi dương cầm nhưng phải rất lâu sau cậu bé mới dám nói ra điều đó. Tôi nghĩ kiểu gia đình đó khác nhiều so với những gì mọi người thường nghĩ về một gia đình chia sẻ kiểu truyền thống, cũng là kiểu gia đình hiếm gặp.

Phần hai của bộ phim có nhịp điệu nhanh hơn hẳn phần đầu tiên. Nhịp phim này liệu có bị ảnh hưởng bởi tốc độ trong kịch bản. Với cách tiến triển như vậy ông muốn làm nổi bật điều gì?
Đúng, đó là nhịp điệu do kịch bản tạo nên. Tôi nghĩ rằng không nên thay đổi giọng điệu của phim, Tôi luôn muốn bộ phim của mình làm có kịch tính tăng dần theo thời gian, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm đến khi kết thúc phim. Nếu hoàn toàn phát triển câu chuyện giống như mọi việc diễn ra tự nhiên ngoài cuộc sống sẽ khó tạo nên sự hấp dẫn. Chính vì vậy tôi có chêm xen một số cảnh kịch tính hơn.

Việc đạo diễn bộ phim này có ảnh hưởng như thế nào đến những bộ phim tiếp theo của ông?
Thành công của bộ phim cho tôi niềm tin rằng tôi có thể thử một số thứ mới lạ và thành công với những thử nghiệm đó. Hiện nay, tôi tràn trề cảm hứng để ra ngoài, tìm một câu chuyện mới, những điều mới lạ và làm bộ phim mới. Phim tiếp theo của tôi có thể sẽ rất khác so với những phim kinh dị trước đó của tôi hay khác hẳn với Tokyo Sonata.

Vậy là ông chưa quyết định sẽ làm bộ phim mới?
Tiếc là hiện nay tôi chưa có gì để công bố nhưng tôi vẫn đang tiến hành một số dự án, hy vọng sẽ sớm được thực hiện.

Tham khảo

www.nwfilmforum.org/live/collection/press/885

http://daily.greencine.com/archives/007381.html

www.undertheradarmag.com/…/kiyoshi_kurosawa/

Posted in Features, Interviews | Leave a Comment »

Sự thiếu chuyên nghiệp của một bài điểm phim*

Posted by FilmCriticsVN on 23/04/2009

Từ lâu điện ảnh là một loại hình nghệ thuật/giải trí thu hút sự quan tâm đặc biệt của báo chí trong nước. Mặc dù vậy, phê bình điện ảnh, hay gọi một cách ít hàn lâm hơn: điểm phim, lại là một thể loại còn xa lạ. Đa số những bài ‘giới thiệu phim’ là sự lặp lại (có lựa chọn) thông cáo báo chí của đơn vị phát hành. Những bài viết có chất lượng chủ yếu xuất hiện trên blog cá nhân hoặc forum về điện ảnh, chuyên nghiệp về nội dung nhưng thiếu tính chính thống và hạn chế về đối tượng độc giả.

Bởi vậy người viết đã khá ngạc nhiên khi thấy trên VietNamNet ngày 12/4/2009 xuất hiện một bài điểm phim, không những vậy còn là bài điểm một bộ phim nghệ thuật hiếm hoi được công chiếu ở Việt Nam: Đông Tà Tây Độc bản Redux của đạo diễn Vương Gia Vệ. Có điều nỗi ngạc nhiên ấy đã nhanh chóng trở thành tiếc nuối sau khi đọc hết bài viết của tác giả Thanh Chung.

Sự tiếc nuối này một phần đến từ thông tin gần nửa khán giả bỏ về khi phim chiếu được nửa chừng. Nếu sự lạnh nhạt của khán giả đối với một bộ phim khó xem như Đông Tà Tây Độc là điều có thể dự đoán, thì bài báo lại là một bất ngờ, đẩy nỗi tiếc nuối ấy lên một bậc.

Sắc vàng đặc trưng của Ashes of Time redux
Sắc vàng đặc trưng của Ashes of Time redux

Trước hết bài viết làm độc giả ngạc nhiên với dòng subhead khá thiếu thiện chí: Phim vắng khách vẫn ‘tái bản’. Hình như theo tác giả chỉ những phim ăn khách mới ‘xứng đáng’ tái bản. Nếu vậy, bộ phim kinh điển Metropolis, cũng vắng khách khi ra đời, hẳn không hề đáng được phục chế chút nào.

Tác giả đã cập nhật khá nhiều chi tiết bên lề bộ phim, đúng có, sai có (một ví dụ: Đông Tà Tây Độc không hề đoạt giải Sư tử vàng), tiếc là nó không giúp gì nhiều cho việc hiểu và đánh giá tác phẩm. Bài viết có câu: ‘khán giả châu Âu và châu Mỹ đều hồi hộp muốn biết một bộ phim chắc là phải rất hay mới bỏ ra nhiều kinh phí như thế để tái bản.’ Đông Tà Tây Độc ra đời đã lâu, hay (hoặc dở) thế nào, rất nhiều người ĐÃ xem, ĐÃ biết. Nếu chưa, thì các giải thưởng tác giả đã liệt kê có thể là bảo chứng. Phục dựng có thể sửa đổi, nhưng không thể cho ra một tác phẩm hoàn toàn khác để khán giả hồi hộp ‘xem có hay không’ được. Đấy là chưa kể tới lỗi ngữ pháp khá vụng về trong câu văn này.

Từ đầu đến cuối, tác giả luôn nhấn mạnh Đông Tà Tây Độc là phim kiếm hiệp thực thụ. Với người chưa xem, chưa biết gì về bộ phim, phát ngôn như thế là điều dễ hiểu. Nhưng với người đã tìm hiểu (để viết bài), đã xem phim, nhận định này có phần quá vội vàng và ấu trĩ.

Xét theo genre (thể loại), gọi đây là phim kiếm hiệp không có gì sai: có đấm đá (chữ của tác giả), lại dựa trên tiểu thuyết Kim Dung. Kỳ thực không phải vậy. Ai đã xem phim Vương Gia Vệ, hẳn sẽ nhận ra, bất chấp sự khác biệt về thể loại và bối cảnh, phim của ông rất nhất quán về chủ đề. Từ Hoa dạng niên hoa (drama, bối cảnh Hong Kong thập kỷ 60), tới 2046 (viễn tưởng, bối cảnh tương lai giả định), đến My blueberry nights (road movie, bối cảnh nước Mỹ hiện đại), đề tài luôn là nỗi nhớ, ký ức, sự khắc khoải.

Và Đông Tà Tây Độc cũng không là ngoại lệ, bởi đạo diễn chỉ mượn thể loại kiếm hiệp và tiểu thuyết Kim Dung để truyền tải ý tưởng của mình. Những cảnh võ thuật trong phim, bởi thế rất ít và không hề ấn tượng nếu xét theo tiêu chí phim kiếm hiệp. Rất dễ hiểu, vì võ thuật không phải là yếu tố quan trọng nhất, dù những cảnh quay này không phải là không có dụng ý. Trong khi những đoạn đối thoại được quay cận cảnh, mượt mà, bố cục ánh sáng kỹ lưỡng, thì những cảnh giao đấu lại chậm và nhòe, nhằm làm nổi bật sự tương phản giữa thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật và thế giới giang hồ đầy máu me chém giết.

Tác giả tiếp tục làm người đọc bất ngờ khi chê hình ảnh phim ‘mờ nhạt, xám xịt.’ Thú vị thay, Golden Osella (mà tác giả nhầm với Sư tử vàng) lại là giải BGK ở Venice dành cho nhà quay phim, Christopher Doyle (người quay Anh hùng!). Nhân vật thì bị chê là ‘nhếch nhác, rách nát, nghèo nàn chẳng hợp với dòng phim kiếm hiệp kiểu mới của Trung Quốc gần đây.’ Có lẽ tác giả quên mất rằng đây là bản redux của một phim từ năm 1994, và redux không phải là remake. Hơn nữa phim kiếm hiệp có hai trường phái: mỹ hóa như Anh hùng, Ngọa hổ tàng long và hiện thực như Thất kiếm, Đao. Có lẽ nào trang phục phải lộng lẫy như Hoàng kim giáp mới là phim hay?

Kế đó tác giả than phiền rằng không biết nhân vật của Lưu Gia Linh là ai, cứ ‘xoẹt đi xoẹt lại’ tới cuối phim mới biết là vợ của hiệp sĩ mù, như ‘thách đố sự nhẫn nại của khán giả.’ Điện ảnh có rất nhiều cách để kể chuyện – thời gian tuyến tính, hồi tưởng, truyện trong truyện, đồng hiện, v.v… tất cả đều có nét đặc sắc và dụng ý riêng. Không lẽ khi nhân vật xuất hiện phải kèm mấy dòng giới thiệu tiểu sử, nói rõ quan hệ nhân thân mới là đúng cách? Và ‘xoẹt đi xoẹt lại’, không lẽ lại là thứ ngôn ngữ chính thống của báo chí?

Bộ phim bị chê là kết cấu chắp vá, rời rạc, khó hiểu. Thực tế, đây không hề là sự tập hợp của nhiều câu chuyện nửa chừng như tác giả tưởng. Tất cả xoay quanh một mình nhân vật Âu Dương Phong. Những nhân vật khác đến rồi đi, mỗi người chia sẻ một mảnh đời với anh ta, để anh ta từ đó soi lại chính mình. Thay vì bám sát người dẫn chuyện thì tác giả lại muốn đi theo những nhân vật phụ, vậy thì sao mà bộ phim lại không trở nên chắp vá rời rạc cho được?

Như đã nói, thể loại kiếm hiệp và nguyên tác Kim Dung chỉ là cái nền cho đạo diễn tung hoành với sức sáng tạo của mình. Tờ New York Times nhận định, ‘đây là bộ phim mà ông đã rũ bỏ thể loại và xa rời cái tầm thường của cốt truyện chính thống để tìm đến sự trừu tượng, vẻ đẹp, và nghệ thuật hình ảnh.’ Tiếc thay những sáng tạo và đột phá này lại trở thành những khuyết điểm tầm thường trong mắt tác giả, người đã xem bộ phim với hai cái ‘bắt’: bắt phim phải là kiếm hiệp xịn, phải đấm đá, hoành tráng; bắt nhân vật phải giống hệt trong truyện, Âu Dương Phong phải hung ác, Hồng Thất Công phải ra dáng bang chủ Cái Bang tương lai.

Trong khi báo chí không ngừng lên tiếng về chất lượng nghệ thuật thấp kém của phim nội, thì thật đáng buồn khi một phim nghệ thuật nước ngoài hiếm hoi chiếu ở Việt Nam lại bị một nhà báo bình luận đầy cảm tính như thế. Đáng ra trước khi chê tác giả nên cố gắng tìm hiểu vì sao bộ phim lại được ngần ấy giải thưởng, vì sao nó lại được đánh giá cao như vậy. Và nếu có chê, thì cũng phải có cách tiếp cận hợp lý, lập luận rõ ràng, với một hiểu biết tối thiểu về điện ảnh.

Như đã nói, Đông Tà Tây Độc là một phim khó xem. Ai cũng có quyền không thích, và có quyền chê. Ngay trong giới phê bình, không phải ai cũng tung hô Đông Tà Tây Độc. Nhưng đem những nhận xét ngây ngô cảm tính để phủ nhận giá trị của một tác phẩm nghệ thuật lại là điều tối kỵ. Nhất là khi sự phủ nhận này đến từ một phóng viên văn hóa đứng ở vị trí giới thiệu và định hướng cho độc giả. Một câu hỏi nữa đặt ra là vai trò của biên tập viên ở đâu khi để một bài viết nhiều khiếm khuyết như vậy được xuất bản. Bài báo này có thể là ngoại lệ về mức độ cẩu thả, nhưng sự thiếu chuyên nghiệp khi viết về điện ảnh ở Việt Nam thì có lẽ đã thành thông lệ.

_________________

(*) Bài điểm phim này được xuất bản trên VietNamNet từ ngày 12/4/2009, mà đến hôm nay (23/4) bài phản hồi mới xuất hiện thì cũng là khá muộn, tính thời sự đã mất đi khá nhiều. Tuy nhiên đây là điều bất khả kháng, rất mong độc giả lượng thứ. Bài viết hoàn thành từ 13/4 và được gửi cho VietNamNet với tinh thần góp ý. Tuy nhiên, từ đó đến nay VietNamNet không hề có hồi âm. Người viết đã liên hệ với một số báo khác, nhưng đều nhận được sự từ chối vì nội dung nhạy cảm. Âu cũng là một thông lệ của làng báo Việt Nam.

Bài viết được đăng lên filmcriticvn nhân dịp Đông Tà Tây Độc ra mắt tại Hà Nội (24/4).

Posted in Features | 18 Comments »

Túy sinh mộng tử

Posted by Nham Hoa on 18/04/2009

Từ lâu, “toàn sao” đã trở thành công thức quen thuộc để đảm bảo sự thành công về thương mại cho một bộ phim: Love Actually hay Ocean’s Eleven. Và gần đây nhất, Xích Bích. Tầm tầm về chất lượng, nhưng dư sức khiến khán giả choáng ngợp và no nê thỏa mãn với một bữa đại tiệc nhìn-ngắm-thần-tượng, đó là tất cả những gì những bộ phim “toàn sao” thường mang lại.

Phim của Vương Gia Vệ là ngoại lệ.

Đông Tà Tây Độc, lại là ngoại lệ trong ngoại lệ.

Lần tái xuất này của Đông Tà Tây Độc, mười lăm năm sau ngày bộ phim ra đời, sáu năm sau ngày mất của Trương Quốc Vinh, một lần nữa khẳng định điều đó.

Trên danh nghĩa, Đông Tà Tây Độc là sự tái hiện tác phẩm võ hiệp nổi tiếng của Kim Dung, Xạ điêu anh hùng truyện, lên màn bạc. Trên thực tế, những gì Vương Gia Vệ giữ lại chỉ là tên tuổi và danh hiệu của từng nhân vật. Câu chuyện của Đông Tà Tây Độc là một câu chuyện không bao giờ cũ mà người đạo diễn đeo kính đen lừng danh của điện ảnh Hong Kong sẽ còn kể mãi, sau hai thập kỷ theo nghề và sau chín bộ phim: câu chuyện của ký ức, của quá khứ, của hoài niệm, của nỗi khắc khoải vì rất nhớ và niềm tuyệt vọng khi chẳng thể nào quên, cho dù đã cạn hết một vò Túy sinh mộng tử.

Lâm Thanh Hà trong vai Độc Cô Cầu Bại
Lâm Thanh Hà trong vai Độc Cô Cầu Bại

Câu chuyện xảy ra khi Hoàng Dược Sư (Lương Gia Huy) chưa là Đông Tà, Âu Dương Phong (Trương Quốc Vinh) chưa thành Tây Độc, Hồng Thất Công (Trương Học Hữu) vẫn còn đủ mười ngón tay, và Độc Cô Cầu Bại (Lâm Thanh Hà) chưa nổi danh khắp giang hồ. Lấy Âu Dương Phong làm trung tâm, câu chuyện xoay quanh những tao ngộ của gã môi giới sát thủ ở vùng quan ngoại này với những con người khác nhau tìm tới gã: khách hàng có, bằng hữu có, và sát thủ làm thuê cũng có. Mỗi cuộc gặp gỡ lại khơi dậy một chút quá khứ đã ngủ yên trong lòng gã, thôi thúc gã một ngày kia trở lại Bạch Đà sơn, để rồi trở thành bá chủ võ lâm một miền Tây Vực.

Mặc dù rất xa rời nguyên tác của Kim Dung, nhưng có những giây phút Đông Tà Tây Độc lại mang đến cho người xem cái cảm giác đây mới là con người thực của Âu Dương Phong và Hoàng Dược Sư. Những con sóng bạc và những đóa hoa đào, phải chăng là nỗi ám ảnh khởi phát từ hai câu thơ ở Thí Kiếm đình, đảo Đào Hoa: Hoa đào bóng rụng phi thần kiếm, biển biếc triều dâng trỗi ngọc tiêu. Vương có lẽ cũng là người mê kiếm hiệp, theo cách của riêng ông, và bởi thế đã hiểu và diễn dịch lại nó trên góc nhìn của riêng ông, nghĩa là qua một cốt truyện hoàn toàn mới mẻ.

Cốt truyện của Đông Tà Tây Độc Redux hầu như không thay đổi so với bản gốc 1994, ngoại trừ một số cảnh giao đấu đã được cắt bỏ, có thể vì bản gốc bị hư hại, mà cũng có thể vì Vương chủ ý. Dù sao đi nữa, nó cũng khẳng định một điều: bất chấp cái tên kiếm hiệp, bất chấp những nhân vật kiếm hiệp, Đông Tà Tây Độc chưa bao giờ là một bộ phim kiếm hiệp. Kiếm hiệp, cũng như Hong Kong thập niên 60, nước Mỹ thời hiện đại, hay thế giới giả tưởng năm 2046, tất cả đều chỉ là cái nền cho câu chuyện về ký ức của ông mà thôi.

Lần này, câu chuyện được kể lại qua góc máy đẹp đến ngỡ ngàng của Christo-pher Doyle. Tên tuổi tay máy người Anh đã gắn liền với Vương qua rất nhiều tác phẩm, nhưng có lẽ Đông Tà Tây Độc là dịp để cả hai thả sức tung hoành với những thể nghiệm của mình: Vương phá bỏ mọi hạn chế của chuyển thể kịch bản và tạo ra một cốt truyện hoàn toàn mới, ước lệ, phi thực, và mơ hồ tới mức dường như lỏng lẻo; còn Doyle phô diễn những góc quay cận cảnh mướt mát, cách bài trí ánh sáng đầy biến ảo, với những khung hình chỉ có thể miêu tả bằng hai chữ “thấm đẫm” sắc màu. Sự cách điệu và phá cách không hạn chế của cả kịch bản và quay phim chính là lý do khiến Đông Tà Tây Độc khó xem với đa số khán giả khi nó ra đời năm 1994; và tới nay nó vẫn được coi là bộ phim không được đánh giá đúng nhất của Vương.

Nếu những thay đổi về hình ảnh của bản Redux so với bản 1994 dừng lại ở chỗ màu sắc nồng hơn, đậm hơn, lấy sắc vàng sa mạc là chủ đạo, khiến cảnh vật đôi khi như tranh hơn là phim (!), thì phần nhạc của Redux đã thay đổi gần như hoàn toàn. Soundtrack cũ chủ yếu là nhạc điện tử, mang lại cho phim một âm hưởng lạ lẫm rất avant-garde, đặc biệt phù hợp với không gian nặng tính biểu tượng của phim. Bản Redux sử dụng lại một số giai điệu cũ, song được Ngô Đồng phối lại cho dàn nhạc giao hưởng, kết hợp với nhiều đoạn solo của Yo-Yo Ma, tuy dễ nghe hơn, nhưng lại ít nhiều tước đi cái độc đáo toàn diện của bộ phim khi mới ra đời.

Có câu “dưới tay tướng giỏi không có quân hèn,” và quả thực dưới tay Vương lần này có thể nói chỉ toàn cao thủ. Tuy nhiên với một kết cấu và phong cách kiểu Đông Tà Tây Độc thì có lẽ ngoại trừ Trương Quốc Vinh, nhân vật chính và đồng thời là người dẫn chuyện, các diễn viên khác không có đất (mà cũng không cần đất, khi một phần không nhỏ cái hay của phim nằm ngoài diễn xuất) để thể hiện nhiều. Dĩ nhiên không thể phủ nhận Lâm Thanh Hà là lựa chọn chính xác nhất cho Mộ Dung Yên/Yến, bởi ngoài cô ra khó ai có thể đóng một vai phản xuyến (nữ cải nam trang) ngọt ngào và tà dị đến thế. Cái phong lưu của Lương Gia Huy, nét nội tâm ở Lương Triều Vỹ, và gương mặt hài hước của Trương Học Hữu rất hợp với vai diễn của họ, và bởi thế cho nên lại không đòi hỏi cả ba phải nỗ lực quá nhiều để đóng tròn vai. Về Dương Thái Ni và Lưu Gia Linh, ngoài cảm giác thú vị khi được nhìn lại gương mặt hai mỹ nhân của điện ảnh Hong Kong ở thời hoàng kim, thì không có gì nhiều hơn để nói.

Khi được hỏi tại sao ông lại thực hiện bản Redux của Đông Tà Tây Độc, Vương Gia Vệ nói ông làm điều đó để tưởng nhớ Trương Quốc Vinh, và vì bộ phim “cũng giống một chai vang, cần thời gian để thở; có lẽ nó thuộc về hiện tại, thay vì 14 năm về trước.” Nhưng trong thâm tâm, Vương hẳn cũng không thực sự tin vào điều đó. Bởi cũng như ông đã và sẽ luôn đứng một mình giữa dòng chảy của điện ảnh Hong Kong, Đông Tà Tây Độc đã và sẽ luôn đứng một mình trong dòng phim kiếm hiệp. Hai con người góp phần lớn nhất tạo ra nó, người chết nay đã đi vào cõi mộng, còn người sống vẫn đam mê với cơn say ký ức kéo dài suốt bấy nhiêu năm.

Posted in On Screen | 6 Comments »

Watchmen: Ai canh chừng những kẻ canh chừng?

Posted by V+ on 03/04/2009

Đạo diễn: Zack Snyder
Diễn viên
: Billy Crudup, Jackie Earle Haley, Jeffrey Dean Morgan
Thể loại: Action | Fantasy | Sci-Fi | Thriller
vCritic: V+ – Đánh giá: 4,5 / 5 *

Ngay từ thế kỷ Công nguyên đầu tiên, giới triết gia đã tranh cãi nhau về câu thơ “Quis custodiet ipsos custodes?” của nhà thơ La Mã, Juvenal. Ai sẽ canh chừng những kẻ được giao trách nhiệm canh chừng người khác? Đó cũng đồng thời là tư tưởng xuyên suốt bộ phim Watchmen (Những kẻ canh chừng) chuyển thể từ 12 tập truyện tranh cùng tên của tác giả Alan Moore và họa sỹ Dave Gibbons.

Watchmen là câu chuyện về những anh hùng và siêu anh hùng, nhưng cả bộ truyện tranh lẫn phim chuyển thể đều không coi tính anh hùng là một chất liệu để khai thác mà coi đây là một đối tượng để mổ xẻ nghiên cứu. Tác giả Alan Moore cho biết, ông tiếp cận Watchmen từ ý tưởng “Tất cả sẽ bắt đầu bằng cái chết của một anh hùng. Để khám phá những bí ẩn đằng sau cái chết này, người đọc sẽ có cơ hội được đi sâu vào thế giới nội tâm của những nhân vật anh hùng khác”. Rõ ràng đó không phải là hướng tiếp cận thông thường của một câu chuyện về siêu anh hùng, có thể chính vì lẽ đó mà Watchmen đã trở thành bộ truyện tranh duy nhất lọt vào danh sách 100 tác phẩm tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại của tạp chí Time.

Ý thơ tranh cãi được Watchmen gián tiếp giới thiệu ngay từ đầu trong cảnh phim nhân vật The Comedian giết hại một phụ nữ Việt Nam. Cảnh phim đề cập rất rõ ràng mối quan hệ giữa những kẻ canh chừng và những người được canh chừng. Nhân vật Dr. Manhattan là người duy nhất có đủ quyền lực để canh chừng những “kẻ canh chừng”, trong trường hợp cụ thể này là ngăn cản The Comedian giết người, tuy nhiên với tâm lý phức tạp cộng thêm sự xem thường giá trị của con người, Dr. Manhattan đã gần như gạt bỏ tính trách nhiệm ra khỏi quyền lực của mình. Đoạn phim này chính là phần đặt vấn đề của tư tưởng cả bộ phim, đáng tiếc là cơ quan kiểm duyệt Việt Nam đã vội vã cắt bỏ khiến khán giả không thể thưởng thức và cảm nhận bộ phim một cách trọn vẹn.

Với thời lượng gần 3 tiếng đồng hồ, Watchmen quá dài đối với những ai chỉ muốn khám phá kẻ đã giết hại The Comedian, bởi lẽ đây chỉ là một trong số rất nhiều chi tiết cần khám phá, bao gồm một lượng ẩn dụ khá đậm đặc. Một trong số đó là nhân vật Dr. Manhattan. Với quyền lực tuyệt đối, Dr. Manhattan là vũ khí quyết định của Mỹ, đến nỗi có người đã phải thốt lên: “Chúa trời hiện hữu, và ông ấy là người Mỹ” để ám chỉ nhân vật này. Rất đáng ngạc nhiên là chi tiết này đã không thể trở thành lý do để các nhà kiểm duyệt phim nên giảm bớt sự nhiệt tình của mình. Người Việt Nam sẽ không tự ái khi phải chứng kiến cảnh Dr. Manhattan và nữ thần Valkyrie cùng hiện ra, chỉ tay vào những chiến sỹ quân giải phóng để đem lại thắng lợi cuối cùng cho người Mỹ tại chiến trường Việt Nam. Chẳng có lý do gì để phải tự ái khi chính người Mỹ đã gián tiếp tuyên bố rằng Mỹ chỉ có thể chiến thắng nếu… “Chúa trời hiện hữu, và ông ấy là người Mỹ”.

The Comedian có lẽ là nhân vật sinh động nhất trong Watchmen. Là anh hùng duy nhất mang sắc cờ Mỹ trên trang phục và cũng là nhân vật duy nhất lĩnh sẹo từ cuộc chiến tranh Việt Nam, chính vì thế cũng có thể nói The Comedian đã đại diện cho cả nước Mỹ. Nếu hình ảnh người phụ nữ mang thai bị The Comedian ruồng bỏ và giết hại là ẩn dụ cho sự dính líu của nước Mỹ tại chiến trường Việt Nam, thì hình ảnh vết sẹo do người phụ nữ này gây nên trên khuôn mặt y lại là ẩn dụ của hậu quả mà nước Mỹ phải gánh chịu từ cuộc chiến tranh. Vết sẹo đã khiến nụ cười vốn ngạo nghễ của The Comedian trở nên méo mó, như nét tô điểm cho chất Pagliacci trong phong cách hài hước đầy mỉa mai của y: mỉa mai như những giọt nước mắt trên khuôn mặt kép hài, mỉa mai như vết máu trên bộ mặt hạnh phúc. Một trong những câu thoại hay nhất của Watchmen là khi nhân vật Nite Owl 2 hỏi: “Điều gì đã xảy ra với giấc mơ Mỹ?” The Comedian trả lời: “Nó đã trở thành hiện thực, anh đang nhìn thấy nó đấy,” trong khi chỉ vào đám đông cuồng nộ đang phá phách và đòi giải tán nhóm người vẫn luôn tự cho mình là “Những kẻ canh chừng”.

Watchmen có một loạt những yếu tố có có thể liên kết để từ đó suy ra những vấn đề sâu xa hơn: Đó là vở Die Walkuere của Richard Wagner và triết lý của Nietzche. Đây chính là 2 nhân tố đã bị Hitler lạm dụng để xây dựng nên hệ tư tưởng cực đoan của chủ nghĩa Quốc Xã. Nếu xâu chuỗi những yếu tố này, cộng thêm phông nền của câu chuyện về những siêu anh hùng, chúng ta có nhìn thấy thấp thoáng trong Watchmen khái niệm Uebermensch (người siêu việt) của Nietzsche. Khái niệm này loại bỏ sự tồn tại của Chúa và trao cho “người siêu việt” khả năng kiến tạo những giá trị mới để phù hợp với sự vận động của thế giới. “Người siêu việt” có thể tự định đoạt tính thiện và ác để phục vụ mục tiêu cuối cùng. Trong Watchmen, tất cả những anh hùng và siêu anh hùng đều có những giá trị riêng, thế nhưng chỉ duy nhất nhân vật Ozymandias là có đầy đủ phẩm chất của một Uebermensch. Ngoài trí tuệ xuất chúng để thích ứng với mọi hoàn cảnh, nhân vật này còn có thể xóa nhòa ranh giới giữa thiện và ác để ngăn cản thế giới khỏi chiến tranh hạt nhân. Và rõ ràng yếu tố quyết định việc Ozymandias là một Uebermensch chứ không phải Dr. Manhattan, với quyền lực tuyệt đối, là vì nhân vật này dám đứng ra nhận trách nhiệm đối với nhân loại thay vì coi thường những giá trị nhân bản. Ngoài ra, Ozymandias còn có ngoại hình của một người chủng Aryan mà Hitler luôn rao giảng là thượng đẳng. Cũng không phải là ngẫu nhiên khi Ozynamdias tự coi mình là người thông minh nhất thế giới và bị Roschach ví với Hitler.

Bộ phim Watchmen còn đề cập đến một loại sức mạnh khác, sức mạnh của ngôn ngữ điện ảnh. Đạo diễn Zack Snyder một lần nữa khẳng định được tài năng, vốn đã sớm được thừa nhận từ bộ phim 300, khi chuyển thể thành công bộ truyện tranh từng bị coi không thể đưa lên màn bạc. Không chỉ dừng lại ở việc tóm gọn sự thể hiện phong phú, hay làm mượt mà những chi tiết sạn trong truyện, Zack còn biết vận dụng tối đa sức thể hiện đặc thù của điện ảnh. Trong nguyên tác của Moore, bối cảnh sự leo thang của nguy cơ diễn ra cuộc chiến tranh hạt nhân được khai thác gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông. Bộ phim chuyển thể về cơ bản cũng sử dụng lại cách này, nhưng Zack đã đẩy được kịch tính lên cao hơn khi bất ngờ hướng khán giả đến một bộ phim thuộc hàng kinh điển về cuộc đối đầu hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô. Trong cảnh tổng thống Mỹ quyết định khởi động bộ máy chiến tranh, Zack đã tái hiện chính xác bối cảnh phòng họp chiến lược trong bộ phim Dr. Strange Love or: How I Learned to Stop Worrying and Love the Bomb của đạo diễn Stanley Kubrick. Chính nhờ những yếu tố như vậy, Watchmen đã chinh phục được cả những khán giả điện ảnh chưa từng đọc qua bộ truyện tranh.

Trong lễ công chiếu Watchmen ở London, nam diễn viên Jackie Earle Haley, người đóng vai Rorschach, đã cho biết, tình hình chính trị thế giới hiện nay có rất nhiều liên hệ với bộ phim. Mặc dù không có những tuyên bố hợm hĩnh kiểu như “Chúa trời hiện hữu, và ông ấy là người Mỹ”, nhưng không phải vì thế mà tư tưởng “thế thiên hành đạo” của người Mỹ không tồn tại, vấn đề chỉ là cách thể hiện: Tổng thống Mỹ George W Bush từng tuyên bố: “Chúa ở cùng phe chúng ta”. TNS John Kerry, một người ôn hòa hơn, thì tuyên bố: “Chúng ta cùng phe Chúa”. Quay trở lại với câu nói của một người Mỹ điển hình, The Comedian, “Vấn đề của giấc Mỹ là nó đang trở thành hiện thực…” phải chăng chúng ta đang chứng kiến điều đó ở Afghanistan, hay Iraq? Ngay cả khi liên hệ với thực tế, những kẻ có đủ khả năng canh chừng dường như vẫn chưa có sự trân trọng cần thiết đối với giá trị con người. Và câu hỏi “Ai canh chừng những kẻ canh chừng?” cũng vì thế mà chưa thể có lời giải đáp.

Posted in On Screen | 22 Comments »