RSS

Monthly Archives: May 2009

Phỏng vấn McG, đạo diễn Terminator Salvation

Tiếp quản loạt phim thuộc hàng kinh điển của thể loại hành động từ tay đạo diễn James Cameron, người đã từng gọi mình là “vua của thế giới”; chỉ đạo diễn xuất Christian Bale, một trong những ngôi sao điện ảnh tài năng, kén chọn và ăn khách nhất hiện nay,… có thể nói đó chính là những trở ngại lớn nhất mà vị đạo diễn với cái tên ngắn gọn McG buộc phải vượt qua trong phần 4 của loạt phim Terminator với nhan đề Salvation.

Trước khi thực hiện bộ phim bom tấn này, vốn liếng của McG trên ghế đạo diễn chỉ là những đoạn phim ca nhạc và số phim điện ảnh không đếm hết đầu ngón tay trên một bàn tay, thậm chí bộ phim gần đây nhất của anh, We Are Marshall, đã bị coi là một thất bại. Vì thế khi các nhà sản xuất đặt vào tay anh khoản đầu tư khổng lồ 200 triệu USD cho Terminator Salvation, nhiều người đã nghiêm túc coi đây là một cuộc phiêu lưu quá sức đối với đạo diễn McG.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bộ phim, McG đã thể hiện được bản lĩnh của mình trong vai trò người lãnh đạo đoàn làm phim. Anh đã có cuộc trao đổi rất thẳng thắn với bậc cha chú James Cameron để mời ông vào vị trí cố vấn và cũng thể hiện chính kiến của mình đối với vụ tai tiếng ngôn từ của nam diễn viên chính Christian Bale.

Tập phim thứ tư của loạt Terminator lấy bối cảnh thời hậu tận thế, 14 năm sau khi cuộc chiến tranh hạt nhân nổ ra để kết thúc mạch truyện của 3 tập đầu tiên. Đạo quân người máy hủy diệt tự sinh sôi, lan tràn khắp thế giới, bắn giết hoặc bắt giữ người sống sót trong những thành phố đổ nát, hay trên những hoang mạc khô cằn. Chính trong bối cảnh u ám này, nhân vật chính John Connor (do Bale thủ vai) đã vùng lên lãnh đạo lực lượng nổi dậy để tham gia cuộc chiến không cân sức giữa con người và máy móc.

McG tiết lộ: “Tôi đã từng chẳng có chút hứng thú nào với Terminator 4. Tôi cho rằng cốt truyện của nó đã bắt đầu lạc lối so với những tập trước đó. Cameron luôn giữ quan điểm rằng ông đã kể xong câu chuyện trong 2 tập đầu tiên. Tuy nhiên mạch truyện mới về cuộc chiến tranh tương lai đã kích thích sự hứng thú của tôi”. McG đã đến gặp James Cameron đúng vào lúc ông đang trong quá trình thực hiện Avatar, bộ phim hành động đầu tiên của ông sau siêu phẩm Titanic.

McG nhớ lại: “Tôi muốn thể hiện sự kính trọng của mình, đồng thời cho ông ấy biết rằng 2 tập Terminator đầu tiên đã gây ảnh huởng rất lớn đối với tôi, và tôi muốn có được sự ủng hộ của ông ấy. Thế nhưng James đã không cho tôi sự ủng hộ đó, ông ấy nói: ‘Tôi muốn cậu làm ra được một bộ phim hay thay vì một bộ phim chán, tôi sẽ phải đọc kịch bản và xem bộ phim trước khi đưa ra quan điểm của mình’. Tôi đã trả lời: ‘Để công bằng, tôi cũng muốn ông làm ra được một Avatar thật hay thay vì một Avatar dở tệ và tôi cũng xin để dành sự đánh giá của mình cho đến khi được xem nó’. Sau đó cả hai chúng tôi đều cười phá lên và bắt tay nhau”.

McG được sinh ra tại Kalamazoo, Michigan với tên khai sinh Joseph McGinty Nichol. Anh nhận xét về tên khai sinh của mình: “Bạn sẽ chẳng bao giờ tiến xa được ở Hollywood với cái tên đó”. Anh cho biết bố mẹ đã gọi anh bằng cái tên ngắn gọn McG ngay từ ngày mới ra đời, và thừa nhận anh không thích tên khai sinh của mình: “Tôi ghét cay ghét đắng tên tôi. Đó là một cái tên ngu ngốc và khủng khiếp. Giờ đây, hơn lúc nào hết, nó thực sự là một vấn đề đối với tôi trong công việc làm phim, bởi phát âm của nó nghe cứ như thể tôi là một tên vô lại. Tôi là người đầu tiên nhận ra điều này, thế nhưng sẽ thật rẻ tiền nếu tôi cải tên, vậy nên tôi sẽ phải học cách sống chung với nó”.

Anh nói thêm: “Lúc nào tôi cũng tự nhủ tên tuổi của tôi không làm nên phim, mà chính phim sẽ làm nên tên tuổi của tôi. Nhưng dù sao tôi vẫn muốn được gọi là Steve hay một cái tên nào đó đại loại thế”.

Rắc rối khiến McG phải đau đầu nhất chính là vụ “khủng hoảng ngôn từ” của Christian Bale ngay trên trường quay của bộ phim. Một thành viên đoàn làm phim vô tình khiến Bale không thể tập trung nhập vai trong một cảnh quay quan trọng và ngôi sao này đã không ngần ngại sử dụng những từ ngữ tục tĩu nhất để sỉ vả thành viên đó. Cho đến tận bây giờ McG vẫn chưa hết xấu hổ khi vụ việc này bị thu âm và sau đó phát tán trên mạng internet.

Anh nói: “Tôi là người phải chịu trách nhiệm tất cả mọi việc. Trước hết, công việc của tôi là phải tạo ra một môi trường an toàn trên trường quay vào mọi lúc. Phải như vậy thì diễn viên mới có thể yên tâm thể hiện được mọi cung bậc của cảm xúc và luôn tin tưởng vào sự bất khả xâm phạm của trường quay. Vụ việc đã khiến tất cả chúng tôi suýt ‘mất đầu’ và căng thẳng trong suốt một thời gian dài”.

Lúc đó rõ ràng Christian đã không thể kìm nén được bản thân, tuy nhiên anh ấy thực sự là một người tốt. Đừng tố cáo anh ấy là người xấu trong khi anh ấy không phải như vậy. Anh ấy yêu thương gia đình, anh ấy không kiểu cách, anh ấy là một diễn viên tiêu biểu. Sự việc phát tán đoạn ghi âm trên internet là không thể tha thứ được và tôi xin được xấu hổ thay cho cả Hollywood khi để chuyện này xảy ra”.

Trở lại với Terminator Salvation, McG cho biết, anh coi đây là sự làm mới của loạt phim Terminator, giống như như Batman, Star Trek, hay James Bond, những loạt phim cũng đang được làm mới bởi các ngôi sao mới và đạo diễn mới.

Anh nói: “3 Tập đầu của Terminator đều có bối cảnh hiện tại, nơi những kẻ hủy đi ngược thời gian từ tương lai để săn lùng Sarah và John Connor. Tập phim của chúng tôi lại diễn ra vào thời kỳ hậu tận thế, tại thế giới mà James Cameron chỉ cho chúng ta thấy thoáng qua ở những tập phim trước. Trong thế giới đó, con người phải vật lộn để có được thức ăn, nhiên liệu, không những vậy họ còn bị săn lùng mọi lúc mọi nơi”.

Terminator Salvation còn ẩn chứa những cảnh báo về tác hại của môi trường cũng như sự nguy hiểm của vũ khí hủy diệt hàng loạt, tuy nhiên đạo diễn McG lại cho biết: “Bộ phim không được làm ra để thuyết giáo ai cả vì đây chỉ là phim giải trí mùa hè. Thế nhưng tôi nghĩ lý do khiến yếu tố hành động của bộ phim thành công và làm khán giả thỏa mãn chính là bối cảnh đặc biệt của nó, và dĩ nhiên là cả các tuyến nhân vật và khả năng diễn xuất của diễn viên”.

Tôi vẫn luôn coi khoảng thời gian cuối những năm 70 và đầu những năm 80 là thời kỳ vàng son của thể loại phim khoa học viễn tưởng, một loạt phim kinh điển thuộc thể loại này đã ra đời như Alien, Blade Runner và Terminator, tôi muốn tôn vinh giai đoạn vàng son này, thế nhưng cũng muốn tạo ra một ngôn ngữ mới. Tôi đã cố gắng thể hiện ra sự tôn trọng, sự hiểu biết của mình đối với những tập phim trước và làm hết sức mình để tiếp bước chúng, lĩnh hội chúng, làm mới chúng và tạo ra ngôn ngữ của riêng mình”.

Một điều tôi tự hào trên cương vị nhà làm phim đó là mọi người có thể không thích phim của tôi – đó là quyền của họ – nhưng tôi nghĩ tôi có dấu ấn riêng của mình. Tôi hy vọng mọi người có thể nhìn thấy dấu ấn đó ngày càng đậm nét. Tôi coi đó là một việc rất, rất nghiêm túc và tôi thiết tha được cải thiện và phát triển khả năng của mình”.

 
10 Comments

Posted by on 31/05/2009 in Interviews

 

Tags: , , , , ,

Across the Universe – Original Soundtrack

Thể loại: Pop / Rock & Roll
Đánh giá của phuongcobain: 4 / 5

Bất cứ ai yêu thích thể loại Rock & Roll nói riêng và cả những ai yêu thích âm nhạc nói chung cũng đều đồng ý rằng The Beatles là ban nhạc xuất sắc nhất mọi thời đại. Với 13 album (trong đó có một album đôi) thu trong Studio, cho đến nay di sản mà Beat để lại cho thế giới thực sự là vô giá.

Không có gì lạ khi các ca khúc của bộ tứ đến từ thành phố Liverpool này được sử dụng rất nhiều làm Soundtrack trong các tác phẩm điện ảnh, hay lên sân khấu kịch Broadway. Nhưng chưa có một bộ phim ca vũ nhạc (Musical) nào, như Across the Universe, lại sử dụng nhiều bài hát của The Beatles đến thế làm lời thoại.

Chúng ta sẽ được thưởng thức lại hơn 30 tuyệt phẩm nay đã được các diễn viên trong phim remix lại. Tất nhiên giai điệu và lời bài hát vẫn được giữ nguyên, nhưng cách trình bầy thì có sự thay đổi hoàn toàn. Đối với các Fan hâm mộ The Beatles, sau khi đã quá quen thuộc với giọng ca của John Lennon, Paul McCartney, còn gì tuyệt vời hơn khi thử trải nghiệm những ca khúc bất hủ qua sự thể hiện của các diễn viên nổi tiếng.

Mở đầu ngọt ngào nhưng mang đầy tính tự sự cùng Jim Sturgess với Girl, sôi động cùng Evan Rachel Wood qua Hold me tight, It won’t be long, rồi một loạt các bài hát khác quen thuộc khác như All My Loving, Something, Hey Jude, Don’t let me down… Đặc biệt trong phim còn có sự xuất hiện đầy bất ngờ của nam ca sĩ Bono với hai ca khúc I Am the Warus, và Lucy in the Sky Diamonds.

AcrossTheUniverse

    Disc 1:

    01. Girl – Jim Sturgess
    02. Helter Skelter – Dana Fuchs
    03. Hold Me Tight – Jim Sturgess, Evan Rachel Wood, Lisa Hogg
    04. All My Loving – Jim Sturgess
    05. I Want to Hold Your Hand – T. V. Carpio
    06. With a Little Help from My Friends – Joe Anderson, Jim Sturgess & Dorm Buddies
    07. It Won’t Be Long – Evan Rachel Wood
    08. I’ve Just Seen a Face – Jim Sturgess
    09. Let It Be – Carol Woods, Timothy T. Mitchum
    10. Come Together – Joe Cocker and Martin Luther
    11. Why Don’t We Do It in the Road – Dana Fuchs
    12. If I Fell – Evan Rachel Wood
    13. I Want You (She’s So Heavy) – Joe Anderson
    14. Dear Prudence – D. Fuchs, J.Sturgess, E. R. Wood, T. V. Carpio
    15. Flying – The Secret Machines
    16. Blue Jay Way – The Secret Machines

    Disc 2:

    17. I Am the Walrus – Bono + the Secret Machines
    18. Being for the Benefit of Mr. Kite! – Eddie Izzard
    19. Because – E. R. Wood, J. Sturgess, J. Anderson, D. Fuchs, T. V. Carpio, M. Luther
    20. Something – Jim Sturgess
    21. Oh! Darling – Dana Fuchs, Martin Luther
    22. Strawberry Fields Forever – Jim Sturgess, Joe Anderson
    23. Revolution – Jim Sturgess
    24. While My Guitar Gently Weeps – Martin Luther
    25. Across The Universe – Jim Sturgess
    26. Happiness is a Warm Gun – Joe Anderson
    27. Blackbird – Evan Rachel Wood
    28. Hey Jude – Joe Anderson
    29. Don’t Let Me Down – Dana Fuchs
    30. All You Need is Love – Jim Sturgess, Dana Fuchs
    31. Lucy in the Sky with Diamonds – Bono

    Link (MP3, 320Kbps): Part 1, Part 2, Part 3

 
6 Comments

Posted by on 30/05/2009 in Soundtrack

 

Tags:

Angels & Demons (2009) – “Chạy đi, Robert, chạy”

Tựa Việt: Thiên thần & ác quỷ – khởi chiếu từ 29/5/2009
Thể loại: Hành động/ Hình sự
Đạo diễn: Ron Howard
Biên kịch: David Koepp, Akiva Goldsman, dựa theo tiểu thuyết của Dan Brown
Diễn viên chính: Tom Hanks, Ayelet Zurer, Ewan McGregor, Stellan Skarsgård
Thời lượng: 138 phút
Đánh giá của phanxine: 3/5

angels_and_demons_poster

Bom đã định giờ. Chạy đi, Robert, chạy!

Đọc tiếp

 
Leave a comment

Posted by on 30/05/2009 in On Screen

 

Tags: , , , , , , ,

Angels & Demons (2009) – “Kiếp đỏ đen”

Tựa Việt: Thiên thần & ác quỷ – khởi chiếu từ 29/5/2009
Thể loại: Hành động/ Hình sự
Đạo diễn: Ron Howard
Biên kịch: David Koepp, Akiva Goldsman
Diễn viên chính: Tom Hanks, Ayelet Zurer, Ewan McGregor, Stellan Skarsgård
Thời lượng: 138 phút

Có nhẽ vì tên bác Dan Brown đã nâu (Brown) lại đen (Dan) nên phim chuyển thể từ truyện của bác có số phận khá là trắc trở. Năm 2006 The Da Vinci Code ra mắt ở Cannes bị bà con la ó dữ dội, đến khi phát hành lại bị giới phê bình chê bai không tiếc lời (nhưng rốt cục vẫn về nhì với 750 triệu USD doanh thu – lý do chính khiến Columbia Pictures tiếp tục chơi con bài nâu-đen này lần nữa). Angels & Demons đến lượt mình cũng vấp phải sự phản đối của Công giáo và bị từ chối không được quay ngoại cảnh tại các nhà thờ ở Rome. Nhưng hết cơn bĩ cực cũng đến hồi thái lai, cuối cùng bộ phim lại được chính tờ Đại đoàn kết của Vatican khẳng định là vô hại.

Angels & Demons

Rome hiện lên đầy u tối trong Angels & Demons

Kể ra nếu Angels & Demons được đặt tên là Kiếp đỏ đen thì cũng không có gì vô lý, vì Ron Howard đã đem đến cho khán giả một bộ phim low-key* với màu đen linh mục (một) và sắc đỏ hồng y (đếm không xuể) là chủ đạo, và số phận những nhân vật này nói chung là rất thảm. Low-key âu cũng là điều dễ hiểu khi bộ phim xảy ra trọn vẹn trong một buổi tối mà mỗi giờ đồng hồ lại được đánh dấu bằng cái chết của một preferiti, ứng cử viên cho ngôi vị Giáo hoàng.

Như thường lệ, giáo sư biểu tượng học Robert Langdon (Tom Hanks), với sự trợ giúp (như thường lệ) của một sinh vật khả ái là nữ khoa học gia Vittoria Vetra (Ayelet Zurer) dẫn đầu cuộc săn đuổi tên sát nhân giấu mặt đã bắt cóc bốn hồng y giáo chủ và sẽ xử tử họ tại bốn địa điểm tượng trưng cho bốn nhân tố đất, gió, lửa, nước tại thành Rome. So với câu đố Robert Langdon phải giúp Tòa thánh giải đáp thì chuyện một cô gái mĩ miều dường ấy lại còn là chuyên gia về phản vật chất quả thực còn bí hiểm hơn nhiều; có lẽ chỉ thua câu hỏi hẳn không ít người đã từng tự hỏi khi xem The world is not enough: “Thế nào mà một em gái nóng bỏng rẫy ra như Denise Richards lại còn là chuyên gia vật lý hạt nhân?”

Quay trở lại với bộ phim, hành động của tên sát nhân có vẻ là một nghi thức báo thù cuộc thanh trừng của Giáo hội với Illuminati – một hội kín của các nhà khoa học ra đời từ thế kỷ 17 – và y đe dọa sẽ kết thúc nó với một vụ nổ phản vật chất (lý do giải thích sự có mặt của sự khả ái mang tên Vittoria Vetra) có sức mạnh hủy diệt cả Vatican đúng lúc các hồng y đang họp kín để bầu Giáo hoàng mới còn giáo dân đang tụ tập ở quảng trường St. Peter chờ kết quả. Vụ việc càng phức tạp hơn khi Tổng quản Vatican là Patrick McKenna (Ewan McGregor) phát hiện ra cố Giáo hoàng chết vì bị đầu độc…

Để bà con khỏi sốt ruột, người viết xin nói luôn: Angels & Demons hay hơn Da Vinci Code, và hay hơn đáng kể (lưu ý: hay hơn Da Vinci Code thôi nhé). Đây cũng là điều dễ hiểu vì Da Vinci Code bám quá sát nguyên tác; và khi cố nhồi nhét bằng hết cuốn tiểu thuyết lên màn bạc, Ron Howard đã bỏ qua những thế mạnh đặc thù của điện ảnh, khiến bộ phim trở thành một thứ minh họa vụng về cho cuốn tiểu thuyết hơn là một tác phẩm độc lập.

Rút ra bài học này, kịch bản của Angels & Demons, dù không phải là xuất sắc, tỏ ra khá linh hoạt, câu chuyện đơn giản và tập trung, không sa vào mớ bòng bong thông tin được Robert Langdon tuôn ra như suối còn khán giả chỉ biết há hốc mồm lắng nghe (và lủng bủng rủa: Đù mé, nói gì mà lắm thế!) ở phần một. Howard sử dụng hai motif quen thuộc của phim thriller là săn đuổi kẻ sát nhân và tháo bom hẹn giờ để tạo sự căng thẳng, hồi hộp và đã khá thành công khi kết hợp nó với nét tương phản đỏ-đen đầy ngụy dị trong ánh sáng u ám của toàn phim. Mặc dù vậy Angels & Demons vẫn có những chi tiết lộ và dễ đoán với một khán giả nhiều kinh nghiệm xem thriller. Tuy khá hơn Da Vinci Code nhưng Angels & Demons vẫn thiếu cái sức hút cần thiết của một phim thriller xuất sắc: khán giả không bị hút vào một cách triệt để, mà vẫn còn khoảng cách, vẫn cảm thấy mình đang đứng ngoài quan sát hơn là đồng hành cùng nhân vật.

Với tiết tấu rất nhanh (đoán rồi đuổi, lại đoán rồi lại đuổi) và một cốt truyện thiên về hành động, không có chỗ ngừng nghỉ cho cảm xúc, hầu hết các diễn viên chỉ phải đóng mà không phải diễn, trừ Ewan McGregor. Trong không khí chung của phim, Patrick McKenna dù xuất hiện không quá nhiều nhưng vẫn khiến người ta cảm nhận được (dù mơ hồ, và cũng chỉ mơ hồ) một điều gì đó. Ewan đóng khéo nhưng kín đến nỗi sau khi phim hết rồi, khi đã thở phào một tiếng rồi, ta mới nhận ra rằng anh diễn tốt thật. Một điều đáng tiếc là mâu thuẫn đức tin – khoa học có thể được khai thác tốt hơn ở Langdon, khi đoạn đối thoại giữa anh và Patrick McKenna ở đầu phim hé lộ khá nhiều điều thú vị. Với nội lực của Tom Hanks, điều này hẳn không phải là quá khó. Cái khó là làm sao để lồng được nó vào cuộc truy đuổi hối hả trong năm giờ đồng hồ của Langdon mà thôi.

Cũng như ở Da Vinci Code, nhạc của Angels & Demons do Hans Zimmer đảm nhiệm, và ông làm khá tốt ở phần cuối. Cái dồn dập ở phần đầu tuy ổn, tuy hoành tráng, tuy không sai, nhưng có vẻ cứ cliché làm sao đó, chưa xứng với tầm vóc của ông, và chưa thật sự ăn khớp với cái không khí bề ngoài thì tĩnh lặng mà bên trong thì cuồn cuộn sóng ngầm của Vatican lúc đó. Phần cuối trầm lắng và giàu xúc cảm với những đoạn solo của Joshua Bell, người được trang trọng dành riêng một dòng khá lớn ở phần credit.

Nói là như vậy, nhưng để chấm điểm cho Angels & Demons thì lại hơi khó. Có lẽ phải chia làm hai thang điểm. Với những người đã đọc truyện thì cái hay chắc sẽ chẳng còn lại bao nhiêu, vì  yếu tố bất ngờ đã mất đi; và sự thú vị (nếu còn) sẽ dừng lại ở không gian tôn giáo của thành Rome mà bộ phim đã tái tạo lại khá thành công bằng ngoại cảnh, phim trường và kỹ xảo CGI. Nhưng với những ai chưa đọc truyện thì sự bất ngờ sẽ còn nguyên vẹn, và Angels & Demons sẽ là một phim giải trí xem được của tháng Năm này.

Đánh giá của Nham Hoa:
- Đã đọc truyện: 2.5/5
- Chưa đọc truyện: 3.5/5

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

(*) Low-key: Hình ảnh có độ tương phản cao và thiên về tông màu tối. Xem thêm ở đây.

 
10 Comments

Posted by on 29/05/2009 in On Screen

 

Look for a Star (2008) – Đơn giản là một câu chuyện đẹp

Tựa gốc tiếng Hoa: Du long hí phụng / Tinh mộng kỳ duyên
Tựa Việt: Đại gia và chân dài (?) – khởi chiếu từ 22/5/2009
Thể loại: Tình cảm / Hài hước
Đạo diễn: Lưu Vỹ Cường
Biên kịch: Đặng Hạo Minh
Diễn viên chính: Lưu Đức Hoa, Thư Kỳ, Hà Vận Thi, Trương Hàm Dư
Thời lượng: 117 phút

Look

Khi mua vé xem bộ phim có tựa tiếng Việt khá nhảm “Đại gia và chân dài” tôi không mấy kỳ vọng được xem một bộ phim hay. Nhưng sau khi ngồi yên ở ghế khán giả gần hai giờ đồng hồ, tôi có thể thoải mái đứng dậy và cảm thấy không có gì phải hối tiếc. Look for a star đã hoàn thành nhiệm vụ cho khán giả những phút giây thư giãn dễ chịu. Và sau tất cả, chân lý hãy sống hết mình và tình yêu vẫn dễ dàng chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả.

Tên gốc bộ phim là Tinh mộng kỳ duyên, đã chuyển tải khá sát ý nghĩa của bộ phim khi những cặp đôi trong phim tìm được hạnh phúc từ những mối lương duyên kỳ ngộ, đầy bất ngờ . Tiếc là, vì mong muốn khai thác sự ăn khách từ đề tài chân dài và đại gia, tựa đề Việt đã chỉ đề cập đến mối tình của ông chủ lớn với cô vũ công – nhân viên chia bài ở sòng bạc, bỏ qua hai mối tình còn lại của cô thư ký và anh tài xế. Ba thành viên đại diện cho ba tầng lớp một công ty lớn: ông chủ, thư ký, tài xế nhưng lại là những người bạn thân trong cuộc sống.  Vì những lý do khác nhau, họ đều thất bại và đang mất dần niềm tin vào hạnh phúc. Ông chủ li dị ba lần, cô thư ký bị người tình phản bội vì nghi cô là đồng tính, anh lái xe mãi mới được giới thiệu cho một người phụ nữ là một bà mẹ độc thân… Con đường tìm kiếm tình yêu đích thực của họ khác nhau nhưng đều có điểm chung là một chút ngô nghê, một chút điên khùng rất dễ thương. Điều này đã được đúc kết ở câu nói cuối phim “trong tình yêu phải ngớ ngẩn mới có hạnh phúc”.

Bộ phim khiến người xem liên tưởng đến Love Actually hay Noel , xoay quanh câu chuyện tình yêu của một nhóm nhân vật với những tình tiết đan xen. Cảnh quay đẹp, được thực hiện như một cuốn phim quảng cáo về du lịch Macao. Nhạc phim hầu hết là những bản ballad hát tiếng Anh phối hợp khá ăn ý với các cảnh quay. Thậm chí có cả trường đoạn mà ca khúc quốc tế nổi tiếng When you say nothing at all vang lên, gợi cho khán giả những hồi tưởng đẹp. Ưu điểm đáng kể nhất của bộ phim chính là lời thoại tự nhiên, đối ngẫu rất thông minh. Mặc dù bản dịch tiếng Việt đôi lúc chưa chuyển tải được hết nhưng những câu chơi chữ điển hình, những màn chọc cười khá dí dỏm hay triết lý cuộc sống được các nhân vật nói ra đã khiến bộ phim gần gũi với Chuyện tình xa xứ, một phim Việt đáng ghi nhận vì lời thoại sống động.

1 (1)

Diễn xuất của các diễn viên ngôi sao trong phim cũng khá hài hòa. Dường như các diễn viên Hoa ngữ đến một độ tuổi nào đấy, sự thuần thục trong diễn xuất và nỗ lực giữ gìn dáng vóc đã khiến họ có đủ sức quyến rũ để thu hút khán giả ngay từ những cảnh quay đầu tiên. Thư Kỳ thể hiện vai diễn cô gái trẻ Mễ Lan tươi tắn gợi cảm với những điệu múa tại sòng bạc Macau, lém lỉnh ngây thơ trong những lần hẹn hò đầu tiên. Lưu Đức Hoa nhập vai vị tỷ phú trẻ tuổi khá tự nhiên, đỡ hẳn vẻ gồng mình nỗ lực của anh trong những bộ phim trước đó. Khuôn mặt nam tính chất phác của Trương Hàm Dư và giọng nói phổ thông nằng nặc của anh rất phù hợp cho vai diễn anh thợ điện gốc gác nông thôn. Còn Hà Vận Thi đã tận dụng được lợi thế về hình thể để hiện xuất sắc vai diễn của một cô nàng tomboy… Những vai diễn phụ cũng ít nhiều tạo được dấu ấn, đặc biệt là đôi vợ chồng dì chú của Mễ Lan.

Ngoài dàn diễn viên nổi tiếng, đều có thể nhận ra những tên tuổi đáng chú ý khác của điện Ảnh Hoa ngữ tham gia dàn dựng bộ phim.  Đạo diễn Lưu Vỹ Cường vốn nổi tiếng với hàng loạt bộ phim hành động như Hoa cúc dại, Vô gian đạo, Initial D… nhưng sự thành công khi dàn dựng một cách tinh tế bộ phim tình cảm hài, thể loại mà mọi người vốn cho rằng không phải là sở trường của ông. Biên kịch phim – Đặng Hạo Minh vốn là một MC truyền hình đã vận dụng tối đa sở vốn sống về truyền hình để viết kịch bản. Người xem có thể thấy được dấu ấn nghề nghiệp này rõ nhất qua chi tiết các nhân vật tỏ tình qua một gameshow mà anh chàng MC đã khơi gợi một cách rất lỗ mãng. Phụ trách nhạc phim là Trần Quang Vinh, người đã tạo nên những hit nhạc phim vô cùng nổi tiếng là Proud of you, Love Paradise

Cách thể hiện của phim dù không có nhiều điều mới mẻ nhưng nhận được sự ủng hộ của khán giả vì ai cũng có có thể thấy một phần của mình trong đó. Tất nhiên, phim không tránh khỏi những tình tiết mà sự sắp đặt lộ liễu đến mức khó chịu. Ví dụ như ngay sau lần gặp đầu tiên – ngài tỷ phú mua cho người yêu bé nhỏ con ngựa gỗ, anh thợ điện bế bổng cô thư ký chạy xuống các tầng cầu thang…Tất cả khiến người xem có thể đoán được kết thúc bộ phim từ khá sớm. Nhưng rồi người xem xem hoàn toàn có thể tạm hài lòng khi trong vòng chưa đến 2 tiếng đồng hồ mọi mâu thuẫn đã được giải quyết khá tự nhiên và mang đến một kết thúc đủ sức … làm vui vẻ cả nhà.

Sau hàng loạt những bom tấn Hoa ngữ ngồn ngộn chiến trận, kỹ xảo nhưng nhạt nhòa về nội dung, Look for a star cũng nhắc người ta về một cách làm phim hướng đến sự giản dị. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Look for a star đã nhẹ nhàng lập kỷ lục phòng vé thị trường điện ảnh Hoa ngữ trong mùa Valentine vừa qua.

Đánh giá của mytrang: 3/5

 
21 Comments

Posted by on 29/05/2009 in On Screen

 

Tags:

I Love You, Man (2009) – Mình yêu bồ

i-love-you-man-poster

Tựa phim tại Việt Nam: Và em cũng yêu anh (?) – khởi chiếu từ 29/5/2009
Thể loại: Hài hước / Lãng Mạn
Đạo diễn: John Hamburg
Biên kịch: John Hamburg, Larry Levin
Sản xuất: John Hamburg, Donald De Line
Diễn viên chính: Paul Rudd (vai Peter Klaven), Jason Segel (vai Sydney Fife)
Thời lượng: 105 phút

I Love You, Man thuộc thể loại hài tình cảm, hay gọi chính xác là “bromantic comedy” vì chuyện tình cảm trong phim không phải tình cảm nam nữ mà là tình bạn giữa hai người đàn ông. Peter Klaven là một người đàn ông gần như hoàn hảo, hình thức trên mức trung bình, làm môi giới nhà đất kiếm ra tiền, ngoan ngoãn chung thủy và tâm lý với người yêu. Sau khi cầu hôn bạn gái – Zooey và định ngày làm đám cưới, Peter mới nhận ra rằng mình không có lấy một người bạn trai thân để “buôn chuyện” về sự kiện lớn trong đời này và nhất là để làm phù rể chính như mấy cô bạn gái thân của người yêu. Phim là cuộc hành trình đi tìm một người bạn chí cốt của Peter. Cũng giống như các phim hài tình cảm khác, khán giả dễ dàng đoán trước được cái kết của phim, Peter sẽ tìm được một phù rể như ý, nhưng điểm hấp dẫn ở những phim hài tình cảm không phải một cái kết bất ngờ lắt léo mà là quá trình nhà làm phim dẫn dắt khán giả đến với cái kết mà họ đã đoán trước được và mong đợi.

woman

I Love You, Man do một đoàn làm phim chuyên về thể loại hài tình cảm thực hiện. Đạo diễn John Hamburg đã từng làm Along Came Polly, viết kịch bản Along Came Polly, Meet the Parents, Meet the FockersZoolander của Ben Stiller. Đồng biên kịch Larry Levin thì viết Dr. Doolittle III. Hai diễn viên chính được tuyển chọn khá tốt, Paul Rudd trông vậy mà đã tứ tuần trong khi Jason Segel mới có 29. Ngoại hình hai anh này rất hợp với nhân vật, một anh thì nghiêm túc, kiểucon ngoan trò giỏi, chỉ biết có bạn gái; một anh thì tưng tửng, điên điên. Cả hai anh đều hơi đàn bà và trẻ con, chính vì thế mà hợp nhau. Hai anh này đã từng diễn chung trong Knocked UpForgetting Sarah Marshall nên phối hợp khá ăn ý trong I Love You, Man. Dàn diễn viên phụ cũng đóng góp lớn cho tiếng cười của phim. Cặp vợ chồng bạn thân của Zooey là một cặp khá cliché nhưng vui, suốt ngày cãi nhau chí chóe nhưng khi yêu nhau thì cũng nồng nhiệt, ồn ào không kém; anh chồng Barry do John Favreau đóng, người từng vào một vai tương tự trong Four Christmases, kiểu đàn ông thô lỗ nhưng tình cảm. Bố của Peter do J.K Simmons, điệp viên CIA trong Burn After Reading thủ vai, một ông bố có bạn chí cốt là cậu con trai út đồng tính còn mẹ Peter là Jane Curtin, một bà mẹ chuyên đi làm mối và chưa bao giờ nên cơm cháo gì.

Father

Bản thân tôi thấy I Love You, Man khá thành công trong thể loại hài tình cảm, phim đã gây được những tiếng cười sảng khoái, tự nhiên trong khán giả, từ nhân vật đến tình huống, hành động và lời thoại đều gây hài mà không phải cái hài hời hợt. Khán giả cười thông cảm khi thấy Peter lạc lõng giữa một lũ “đàn ông đàn ông”, tự ái khi thua trận, nhậu nhẹt bia bọt sau giờ làm rồi cười đau khổ khi Peter bị mẹ mối lái cho một anh “đàn ông đàn bà” và bị hôn “kiểu Pháp”. Họ lại cười cảm động khi thấy những bức poster lớn mà Sydney dùng tiền vay Peter để đặt làm quảng cáo cho chính Peter. Và cười thật sảng khoái trong cảnh Peter gặp Sydney lần đầu tiên, khi nghe Sydney nhìn khách đến xem nhà của Peter và đọc vị một anh chàng đang ba hoa bốc phét với bạn gái, đồng thời làm cái việc mà chúng ta hay phải làm sau khi ăn hột mít luộc.

Breakwind

Tuy nhiên, I Love You, Man không tránh khỏi những chi tiết sến và rập khuôn như cảnh Zooey gọi điện buôn với bạn gái về vụ Peter cầu hôn và để lộ ra là cả nhóm bọn họ vẫn tâm sự với nhau cả những chuyện thầm kín giữa hai vợ chồng hay đoạn kết khi Zooey gọi điện cho Sydney mời anh đến dự đám cưới vì cô biết “tình cảm giữa hai người vẫn còn rất sâu đậm”…

Một lý do bonus để các bạn gái đi xem phim này là cảnh đám cưới cuối phim khá đẹp, không hoành tráng mà giản dị và rất duyên dáng từ địa điểm tổ chức đám cưới đến đồng phục của các cô phù dâu và váy cưới của cô dâu.

wedding

Đánh giá của sundy: 3.49/5

 
1 Comment

Posted by on 28/05/2009 in On Screen

 

More than Blue (2009) – Buồn vì chẳng thể… buồn!

Tựa gốc tiếng Hàn: A Sadder Story than Sadness
Tựa Việt: Mong em hạnh phúc – Khởi chiếu từ 22/5/2009
Thể loại: Tình cảm / Bi kịch
Đạo diễn: Won Tae-yeon
Diễn viên chính: Kwon Sang-woo, Lee Bo-young, Lee Bum-soo
Thời lượng: 102 phút

More than Blue (tựa Hàn: A Sadder Story than Sadness) đánh dấu sự trở lại của Kwon Sang-woo với dòng phim tình cảm/bi sau khi anh hóa thân vào vai diễn phản diện trong bộ phim hành động/hình sự Fate hồi năm ngoái. Bộ phim xoay quanh chuyện tình cảm giữa ba nhân vật: nhà sản xuất chương trình radio K (Kwon Sang-woo), chuyên gia sáng tác lyrics Cream (Lee Bo-young) và nha sĩ Joo-hwan (Lee Bum-soo). K với Cream vốn là một đôi bạn thân từ thuở thiếu niên cắp sách tới trường. Bởi Cream mồ côi cha mẹ từ bé, còn K lại bị mẹ bỏ rơi nên cả hai đã dọn đến sống chung và cùng nhau lớn lên. Thực ra, K từ lâu đã đem lòng yêu Cream nhưng vì mầm bệnh ung thư trong người mà anh chẳng thế nói lời yêu với cô gái. Khi biết mình chẳng còn sống được bao lâu, K quyết định vun vén hạnh phúc cho Cream với chàng nha sĩ thành đạt Joo-hwan. Liệu quyết định này sẽ ảnh hưởng thế nào tới Cream, Joo-hwan và kết cục của chính K?

photo80952

Thực ra, để đoán trước xem một bộ phim điện ảnh thuộc dòng chính thống (mainstream) của Hàn Quốc hay dở tới đâu không quá khó. Cách đơn giản nhất là nhìn vào số lượng khán giả, hoặc doanh thu của phim tại thị trường nội địa. Những con số khô khan đó có thể cho ta biết trước tới 5, 6/10 phần về bộ phim, bởi khán giả Hàn Quốc vốn rất khắt khe với các tác phẩm nước nhà. Có thể Knowing đến từ Hollywood cũng dẫn đầu Box Office của nước họ một tuần đấy, nhưng với các tác phẩm làng nhàng trong nước thì rất khó. Trường hợp của More than Blue cũng không phải ngoại lệ. Trước khi ra mắt, More than Blue thu hút được rất nhiều sự chú ý từ báo giới và công chúng, bởi chỉ một cái tên: Kwon Sang-woo, nhất là khi anh vừa lên xe hoa. Và mặc dù phim tới tháng 3 mới chính thức ra mắt khán giả, thì video clip nhạc phim đã được tung ra từ cuối năm 2008 và luôn đứng đầu tại các bảng xếp hạng âm nhạc Hàn Quốc khi đó.

Tuy nhiên, kết quả tại phòng vé rõ ràng là không ổn. Cơn sốt nhờ dàn diễn viên toàn sao (bên cạnh Kwon Sang-woo, Lee Bo-young và Lee Bum-soo cũng là những cái tên lớn tại Hàn Quốc) giúp phim thu về hơn 1,6 triệu USD trong tuần đầu tiên. Nhưng chỉ chưa đầy một tháng, phim đã lặng lẽ rơi khỏi Top Ten tại Hàn Quốc. Tính tổng cộng tới ngày 19/4, phim chỉ thu hút được hơn 700,000 khán giả, một con số hết sức khiêm tốn tại các phòng vé Hàn Quốc.

Một bộ phim thất bại? Rõ ràng là vậy. Có cảm giác đạo diễn More than Blue được làm ra chỉ để dành riêng các fan ruột của Kwon Sang-woo mà thôi. Đạo diễn Won Tae-yeon, với tác phẩm đầu tay, không thể đem tới một chút gì đó mới lạ cho dòng phim tình cảm bi/lãng mạn của Hàn Quốc vốn đã quá nhàm chán và hay bị gán mác “nước mắt”, “ung thư” từ bấy lâu nay. Thực tế, chỉ sau chưa đầy 10 phút, khán giả đã biết nhân vật của Kwon Sang-woo mắc chứng bệnh tai quái vốn đã tung hoành ngang dọc trong các bộ phim Hàn Quốc bấy lâu nay và sớm muộn sẽ qua đời.

Cố buồn đi xem nào! Bleh~

Cố buồn đi xem nào! Bleh~

Ngay trong đoạn đầu phim, khán giả đã cảm thấy không ổn lắm khi Kwon Sang-woo và Lee Bo-young ngoài tuổi 30 còn vào vai hai cô cậu tuổi teen cắp sách tới trường. Dù chỉ là một đoạn rất ngắn, rất nhỏ thôi, nhưng nó đã “kịp” gây cho người xem một cảm giác hơi phản cảm. Nhân vật Cream của Lee Bo-young có thể khiến khán giả cảm thấy tò mò, thích thú trong khoảng 15 phút ban đầu, nhưng dần dần, cái tò mò, thích thú đó lại chuyển sang nhàm chán tới khó chịu. Vai nha sĩ Joo-hwan của Lee Bum-soo cũng thất bại. Theo ý kiến cá nhân người viết, có thể đây là một lựa chọn casting sai, hoặc là có quá ít đất cho Lee có thể diễn. Lee Bum-soo từng thực hiện tốt cả ở vai hài (My Wife is a Gangster 3) lẫn phản diện (City of Violence) nhưng tới More than Blue, hẳn đó là một bước lùi cho Lee. Kwon Sang-woo thì vẫn rất điển trai, đôi mắt lúc nào cũng buồn chực khóc như trong series Stairway to Heaven. Vậy nên đâm ra cũng nhàm chán với khán giả nốt! (Dĩ nhiên, một lần nữa xin nhắc lại, trừ các fan ruột của Kwon Sang-woo) Nói vui thì có lẽ Kwon Sang-woo là người đàn ông bất hạnh nhất trên màn ảnh rộng Hàn Quốc thời gian gần đây. Ba trong số bốn phim điện ảnh anh tham gia gần đây nhất, anh đều phải nhận một kết cục bi thảm (từ Running Wild, Fate cho tới More than Blue); ngay cả phim còn lại là Almost Love thì anh cũng bị tàn phế (kết cục này có lẽ còn bi hơn bởi nghề nghiệp của anh trong phim là… diễn viên đóng thế). Hẳn sẽ có người bảo, kết các bộ phim này nhìn từ góc độ khác, lạc quan hơn, thì vẫn có thể coi là hạnh phúc. Dĩ nhiên rồi! Nhưng anh Kwon Sang-woo cứ chết với đau đớn suốt thế này thì thương quá! Và kết lại, khi ba nhân vật chính đã ít nhiều thất bại như thế, làm sao khán giả có thể đồng cảm với câu chuyện đây?

Sự rề rà của lời thoại (dẫu lời thoại phim rất hay, rất thơ bởi đạo diễn vốn xuất thân là một nhà thơ) và diễn biến chậm chạp trong một bộ phim xoay quanh những sự lừa dối để người khác được hạnh phúc khiến khán giả sốt ruột. Ngay cả đoạn kết phim, được thực hiện với cấu trúc khá giống với Daisy của Lưu Vỹ Cường, giúp cho người xem hiểu rõ về câu chuyện giữa các nhân vật chính, thì có lẽ đã quá muộn. Bởi khán giả khi đó đã mất đi sự tập trung, quan tâm nhất định đối với câu chuyện và chỉ mong bộ phim mau chóng kết thúc để có thể ra về.

Dĩ nhiên, More than Blue vẫn có những điểm đáng khen. Cảnh quay đẹp, nhiều đoạn quay nội cảnh tốt, bối cảnh phim được dựng khá chân thực nhưng không kém phần đẹp đẽ (ngôi nhà hai nhân vật chính ở với nhau chẳng hạn), nhạc phim dễ đi vào lòng người, nhân vật Jenna (vợ chưa cưới lúc ban đầu của nha sỹ Joo-hwan) của Jeong Ae-yeon khá thú vị bởi có lẽ cô là người thật nhất trong mớ bòng bong dối trá… Nhưng tóm lại, nếu muốn tìm thấy một điều gì đó mới lạ ở dòng phim tình cảm/bi Hàn Quốc, hay ngay cả Kwon Sang-woo, có lẽ bạn sẽ lại phải chờ sang một dịp khác. Quả thật có đôi chút đáng buồn, khi khán giả khó có thể nào… buồn, như chính tên phim đã gợi mở!

Đánh giá của Hisashi: 2/5

 
1 Comment

Posted by on 27/05/2009 in On Screen

 

Le fabuleux destin d’Amélie Poulain (2001) – Original Soundtrack

Khi bắt đầu nổi tiếng trên thế giới với Amélie, Yann Tiersen mới ba mươi mốt tuổi. Nhạc của anh khá minimalist, mang hơi hướng Parisian không lẫn vào đâu được, nhất là với những hòa âm tươi sáng, dặt dìu của accordion và violin. Không chỉ có thế, bộ phim còn là nơi Tiersen thể hiện sự sáng tạo khi sử dụng những nhạc cụ độc đáo như tiếng máy chữ (track 10 – Pas si simple) hay bánh xe đạp (track 13 – La Dispute).

Phần nhạc của Tiersen đã góp phần không nhỏ đưa Amélie đến với thành công. Khi được gửi đi dự LHP Cannes, Amélie đã bị giám khảo khi đó là Gilles Jacob loại ra, cho rằng bộ phim “không thú vị”. Điều đáng nói là bản phim Gilles Jacob xem chưa ghép nhạc. Sau khi công chiếu, Amélie lập tức thắng lợi rực rỡ, giành bốn giải César, trong đó có giải dành cho nhạc phim xuất sắc nhất. Bộ phim cũng nhận được năm đề cử Oscar năm 2001.

Trong một lần ngồi trên xe của tay trợ lý, đạo diễn của bộ phim, Jean-Pierre Jeunet tình cờ nghe được một đĩa nhạc của Yann Tiersen. Quá ấn tượng, Jeunet mua trọn bộ nhạc phẩm của Tiersen về nghe, và cuối cùng mời anh soạn nhạc cho Amélie.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Track Listing (MP3, 320Kbps)

1. “J’y suis jamais allé” – 1:34
2. “Les Jours tristes” (Instrumental) – 3:03
3. “La Valse d’Amélie” (Original version) – 2:15
4. “Comptine d’un autre été: L’après-midi” – 2:20
5. “La Noyée” – 2:03
6. “L’Autre valse d’Amélie” – 1:33
7. “Guilty” (Al Bowlly) – 3:13
8. “À quai” – 3:32
9. “Le Moulin” – 4:27
10. “Pas si simple” – 1:52
11. “La Valse d’Amélie” (Orchestral version) – 2:00
12. “La Valse des vieux os” – 2:20
13. “La Dispute” – 4:15
14. “Si tu n’étais pas là (Fréhel)” – 3:29
15. “Soir de fête” – 2:55
16. “La Redécouverte” – 1:13
17. “Sur le fil” – 4:23
18. “Le Banquet” – 1:31
19. “La Valse d’Amélie” (Piano version) – 2:38
20. “La Valse des monstres” – 3:39

Download tại đây

 
2 Comments

Posted by on 25/05/2009 in Soundtrack

 

Star Trek (2009)

Tựa Việt: Star Trek – khởi chiếu từ 20/5/2009
Thể loại: Hành động / Phiêu lưu / Khoa học viễn tưởng
Đạo diễn: J.J. Abrams
Diễn viên chính: Chris Pine, Zachary Quinto, Leonard Nimoy, Eric Bana, Simon Pegg, John Cho, Anton Yelchin
Thời lượng: 127 phút

Tựa phim Star Trek Fafilm Việt Nam hồi xưa dịch là Chuyến du hành đến các vì sao. Megastar nghe nói không biết dịch làm sao nên lấy luôn tựa tiếng Anh là Star Trek, còn tui nghĩ nếu không thích cái tựa dài kia thì dịch là Tinh cầu du ký cho nó giống Tàu cũng được. Tui đi xem Star Trek có phần thiệt thòi với các bạn khác, vì bà con thấy nhân vật nào xuất hiện là rú lên nhân vật đó mà tui thì thiệt ra chỉ nhớ mang máng thôi chứ không nhớ rõ ai là ai. Star Trek kỳ này cũng theo xu hướng gần đây gọi là reboot (tức là khởi động lại) và origin (ta gọi là phim thời niên thiếu) xoay quanh thời niên thiếu của hai bạn trẻ James Kirk và Spock cùng phi hành đoàn của con tàu Enterprise.

Star Trek lên sóng truyền hình từ năm 1966, đến nay vẫn giữ kỷ lục là show truyền hình có số lượng phim ăn theo nhiều nhất trong lịch sử. Bộ phim kể về năm năm thi hành nhiệm vụ thám hiểm không gian của con tàu Enterprise. Thành phần phi hành đoàn có những nét đặc trưng khá thú vị: thuyền trưởng James Kirk người Mỹ, trưởng phi hành đoàn Mr. Spock nửa Vulcan nửa Trái đất, Chekov người Nga, Hulu người gốc Á, và Uhura người da đen. Chekov thể hiện giấc mơ hòa bình giữa Nga và Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh, Uhura thể hiện sự tôn trọng đối với người Mỹ da đen, còn Hulu đại diện cho bản sắc đa văn hóa của xã hội Mỹ.

Xuất phát từ sự hứng thú với series phim truyền hình, J.J. Abrams quyết định khởi động lại loạt phim này với Star Trek (2009) về thời niên thiếu của James Kirk trước khi trở thành thuyền trưởng của Enterprise.

—- lưu ý: có kể nội dung phim —-

Star Trek 2009 bắt đầu khi con tàu USS Kelvin đang điều tra một cơn bão sấm sét trong vũ trụ, cuối cùng hoá ra đó là một cái lỗ đen vũ trụ và sự xuất hiện của con tàu vũ trụ Narada của giống người Romulan. Đám Romulan này là bọn người hành tinh cơ hội chuyên đóng vai ác trong loạt phim Star Trek này nên dĩ nhiên ngó mặt là biết ác rồi. Trùm của cái tàu này là chú Nero (nghe tên như chương trình burn đĩa), do Eric Bana đóng, nếu không nói thì tui không biết luôn vì hoá trang ớn ghê vậy đó. Thuyền trưởng của tàu Kelvin sau đó bị Nero giết chết, trưởng phi hành đoàn George Kirk lên thay thế, và trong vòng 17 phút ngắn ngủi, George đã thể hiện tố chất của một thuyền trưởng xuất sắc. Đây cũng là thời điểm cậu bé James Tiberius Kirk ra đời. Đoạn mở màn này tui cho là rất xuất sắc vì nó thiết lập ngay không khí của phim: hồi hộp, căng thẳng với những pha hành động song không thiếu những giây phút thư giãn hài hước bởi các đoạn thoại độc đáo.

Hai mươi hai năm sau, James Kirk nay đã lớn, thông minh, nổi loạn, không kém phần ngang tàng, lì lợm. Vì khoái em Uhura và được thuyền trưởng Pike rủ rê lên tàu mẹ Starfleet, Kirk quyết định gia nhập phi hành đoàn, kết bạn với Leonard “Bones” McCoy và được cử đi lên tàu Enterprise để điều tra một vụ liên quan đến những tín hiệu lạ từ hành tinh Vulcan. Kirk nhận ra những tín hiệu này giống hệt những tín hiệu đã xảy ra cách đó hai mươi lăm năm gây ra cái chết của cha anh…

Spock và Kirk, xưa và nay

Spock và Kirk, xưa và nay

Star Trek lần này xoáy mạnh vào mối quan hệ giữa James Kirk và Spock. Ai theo dõi loạt phim truyền hình cũng biết họ là đôi bạn thân đồng cam cộng khổ, có phần thân thiết quá như bồ của nhau. Thế nhưng, khi họ lần đầu gặp nhau, cả hai đều còn trẻ, hiếu thắng và chẳng ai ưa ai, nếu không nói là ghét nhau ra mặt. Kirk phán đoán giỏi nhưng nổi loạn, không tuân theo luật lệ gì, hành động theo trực giác, trong khi Spock hành xử theo phân tích logic, mọi thứ đều tuân thủ nguyên tắc, bất chấp tình cảm. Star Trek 2009 thiết lập những viên gạch đầu tiên cho tình bạn thắm thiết sau này của họ, mà chính vì thế người xem sẽ hồi hộp chờ đợi làm sao Kirk và Spock từ chỗ ghét nhau thành bạn bè chí cốt. Chris Pine và Zachary Quinto vào vai rất xuất sắc, bởi họ phải thể hiện ra thần thái mà những bậc tiền bối đã để lại nhưng vẫn giữ được nét diễn riêng của mình cũng như tạo nên sự mới mẻ cho nhân vật của họ. Hồi đầu tui cũng lo chú Zachary lôi nguyên bản mặt Sylar vô phim này nhưng may sao chú ấy không tới nỗi, dù có một đoạn vô cùng “Sylar”.

Không thể không nói đến sự xuất hiện của Leonard Nimoy. Thường thì các phim remake hay reboot hay cho các diễn viên của bộ gốc góp mặt cameo cho vui. Không ngờ Star Trek này còn làm quá hớp luôn. Ông Leonard Nimoy này ổng nói là không có ai mà đóng Spock hay hơn ổng đâu đó. Mà ông này cũng chảnh lắm nha, vừa nói là ko ai đóng Spock hay hơn mình, vừa nói là kịch bản dở là không thèm đóng, rất là ép người. Chú Nimoy được chi tiền nhiều để quay lại, nhưng chú này kêu kịch bản dở quá không chịu đóng, chừng nào kịch bản mà hay chú ấy mới chịu đóng. Cuối cùng thì người ta cũng làm vui lòng chú ấy. Giờ chú ấy già rồi, nên cũng bớt sân si. Chú Zachary đóng Spock thời trẻ mà thành công là nhờ có chú Nimoy này giúp đỡ ngay ở trường quay luôn.

Dàn phi hành đoàn cũng khá ấn tượng, đặc biệt là Simon Pegg trong vai Scotty kể từ khi xuất hiện đã hoàn toàn “steal the show”. Em Uhura do Zoe Saldana đóng khá hot. Em này có cảnh thoát y cũng hấp dẫn. Nhân vật này ở phần này cũng có lý lịch khá “đặc biệt” so với bản phim truyền hình, vì hình như trong TV series thì Uhura yêu Kirk chứ không phải Spock? Chú Anton Yelchin vai Chekov nhìn trẻ kinh, cứ như 15 tuổi vậy. Bạn John Chu của Harold & Kumar nói chung cũng tròn vai, nhưng không có hài cho lắm vì vai này hơi serious. Có điều vì nhiều nhân vật nên không nhân vật nào được giới thiệu sâu. Tập Star Trek này có không khí hài hước dí dỏm từ đầu tới cuối, thoại rất hóm hỉnh thông minh, nhưng không kém phần hấp dẫn ở các đoạn hành động. Đoạn đánh lộn ở dàn khoan trên không rất là hồi hộp dù ai cũng biết ta thắng địch thua. Kỹ xảo mấy cái tàu đẹp, hoành tráng, phần âm thanh cũng đặc biệt ấn tượng, dù phần âm nhạc thì hơi sến.

Điểm đáng tiếc nhất trong phim chính là Eric Bana trong vai kẻ ác, vì vai này không có gì đặc biệt, ác như mọi kẻ ác làm chuyện ác. Mà hoá trang cho chú này làm thấy ớn nên tui chả nhận ra chú đó luôn. (Nói tới hoá trang thì cũng nói thêm là em Winona Ryder cũng đóng phim này mà hoá trang dở ẹc làm nhìn em ấy vẫn còn trẻ nên tui không tin em ấy là mẹ Spock chút nào). Đoạn đánh cuối cùng cao điểm cũng không ấn tượng bởi toàn là đĩa bay tàu bay bay bay bắn bắn mà rất ít có những cảm xúc của nhân vật được lồng vào.

Có điều nhìn chung, Star Trek mới là một phim viễn tưởng vui nhộn, đầy tính giải trí, vừa rung đùi cười vừa ồ à xem đánh lộn bắn súng. Mặc dù vậy, tui không tin phim này thành công ở Việt Nam vì tình hình là dân châu Á không có hảo mấy vụ đĩa bay phi thuyền cho lắm.

Đánh giá của phanxine: 3,5/5

 
2 Comments

Posted by on 24/05/2009 in On Screen

 

Kick-Ass – “Tarantino thiếu niên”?

KA-DS-D13-161-02

Does everything have to be about money?

Jesus, man. Why do people want to be Paris Hilton and nobody wants to be Spider-man?

- Dave Lizewski -

Điều gì xảy ra khi một thiếu niên khoác lên mình một trang phục khác người và quyết định trở thành siêu anh hùng? Câu hỏi được đặt ra trong Kick-Ass, bộ phim mới của đạo diễn Matthew Vaughn, người từng được biết đến với hai bộ phim tương đối thành công, Layer Cake (2004) và Stardust (2007). Kick-Ass hứa hẹn sẽ gây bất ngờ với người hâm mộ điện ảnh vào cuối năm nay.

Kick-Ass chuyển thể từ truyện tranh cùng tên của Mark Millar, tác giả được biết đến qua những bộ comic đình đám từng được dựng thành phim như Ultimates, Fantastic Four và gần đây nhất là Wanted. Nội dung của Kick-Ass xoay quanh Dave Lizewski, một học sinh trung học vì quá mê mệt truyện tranh đã quyết định trở thành siêu anh hùng, dù cậu chẳng có khả năng hay phẩm chất gì đặc biệt. Vai diễn này đuợc giao cho diễn viên trẻ Aaron Johnson sinh năm 1990 đảm nhiệm. Theo Aaron, Dave là một siêu anh hùng amateur khoác lên mình một trang phục kiểu đồ lặn. Cậu ta muốn làm điều tốt nhưng lại khiến cho mọi việc thêm tệ hại. Trên con đường “trừ gian diệt ác”, Dave chạm trán Big Daddy (Nicolas Cage thủ vai), một kẻ vì mục đích “thực thi công lý” đã huấn luyện cô con gái mười một tuổi của mình, Hit Girl (Chloe Moretz), trở thành cỗ máy giết người thực thụ.

Trong khi Spider-man xoay quanh chuyện một người thường bỗng trở thành siêu nhân, Kick-Ass kể chuyện một thiếu niên bình thường muốn làm siêu anh hùng. Nói cách khác, Kick-Ass là phiên bản hiện thực của Spider-man. Tuy nhiên, phong cách của Kick-Ass sẽ khác hẳn Spider-man vì bộ phim cố ý mô tả bạo lực một cách trần trụi. Theo Matthew Vaughn, Kick-Ass có thể coi như một phim Tarantino thiếu niên, ám chỉ tính bạo lực rẩt đặc trưng trong các tác phẩm của đạo diễn nổi tiếng Quentin Tarantino. Điểm khác biệt ở đây là nhân vật chính Dave Lizewski không hề có năng lực hay sức mạnh phi thường. Vì thế ngay từ lần đầu tiên “ra mắt”, siêu anh hùng trẻ tuổi đã bị cho “ăn đòn” nhừ tử và phải vào bệnh viện. Trong truyện, cảnh đánh nhau này được thể hiện bằng những nét vẽ bạo lực không khoan nhượng nên đã gây ra không ít tranh cãi. Có lẽ khán giả sẽ sốc hơn nhiều khi chứng kiến những hình ảnh bạo lực này trên màn ảnh rộng.

300pxKickAss_Vol_1_2

Khi ta thể hiện một nhân vật đau đớn vì trúng đạn hay lãnh một nhát dao, nguời xem sẽ thấy tình huống ấy ghê rợn đến thế nào, đạo diễn Kick-Ass phân trần. Matthew Vaughn cũng cho biết, yếu tố bạo lực sẽ được kết hợp khéo léo với tính hài hước. Ông hé lộ, sẽ có những cảnh quay khiến khán giả phá lên cười trong khi chưa hết bàng hoàng trước những hình ảnh bạo lực. Theo Matthew, cách thể hiện đó sẽ khiến khán giả dễ dàng chấp nhận bộ phim hơn. Khi người xem chứng kiến cô nhóc [ý nói nhân vật Hit Girl] chặt chém những kẻ xấu ra nghìn mảnh, họ vẫn sẽ không nhịn được cười, lời khẳng định của Matthew Vaughn hẳn sẽ khiến những người chờ dón bộ phim phải chú ý.

kickass_

Mặc dù nội dung của Kick-Ass gây không ít tò mò cho những người yêu điện ảnh cũng như các comic fan, tìm kiếm tài trợ cho bộ phim không phải điều dễ dàng. Lý do cản trở việc sản xuất chính là yếu tố bạo lực. Matthew cho biết, lần nào ông gặp các nhà tài trợ, họ cũng kêu ông bỏ nhân vật Hit Girl hoặc thậm chí loại bỏ hoàn toàn yếu tố bạo lực. Có người còn thắc mắc liệu ông có định giễu Spider-man hay không. Matthew kết luận, ông không cố gắng hiểu Hollywood nữa. Đạo diễn này còn khẳng định: Nghe có vẻ ngạo mạn, nhưng việc các hãng phim từ chối dự án này khiến tôi càng quyết tâm thực hiện nó. Và Matthew nhắc lại quá trình vận động tài trợ cho bộ phim Lock, stock and two smoking barrels (đạo diễn Guy Ritchie) do chính ông đứng ra sản xuất. Matthew cho biết, khi đó không ai muốn nghe nói về bộ phim. Thậm chí khi Lock, stock and two smoking barrels hoàn thành, chẳng ai muốn đứng ra phân phối. Cuối cùng, mặc dù không giành được thành công lớn về mặt doanh thu, Lock, stock and two smoking barrels vẫn được các nhà phê bình điện ảnh đánh giá cao và trở thành một trong những tác phẩm gây ảnh hưởng đáng kể trong dòng phim gangster.

Trở lại với Kick-Ass, Matthew cho biết ông quyết tâm thực hiện bộ phim theo đúng ý tưởng ban đầu. Do đó, Kick-Ass sẽ là một phim độc lập cho chính hãng MARV Films của Matthew Vaughn đứng ra sản xuất. Đạo diễn bày tỏ hi vọng Kick-Ass sẽ gây được ảnh hưởng đối với dòng phim chuyển thể từ truyện tranh như Lock, stock and two smoking barrels từng làm với dòng phim gangster.

Liệu Kick-Ass có làm nên chuyện? Khán giả sẽ có câu trả lời vào cuối năm 2009, khi bộ phim chính thức công chiếu.

(Theo Première, số tháng 3, 2009)

 
Leave a comment

Posted by on 23/05/2009 in Preview

 

Tags:

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers