RSS

Monthly Archives: May 2009

Ron Howard kể chuyện “đi vòng” trong quá trình thực hiện Angels and Demons

Đạo diễn Ron Howard biết trước ông sẽ tự chuốc lấy nhiều rủi ro khi chấp nhận công việc chỉ đạo Angels and Demons (Thiên thần và Ác quỷ), bộ phim thứ 2 của nhà văn trinh thám Dan Brown sau thành công mang tính hiện tượng của The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci).

Bối cảnh chủ yếu của tập truyện này là thành phố Rome, tuy nhiên ông đã chuẩn bị trước tinh thần để đón nhận những khó khăn mà Nhà thờ Công giáo sẽ gây ra cho đoàn làm phim, sau khi tổ chức tôn giáo lớn nhất thế giới này kịch liệt chỉ trích Da Vinci Code. Chính vì thế vị đạo diễn từng đoạt giải Oscar này đã không hề đặt ra bất cứ một kế hoạch A nào, mà thực hiện luôn phương án dự phòng.

Ông đi khảo sát bối cảnh bằng cách tự bỏ tiền túi để cùng một đoàn khách du lịch đến thăm tòa thánh Vatican. Ông đã phải đeo kính đen và đội mũ lưỡi trai để tránh bị phát hiện. Và khi bộ phim bắt đầu được bấm máy, ông đã vận dụng toàn bộ kỹ năng, kỹ xảo của hơn 50 năm hành nghề trong lĩnh vực điện ảnh để san phẳng những chuớng ngại trên con đường ông đi.

Ron Howard nói: “Tôi tự hào về những gì chúng tôi đã đạt được với bộ phim này, bởi chúng tôi đã vận dụng gần như tất cả các kỹ thuật thị giác trong điện ảnh, từ những kỹ thuật đơn sơ của một trăm năm trước, đến công nghệ số tối tân nhất hiện nay. Chúng tôi đã phải xây dựng một phim trường khổng lồ, thế nhưng vẫn phải quay ‘du kích’ một vài cảnh ở Rome và sử dụng phông nền xanh. Tôi rất mừng vì đây là bộ phim thứ 20 của tôi chứ không phải bộ phim thứ 2, bởi nó đòi hỏi phải lên kế hoạch kỹ lưỡng, phải nhìn bao quát trước mọi thứ, phải vận dụng nhiều kỹ thuật hình ảnh và phải ráp nối rất nhiều những mảnh ghép nhỏ. Về mặt kỹ thuật, bộ phim là một chiến công thực sự, còn về mặt thống kê, nó lại là một thách thức khủng khiếp, thế nhưng chúng tôi cũng đã biết cách để hoàn thành nó”.

Ron Howard thậm chí còn không cần xin phép để được quay phim tại một số nhà thờ nổi tiếng ở Rome vì ý thức được rất rõ ràng những ác cảm của Vatican đối với The Da Vinci Code và món đặc sản cocktail, gồm những thành phần: khoa học, tôn giáo, hiện thực và hư cấu, của nhà văn Dan Brown.

Vị đạo diễn 54 tuổi cho biết: “Chính sách của họ là bất hợp tác, vì thế chúng tôi chỉ hy vọng khi đặt chân xuống Rome, họ sẽ không ngay lập tức ra tay ngăn cản. Thực tế là họ đã không làm vậy trong phần lớn thời gian, tuy nhiên khi thực hiện một số cảnh quay tại những địa điểm được chính quyền thành phố cho phép, mà từ đó bạn có thể nhìn thấy một số nhà thờ ở phía sau, thì chúng tôi đã gặp phải rất nhiều rắc rối. Chúng tôi tin Vatican đã làm mọi cách để đuổi chúng tôi ra khỏi những địa điểm đó”.

Đoàn làm phim đã thực hiện những cảnh quay tại Rome trong vòng 1 tháng, trên những con đường của thành phố, tại Pantheon, Piazza del Popolo và Castel Sant Angelo, thế nhưng ngoài những cản trở từ phía Vatican, họ còn gặp phải những vấn đề từ chính khán giả hâm mộ, những người đã vây kín khu vực quay phim để ngắm nhìn những ngôi sao bằng xương bằng thịt. Chính vì thế, họ đã trở lại Los Angeles, nơi quảng trường Thánh Peter, đền thờ Sistine, Piazza Navona, cùng những đài, tháp, và các tác phẩm điêu khắc của Raphael, Michelangelo đều được tái hiện lại trên những trường quay của Hollywood.

Mặc dù Angels and Demons ra đời trước The Da Vinci Code trong loạt truyện trinh thám ăn khách của Dan Brown, và cũng đồng thời là chuyến phiêu lưu đầu tiên của giáo sư biểu tượng học, Robert Langdon, thế nhưng Howard lại quyết định chuyển thể quyển truyện này thành phần tiếp theo, trong đó Tom Hank tiếp tục thủ vai Langdon, với mái tóc ngắn hơn, để đương đầu với Illuminati, một tổ chức bí mật với những âm mưu thanh trừng đẫm máu.

Đây là lần đầu tiên trong sự nghiệp điện ảnh Howard làm một bộ phim thứ 2 về 1 nhân vật, ông nói: “Trước đây, tôi không bao giờ muốn làm điều đó, bởi tôi luôn hứng thú trong việc tìm tòi những điều mới mẻ. Thế nhưng, mặc dù Robert Langdon một lần nữa trở lại với vai trò trung tâm, bộ phim vẫn vô cùng khác biệt so với The Da Vinci Code, chính vì vậy tôi đã không có cảm giác mình đang thực hiện phần phim tiếp theo. Bộ phim này cần một giai điệu và một nhịp độ khác. Đây là một bộ phim ly kỳ, dựa trên một bí ẩn thú vị, trong khi đó, The Da Vinci Code lại đề cập nhiều đến quá khứ. Về khía cạnh chỉ đạo và hình ảnh, hai bộ phim này cũng hoàn toàn khác biệt”.

Mặc dù trong Angles and Demons, nhân vật chính Robert Langdon đứng về phía Nhà thờ Công giáo để chống lại những thế lực âm mưu tiêu diệt tổ chức tôn giáo này, thế nhưng giới chức nhà thờ vẫn tiếp tục chỉ trích bộ phim ngay từ khi nó còn chưa hoàn tất. Họ phản đối Brown vì đã viết nên một câu chuyện trong đó mô tả Nhà thờ làm cản bước tiến của khoa học bằng việc giết hại các nhà khoa học, đồng thời miêu tả vị trí Giáo Hoàng ở Vatican là một chức vụ khiến nhiều người sẵn sàng nhúng tay vào máu để đạt được nó. William Donohue, giáo chủ Liên minh Công giáo, còn cáo buộc câu chuyện đã thổi phồng lịch sử của tổ chức Illuminati, khi cho rằng tổ chức này chỉ tồn tại trong khoảng 1 thập kỷ, thay vì hàng thế kỷ, và Galileo chưa bao giờ là thành viên của tổ chức này.

Howard nói tiếp: “Tất cả sự phản đối này đều vang vọng từ chiến dịch chỉ trích Da Vinci Code. Tôi hy vọng ngoài việc cảnh báo những bê bối có thể xảy đến với Nhà thờ, bộ phim còn tái hiện được những giá trị tâm linh của nó. Tôi có những người bạn rất thân thiết theo Công giáo, khi hỏi họ về Da Vinci Code, họ có vẻ khó nói, nhưng khi hỏi họ về Angels and Demons, thì họ trả lời những vụ bê bối và bạo lực là một phần của lịch sử Nhà thờ, mà bạn có thể đọc được ngay trong thư viện của Vatican. Quyển sách đúng là đã hư cấu những gì liên quan đến đề tài này, thế nhưng nó hoàn toàn không hề có ý định làm tổn hại đến ai”.

Đã có khoảng 40 triệu người đọc quyển sách này, và gần như tất cả sẽ cau mày trước những sự thay đổi và lược bỏ mà Howard đã làm trong quá trình đưa câu chuyện lên màn ảnh rộng. Tuy nhiên ông đã không hề biện hộ quyết định của mình: “Tôi muốn được tự do hơn với tập phim này bởi nếu tôi nhận thức được một điều gì đó từ The Da Vinci Code, thì đó là một câu chuyện rất, rất tham vọng. Cốt truyện của nó rất phù hợp với thể loại tiểu thuyết, nhưng khi lên phim thì bạn buộc phải đơn giản hóa nó, với bộ phim này, tôi muốn thu hẹp sự tập trung lại”.

Nhà văn Dan Brown cũng vừa kết thúc tập truyện thứ ba về nhân vật Robert Langdon với nhan đề The Lost Symbol (Biểu tượng bị đánh mất). Quyển truyện này sẽ được xuất bản vào tháng Chín tới. Sẽ rất an toàn nếu đặt cửa Howard, Hanks và đoàn làm phim sẽ sớm tái ngộ để chuyển thể tập truyện này lên phim, cho dù chính Howard đã khẳng định ông chưa có ý tưởng gì về nội dung quyển sách.

Ông nói: “Dan không nói gì với tôi cả. Tôi biết là anh ấy đã quay lại, đào sâu câu chuyện hơn và chăm chút nó từng tý một. Tại lễ ra mắt bộ phim tại Rome, tất cả chúng tôi đều quây lấy anh ấy và liên tục chuốc rượu để anh ấy tiết lộ một chút về nội dung, nhưng anh ấy chẳng hề hé ra lấy một từ”.

TTVH/Telegraph

 
2 Comments

Posted by on 23/05/2009 in Interviews

 

Tags: ,

Phân tâm học và chủ nghĩa duy dương vật trong điện ảnh

Phallus-5

Phân tâm học là công cụ để khám phá những kết nối giữa các phần vô thức trong quá trình suy nghĩ của một người. Mục tiêu là “để giúp giải phóng người ta khỏi những rào cản vô định hay vô thức của việc thuyên chuyển và chống đối”.

Laura Mulvey, trong bài luận “Hoan hình và Điện ảnh thể thuật”, đã sử dụng phân tâm học để chỉ ra con đường mà các nhà nữ quyền nghiên cứu điện ảnh nên bước đi. Thật vậy, bài văn của Mulvey được nhận định là “giúp điện ảnh nghiên cứu, chuyển gần hơn với khung hình của phân tâm học”.

Mục đích của bài viết này là phân tích nền tảng lí thuyết mà Mulvey đã dựa trên, đồng thời bàn luận về những điều Mulvey đã đạt và cũng như chưa đạt được với bài luận của bà.

Để tóm tắt, tác giả chỉ ra rằng, những thiên kiến chủ yếu của điện ảnh nằm ở những ám ảnh tâm lí và giả định của xã hội. Mulvey sử dụng lí thuyết của Freud và Lacan để lí luận: bộ máy phóng hình của điện ảnh Hollywood kinh điển đã không chần chừ đặt khán giả/người hùng vào vị thế chủ thể/nam tính; trong khi đó người phụ nữ trên màn ảnh thường là vật thể của sự cám dỗ. Người phụ nữ có thể được xem như “Thánh mẫu” với cái nhìn tò mò/ngưỡng mộ; hay chỉ được xem là “Kẻ bán thân” với cái nhìn sùng vật/thèm muốn. Những ám ảnh và giả định này cần phải được đánh đổ bằng một điện ảnh giàu tính chính-nghệ mới.

Tuy nhiên, Mulvey tỏ ra bất lực trong việc tìm kiếm con đường “để chúng ta có thể thoát ra khỏi nỗi khổ này”. Bà tự đặt câu hỏi: “làm sao để chống lại vô thức đã được định hình như ngôn ngữ, mà lại không bị trói buộc trong thứ ngôn ngữ trọng nam khinh nữ”.

Thật vậy, trong bài luận mang tên “Điều cản trở của hệ tư tưởng: nhận thức luận, chủ nghĩa nữ quyền và điện ảnh luận”, tác giả Jennifer Hammett cho rằng: “được tái hiện như là vật thể chính phản ánh xã hội trọng nam khinh nữ, phụ nữ không có đủ nhận thức luận để thoát khỏi nơi yếm thế này”.

Thật ra, Mulvey hiểu rằng, phân tâm học là “một vũ khí chính trị quan trọng” nhưng thứ vũ khí uy thần này lại thường nằm trong tay của nam giới.

Theo Sigmund Freud, trong khi nam giới sở hữu dương vật, không ai có thể sở hữu biểu tượng của một người hoàn hảo này. Trong bài luận tiêu đề “Ý nghĩa của duy dương vật”, Lacan cũng đào xới sự khác nhau giữa “có” và “là” dương vật. “Nam giới” được đặt ở vị trí “con trai” khi người ta thấy con người ấy “có” dương vật. “Nữ giới”, trong khi đó, không sở hữu dương vật, nên họ bị xem “là” dương vật và bị sở hữu bởi “Nam giới”. Như vậy, có thể nói, Freud và Lacan, hai nhà phân tâm học hàng đầu, rõ ràng đã đặt nam giới ở ví thế cao hơn nữ giới.

Cách tiếp cận của Mulvey thể hiện sự thận trọng bởi bà phải “tạo sự đột phá bằng cách dùng những công cụ có sẵn” và đó chính là phân tâm học. Bằng cách sử dụng cùng loại vũ khí mà nam giới đã dùng để đàn áp nữ giới, Mulvey hy vọng có thể “tạo được cảm giác hân hoan khi có thể từ bỏ quá khứ mà không chối bỏ nó”.

Tuy nhiên, khoảnh khắc hân hoan – khoảnh khắc mà nam giới phải từ bỏ ngai vàng và đứng vai kề vai với nữ giới xem chừng chưa xảy ra. Hammett cho rằng “có niềm tin nữ quyền hay thể hiện chúng cũng chưa đủ để tạo ra khoảnh khắc quyết định”. Bà cho rằng “cần thiết một điều gì đó hơn thế nữa để tháo bỏ lớp luân lí bó chặt chúng ta [những người phụ nữ], một điều gì đó liên quan đến cái gốc của Nữ quyền luận”. Theo Hammett, bài học ở đây là “Sự thật duy nhất là không có sự thật nào hết, cụ thể hơn trong trường hợp này, không bao giờ có chủ nghĩa Nữ quyền “tinh” hay “thực”.

Điều thú vị là, nếu câu của Hammett được diễn giải thành: “Tất cả tri thức đều sai” thì chính câu văn này mâu thuẫn với chính nó, bởi câu văn này cũng được xem là một phần tử của tri thức và nó cũng sai.

Do vậy, trong kết luận, Hammett cho rằng, những người phụ nữ phải giữ vững ít nhất niềm tin rằng họ có thể tạo một khoảng cách đủ với nền tảng trọng nam khinh nữ để đả kích nó một cách công bằng. Nói một cách khác, điều này cũng có nghĩa là: “một khi chúng ta [những người phụ nữ] nhận ra thế giới là những chuỗi tái hiện, chúng ta sẽ biết cách tái hiện chúng khác đi”.

Trong bài luận, Mulvey đã thành công trong việc chỉ ra, điện ảnh là một hình thức của tái hiện: “ở vị trí hệ thống tái hiện cao cấp, điện ảnh đã đặt ra những câu hỏi về con đường mà vô thức (được thiết lập bởi thế lực chiếm ưu thế [nam giới]), cấu trúc nên cách người ta nhìn nhận và thưởng thức”. Cũng có nghĩa là, hình ảnh trên phim chứa đựng bề dầy lịch sử xã hội của những giả định và trói buộc. Thêm nữa, Claire Johnston, được nhắc đến trong bài luận của Hammett, cho rằng: “sự thật về sự áp bức phụ nữ không thể bị tóm lên phim bởi con mắt ngây thơ [giả tạo] của máy quay phim”. Cả Mulvey lẫn Johnston đều muốn chỉ ra mối quan hệ đầy tính chủ quan giữa máy quay phim và những hình ảnh trên màn bạc. Hai tác giả muốn nhắc nhở các nhà nữ quyền rằng: những hình ảnh trên phim không phải là hiện thực mà chỉ là một tái hiện của hiện thực.

Trong phân tích cách Hollywood tái hiện hiện thực, Mulvey chỉ ra rằng: “Cách mà Hollywood làm là dựa trên sự lợi dụng một cách nhuần nhuyễn cách thức tạo cảm giác hoan hỉ khi xem phim”. Thật vậy, trong bài viết mang nhan đề “Làm nhân chứng” trên tạp chí CineAction, tác giả Brian Gibson lí luận rằng máy quay phim, như cái cách mà Hollywood đã sử dụng, không chỉ là công cụ của sự kì thị mà còn là công cụ của tư bản chủ nghĩa, “khai thác và bóc lột không chỉ phụ nữ”. Tác giả giải thích: “Cảm giác thích được ngắm nhìn tạo ra bởi nhóm phim ảnh giải trí, có mục đích cuối cùng là tiêm nhiễm một thứ ham muốn vào khán giả về những vật thể trên màn ảnh”. Nói theo cách của Mulvey, “ở vị trí của khán giả, người ta đặt mình vào ví trí nhân vật thúc đẩy trên phim, sở hữu sức mạnh của nhân vật thúc đẩy ấy và một cách gián tiếp sở hữu tất cả những gì trên màn ảnh [trong đó có người phụ nữ]“.

Mulvey thật ra đã có những phân tích rành mạch về cái gọi là “đặt mình vào ví trí nhân vật thúc đẩy”/”cái nhìn của nam giới” – hành động nhìn nữ giới như những vật thể. Mulvey chỉ ra mối quan hệ sóng đôi giữa người nam chủ động như chủ thể/khán giả/nhân vật thúc đẩy và người nữ bị động như vật thể/hình ảnh trên phim/nhân vật cản trở. Mối quan hệ này được thể hiện trên phim bằng chuỗi những “cặp ánh nhìn”: cảnh cận nam nhân vật nhìn hướng về nơi sẽ cắt sang cảnh một bộ phận trên thân thể của nữ nhân vật. Khán giả, dù muốn dù không, cũng phải xỏ chân vào chiếc giày của nam nhân vật. Do đó, nữ nhân vật không chỉ là ham muốn của nam nhân vật kia mà còn cả “chúng ta” – những người xem phim. Như vậy, có thể nói, cả trên lẫn dưới màn ảnh, tính “Nam giới” được gán ghép cho cả người xem lẫn nhân vật thúc đẩy.

Cái tạo nên tính “Nam giới” ở đây được Mulvey dẫn giải: “ý nghĩa của nữ giới trong điện ảnh là [để thể hiện] sự khác biệt giới tính”, hay nói một cách khác, sự sở hữu hay không sở hữu dương vật. Mulvey đã mặc định rằng, cả nhân vật thúc đẩy trên phim và những người ngồi tại hàng ghế khán giả đều sở hữu “dương vật”, để họ có thể áp đặt cái nhìn đầy tính chủ quan lên nhân vật kéo/nữ nhân vật, những người không sở hữu “dương vật”.

Thật ra, điều này không thể áp dụng trong trường hợp nhân vật thúc đẩy là nữ và quan trọng hơn khi mà khán giả xem phim cũng là nữ. Tuy nhiên, lí lẽ của Mulvey có thể chấp nhận với thuyết “Thể Thiến” của Freud: người phụ nữ tượng trưng cho nỗi ám ảnh bị thiến bởi sự thiếu dương vật trên cơ thể của họ. Nói một cách khác, tất cả nhân loại có thể được xem là “nam giới” với phái nữ được mặc định là “nam giới” có dương vật bị thiến.

Bộ phim “Transamerica“, được đạo diễn bởi Duncan Tucker, là một ví dụ rất hay. Trong phim này, nữ diễn viên Felicity Huffman là tượng trưng cho “nỗi ám ảnh bị thiến” khi cô đóng vai nhân vật thúc đẩy – Bree, một người “nam” có mong ước được cắt bỏ dương vật.

Dương vật, trong trường hợp này, không phải là hình ảnh tái hiện sức mạnh nam giới mà như một gánh nặng. Nếu sở hữu dương vật được so sánh với “sở hữu một món quà thiêng liêng của Chúa trời” như lời của Lacan, thì Bree – một kẻ sở hữu dương vật, lại từ chối món quà này. Đây là một nhân vật mang tính đột phá, không chỉ trên phương diện phân tâm học mà còn ở phương diện xã hội học, khi mà một phần tử trong tập thể “Nam giới”, người đã dùng dương vật của mình để bộc lộ vị thế thống trị đối với âm vật/nữ giới – biểu hiện ở việc Bree có một người con trai, lại muốn từ bỏ vị thế “chủ thể” và trở thành một “vật thể”, dưới cái nhìn định kiến của xã hội.

Cũng nên biết rằng, trong giai đoạn phôi kì, âm vật ở nữ giới phát triển từ cùng một thứ mô mà sau đó hình thành dương vật ở nam giới. Do đó, âm vật có thể được xem là một “dương vật” của nữ giới hay “dương vật” của nam giới cũng có thể được xem là một “âm vật phình đại”. Sự khác biệt giữa hai thể âm vật này là “âm vật phình đại” của nam giới có chức năng tiểu tiện trong khi âm vật của nữ giới thì không.

Trở lại với phim “Transamerica“, có cảnh Bree cần tiểu tiện. “Anh ta” đang lái xe cùng con trai Toby, người vẫn chưa biết “người phụ nữ” bên cạnh là cha mình. Họ đang đi giữa đêm trên đường ngoại ô. Do đó, Bree không còn lựa chọn nào mà phải tiểu tiện ngay trên đường, đằng sau xe. Toby vô tình nhìn vào kính chiếu hậu và sững sờ khi phát hiện ra cái “âm vật phình đại” của Bree – một “âm vật phình đại” có thể tiểu tiện.

Mulvey, thật ra, bị chỉ trích vì quá “đơn tính” – nếu người khán giả không thuộc “Nữ giới” thì người đó chỉ có thể thuộc “Nam giới”. Mulvey đã bỏ quên giới tính thứ ba. Thật vậy, những nhà nghiên cứu điện ảnh đồng tính như Richard Dyer đã dùng công trình của Mulvey làm nền tảng để phân tích việc tại sao rất nhiều nam đồng tính thường có khuynh hướng ngưỡng mộ những nữ ngôi sao điện ảnh nhất định, chẳng hạn như Liza Minnelli, Greta Garbo hay Judy Garland. Thêm nữa, cái nhìn của Mulvey trên vấn đề này thường chỉ cố định trên quan điểm của một “người phụ nữ Mỹ, da trắng, trung lưu, đơn tính”. Nói một cách khác, Mulvey đã thất bại trong việc đem những yếu tố như tuổi tác, giới tính, vị thế xã hội và nhất là khuynh hướng tình dục vào công trình của mình.

Kết luận, Mulvey đã cố gắng để dùng phân tâm học như một công cụ chính trí để phá vỡ lớp túi “trọng nam khinh nữ”/duy dương vật chủ nghĩa. Bà đã thành công ở phần chỉ ra vị thế bị áp đặt và cái nhìn người phụ nữ như một vật thể – những điều mà người phụ nữ chưa ý thức hết được. Nhờ đó, bà đã làm thức tỉnh một lớp những nhà nữ quyền và trải ra con đường “phân tâm học” để họ tiếp bước đấu tranh. Tuy nhiên, Mulvey chưa tạo được “khoảng cách đủ” với nền tảng/ngôn ngữ duy dương vật, do đó chưa tạo được “khoảnh khắc quyết định”. Thật ra, Mulvey đã tự nhận xét rằng: bài luận này được xem như một tuyên ngôn hơn là một công trình chặt chẽ về mặt lí luận.

Tham khảo:

American Psychological Association (APA):
Psychoanalysis. (n.d.). Wikipedia, the free encyclopedia.
Retrieved January 24, 2007, from Reference.com website: http://www.reference.com/browse/wiki/Psychoanalysis

Gibson B. (2006). ‘Bearing witness’, in CineAction, issue 70, 2006, pp.24-38. Canada: CineAction collective.

Hammett J. (1997). ‘The ideological impediment: epistemology, feminism, and film theory’, in Richard A. & Murray S. (eds). ‘Film theory and philosophy’. NY: Oxford University Press. pp. 244-59.

Henry M. (2007). ‘The eyes of Laura Mulvey: subjects, objects and cinematic pleasures’. Retrieved January 25, 2007, from

http://www.rlc.dcccd.edu/annex/comm/english/mah8420/EyesofLauraMulvey.htm

Mulvey L. (1975). ‘Visual Pleasure and Narrative cinema’, in Leo B. & Marshall C. (eds). ‘Film theory and criticism: introductory readings’. 5th edition. NY: Oxford University Press. pp. 833-44.

Saco D. (1994). ‘Feminist film criticism: The piano and ‘the Female Gaze’’.
Retrieved January 25, 2007, from

http://www.gate.net/%7Edsaco/Female_Gaze.htm

Transamerica (2005).
Directed by Duncan Tucker.
Belladonna Productions.

Wikipedia:
Laura Mulvey. (n.d.) Wikipedia, the free encyclopedia.
Retrieved January 24, 2007, from Reference.com website:

http://en.wikipedia.org/wiki/Laura_Mulvey

 
3 Comments

Posted by on 22/05/2009 in Features

 

Tags: , , , , ,

Synecdoche, New York revisited

For T.

Có lẽ nên nói ngay rằng đây không phải là một bài review.

Có những bộ phim, đôi khi khiến ta thấy bất lực khi phải miêu tả bằng lời.

Như Synecdoche, New York.

Đó là một ngày tháng ba ở Melb. Tan học, tôi rẽ vào rạp phim quen gần trường. Nova không phải là một cineplex hiện đại. Nội thất của nó tựa như Fansland ở Hà Nội, chỉ là tiện nghi hơn, ấm cúng hơn. Lúc này phòng chiếu có ánh đèn vàng rất dịu để khán giả ổn định chỗ ngồi. Tôi xem ca chiều, ba giờ. Cả phòng chỉ có hai ba người. Đó là một ngày mệt mỏi. Tôi nhắm mắt lại, tranh thủ thả lỏng vài phút, vì biết bộ phim sắp xem, Rachel Getting Married, sẽ khá nặng nề. Như thường lệ, mười phút đầu là trailer của những phim sắp chiếu.

Hazel, Hazel và Caden, Caden

Hazel, Hazel và Caden, Caden

I’m just a little person, one person in a sea.

Câu hát đầu tiên vừa dứt, tôi đã biết, bộ phim này mình sẽ phải xem.

Nó rất dị. Và rất bình thường. Bình thường trong những chi tiết quái dị nhất. Quái dị từ những chi tiết bình thường nhất.

Tôi sẽ cố gắng tìm một sự so sánh thích hợp. Nếu Synecdoche, New York được ví với một loại kem, nó sẽ là kem ký. Và nó có vị sầu riêng.

Tại sao là kem ký? Vì đó là thứ kem đơn giản nhất. Nó chỉ là một khối vật chất mát lạnh thế thôi, không que, không ốc quế, không ly, không trái cherry, và không có ô giấy cắm vào làm cảnh. Tại sao là sầu riêng? Vì đó là một thứ hương vị mà ai đã thích thì mê mệt, còn ai đã sợ thì không bao giờ ăn được.

Synecdoche, New York cũng vậy. Cái nó mang đến là một thứ cảm giác, một thứ hương vị, một sự xao động trong tâm hồn, và sẽ chỉ hoài công nếu ai đó cố gắng đi tìm cho nó một cốt truyện, một khuôn mẫu, một hình hài. It’s Charlie Kaufman, man.

Đó là câu chuyện của nhân sinh. Về sự bình thường đến khác thường và sự tầm thường đến dị thường của kiếp người. Đó là đẹp, là buồn, là đôi chút ngọt ngào, là không ít bi thương, là rất nhiều cay đắng.

Hình như khi ngôn từ bất lực thì người ta hay so sánh. Synecdoche, New York cũng giống như trò đu quay. Kaufman bắt đầu câu chuyện một cách bình thường đến mức khó có thể bình thường hơn. Một buổi sáng bình thường của một gia đình bình thường, và thấp thoáng đâu đó là những sự bất thường. Một ông chồng việc đầu tiên khi mở tờ báo sáng ra là đọc mục cáo phó. Một cô bé con đi ị ra màu xanh lá cây. Mật độ và cường độ của bất thường trong đối thoại, trong tình tiết, trong hình ảnh, cứ thế tăng dần như đu quay tăng tốc. Để khi kết thúc vòng quay cuối, khán giả ra khỏi chỗ ngồi, đầu óc hoặc quay cuồng lảo đảo, hoặc ngây ngất như mê như say.

Như mê như say.

Vì thế giới của Synecdoche, New York là một thế giới chưa bao giờ tỉnh. Không phải ngẫu nhiên mà Caden mang họ Cotard – một hội chứng hoang tưởng cho rằng mình đã chết. Adele thổ lộ rằng cô thường huyễn hoặc rằng Caden chết. Cô nhầm. Điều họ huyễn hoặc, là mình đang sống. Từ khi dòng chữ 7:44 xuất hiện trên màn ảnh, Caden Cotard đã bắt đầu cuộc chết của mình – một hành trình kéo dài nửa đời người. Mà cũng có thể chỉ kéo dài một giấc mơ.

Đó là cuộc chết của thể xác và của tâm hồn. Gia đình. Tình yêu. Nghệ thuật. Thời gian. Và hơn bao giờ hết, của cảm giác rằng mình đang sống. Lẻ loi, lạc loài, kiệt quệ, Caden vẫn không ngừng tranh đấu. Like a lost and lonesome weeping willow (chỉ có điều, một lúc nào đó, nước mắt cũng sẽ rời bỏ ông).

Cuộc chiến không cân sức ấy là điều đẹp đẽ nhất và đau đớn nhất của Synecdoche, New York. Hơn ai hết, Caden ý thức rõ ràng về sự nhỏ bé, bất lực đến vô cùng của kiếp người. I do my little job. And live my little life. Eat my little meals. Miss my little kid and wife. Biết rõ rằng mình rồi sẽ chết. Tất cả rồi sẽ chết. Nhưng, trước mỗi cú đánh của số phận, Caden đều kiên cường đáp trả, từ chối chết đi một cách lặng lẽ, để rồi cuối cùng lặng lẽ chết đi, trong một niềm thanh thản. Mỗi nỗ lực ấy, mỗi lần gượng dậy ấy, dù muộn màng, dù thơ ngây, dù khờ khạo, vẫn khiến ta phải nghiêng mình.

Lọ nước mắt, cây gậy, mái tóc giả… là sự kháng cự tuyệt vọng của Caden trước sự tàn tạ của thể xác. Claire và Ariel là nỗ lực tái hiện bất thành Adele và Olive – một mái ấm gia đình. Chiếc hộp màu hồng và lời “tự thú” nghẹn ngào bên giường bệnh Olive là cố gắng vô vọng để hồi sinh một tình cha con đã chết. Sân khấu khổng lồ với hàng trăm, hàng nghìn diễn viên là sự ganh đua thất bại với những tác phẩm tiểu họa của Adele – không phải Adele-người-vợ mà là Adele-đối-thủ-trong-nghệ-thuật. Kiệt tác mà Caden ôm ấp, cái mộng tưởng tưởng chừng to tát là được lưu danh của người nghệ sĩ, thật ra, lại là mong muốn giản đơn nhưng bất khả của con người – được sống: “I’m gonna finally put my real self into something.”

Còn Hazel, là cuộc truy cầu bất tận một tình yêu. I breathe your name in every exhalation.

Thật khó nói Caden đã thành công hay thất bại. Chẳng ai có thể viết lại lịch sử. Chẳng ai có thể trộn mộng và thực để tái tạo đời. Chẳng ai có thể đi tìm thời gian đã mất. Chẳng ai có thể về lại dưới bóng những cô gái tuổi hoa. Nhưng, khi bà cụ hàng xóm trìu mến bảo Caden: “You’re very welcome, young lady!”, ta lại mơ hồ cảm thấy, điều ấy dường như là có thể. Vãn hồi một cuộc hôn nhân, một thuở hoa niên, một khát vọng, một tình yêu bằng cách ánh xạ cuộc đời lên sân khấu là không thể. Nhưng rũ bỏ bản thân và đi tìm lại chính mình giữa sân-khấu-cuộc-đời này thì hình như lại là có thể, phải không?

Somewhere, maybe someday,
Maybe somewhere far away,
I’ll meet a second little person.
And we’ll go out and play.



 
3 Comments

Posted by on 20/05/2009 in On Screen

 

“Công chúa ngủ trong rừng” – những dấu hiệu tình dục và cuộc chiến giành dương vật

2959_184988910017_750865017_6503372_7763198_n

Tôi nói: câu chuyện “Công chúa ngủ trong rừng”, từng được Walt Disney làm thành phim hoạt hình, có nhiều dấu hiệu của tình dục. Mọi người bàng hoàng nhưng cũng cố gắng gượng hỏi, có lẽ vì tò mò: ‘Thế nói nghe thử xem nào?’

Nội dung chính câu chuyện thì hẳn ai cũng biết: một nàng công chúa bị mụ phù thủy nguyền rằng nếu cô ta chạm tay vào đầu nhọn của con thoi khung cửi thì kết quả sẽ là một giấc ngủ vĩnh cữu.

Trước hết, ta thấy mâu thuẫn chính là giữa hai người phụ nữ: một người trẻ đẹp, sở hữu vẻ hấp dẫn tự nhiên với người khác phái, đó là nàng công chúa Aurora, người còn lại, chật vật để tạo sự chú ý (cứ thử xem cách ăn mặc và cách trang điểm đậm đà của người này trên phim), đó là mụ phù thủy Maleficent. Nói một cách khác, cô công chúa có đủ điều kiện để quyến rũ và sở hữu một dương vật, còn mụ phù thủy thì không có điều kiện để quyến rũ nhưng ao ước sở hữu một dương vật.

Do đó, kẻ yếm thế, thiếu điều kiện nhưng thừa quyền năng dùng lợi thế (phép thuật) để khống chế người có ưu thế hơn: mụ phù thủy nguyền rằng nếu cô công chúa chạm vào đầu nhọn của con thoi khung cửi (mà kết quả trực tiếp là chảy máu) thì sẽ rơi vào giấc ngủ vĩnh viễn. Nói một cách khác, một hành động “đâm thủng” (penetrate) của vật có hình dạng giống dương vật (đầu nhọn con thoi) sẽ khiến cho cô công chúa mất khả năng sở hữu một dương vật.

Lúc này, cô công chúa sẽ trở thành kẻ yếm thế hơn. Hai bên đối nghịch sẽ ở thế ngược lại so với ban đầu: cô công chúa thì còn khả năng quyến rũ nhưng không còn khả năng sở hữu, bà phù thủy thì không có khả năng quyến rũ nhưng có cơ hội sở hữu dương vật mà đáng lẽ dành cho nàng công chúa.

Dấn thêm một bước nữa, cuộc chiến về giới tính ở đây thực chất là cuộc tranh giành dương vật giữa hai nhóm phụ nữ. Một bên là nàng công chúa được sự trợ giúp của 3 bà tiên, một bên là mụ phù thủy cùng đám lâu la. Hình ảnh 3 bà tiên, thực ra, là ánh xạ trực tiếp của mụ phù thủy qua hàm số giới tính: cùng ở độ tuổi mãn kinh (tức là điều kiện sinh lí như nhau), cùng có pháp thuật (tức là có quyền năng tương đương nhau) nhưng 3 bà tiên được thể hiện như là một vật thể phi giới tính (non-sexual object), không có những ham muốn tình dục, dù vẫn hiểu nó (rằng: một thiếu nữ như nàng công chúa kia cần sở hữu một dương vật, nên cần phải giúp cô ta).

Hoàng tử, biểu tượng là dương vật, khi ở gần lúc cao trào, thực ra đã nằm trong tay mụ phù thủy. Mụ ta tưởng rằng đã sở hữu được thứ mà bấy lâu nay mụ hằng mơ ước, rằng là: ‘Ta có thể ngủ ngon được rồi’ (trích lời mụ phù thủy trong phim), nhưng kết cục chắc chắn không phải là vậy. Tại sao thế?

Bởi vì một cái kết trọn vẹn là chỉ khi Hoàng tử (dương vật) có thể vừa “đâm thủng” (penetrate) cả mụ phù thủy lẫn nàng công chúa. Mà thật sự điều đó đã xảy ra: chàng hoàng tử “đâm thủng” mụ phù thủy bằng thanh kiếm và giấc ngủ tưởng như vĩnh hằng của nàng công chúa bằng đầu môi (thể hiện là một nụ hôn).

Nói đến đây, có người hỏi: “Thế phân tích xem trong ‘Bạch Tuyết và bảy chú lùn’ coi có dấu hiệu tình dục gì không?”. Tôi trả lời: “Ah, cái đó cũng thú vị lắm nhưng để hôm khác nhá!

 
9 Comments

Posted by on 20/05/2009 in Features

 

Tags: , , , , ,

My Dear Enemy (2008)

Tặng cô bạn M.B. của tôi

Tựa gốc tiếng Hàn: A Fine Day
Thể loại: Tâm lý / Hài hước
Đạo diễn: Lee Yoon-ki
Diễn viên chính: Jeon Do-yeon, Ha Jung-woo
Thời lượng: 123 phút

Sau khi được vinh danh tại Cannes 2007 qua vai diễn người mẹ trong bộ phim Secret Sunshine, nữ diễn viên Hàn Quốc Jeon Do-yeon đã gây bất ngờ cho người hâm mộ khi đồng ý tham gia một dự án phim có quy mô nhỏ của đạo diễn Lee Yoon-ki mang tên My Dear Enemy. Cùng tham gia với cô còn có Ha Jung-woo, vốn đang được tung hô vào thời điểm đó sau những vai diễn ấn tượng trong Never ForeverThe Chaser. Và một lần nữa, Jeon Do-yeon lại chứng tỏ cho người ta thấy, cô chưa bao giờ chọn nhầm vai cả. My Dear Enemy, bộ phim dài thứ 4 của đạo diễn Lee Yoon-ki và cũng là dự án cuối cùng trước khi Jeon Do-yeon tạm nghỉ ngơi để thực hiện thiên chức làm mẹ, là một trong những bộ phim xuất sắc nhất (nếu không muốn nói, là xuất sắc nhất) trong một năm 2008 đầy ảm đạm của điện ảnh Hàn Quốc.

My Dear Enemy

My Dear Enemy

Byung-woon. Ngoài 30 tuổi. Thất nghiệp. Hàng ngày loanh quanh tại trung tâm cá cược đua ngựa, ngồi tán gẫu với những người bạn và cho họ những lời khuyên xem nên đặt cược vào chú ngựa nào. Tới một ngày, Hee-soo, bạn gái cũ của Byung-woon tới tìm anh. Chẳng phải vì nhớ nhung gì mà chỉ bởi món nợ 3,500 won (khoảng 3,000 USD) Byung-woon vẫn còn nợ cô từ suốt một năm qua. Byung-woon nói anh không có tiền, Hee-soo bảo không chấp nhận chuyện đó. Nhưng với một người luôn nở nụ cười trên môi như Byung-woon thì đâu có vấn đề gì. Byung-woon hứa sẽ lấy lại đủ tiền cho Hee-soo trong luôn ngày hôm nay. Vốn là một người quan hệ tốt với phái nữ, Byung-woon quyết định tới tìm gặp từng người phụ nữ anh thân quen bấy lâu nay để vay tiền trả cho Hee-soo. Hee-soo không tin vào Byung-woon lắm và sợ rằng anh sẽ lại một lần nữa chạy trốn. Thế là một cuộc hành trình vòng quanh Seoul giữa Byung-woon và Hee-soo bắt đầu. Sẽ là một cuộc hành trình tìm kiếm 3,500 won cho Hee-soo, hay là kiếm tìm lại những kỷ niệm, hoài niệm đã mất giữa hai người?

Với My Dear Enemy, Lee Yoon-ki lại một lần nữa tạo ra một không gian cực kỳ thực tế xen lẫn vài nét bay bổng phác họa như các bộ phim trước của chính ông. Sự thực tế đến từ những nhân vật mà dường như ta đã gặp ở đâu đó (hay thậm chí, là ta có thể bắt gặp chính ta trong họ), những bối cảnh quay ngoài đường phố, quán xá, ít được trau chuốt, dàn dựng (chính xác, toàn bộ bộ phim được quay trong 40 ngày tại 58 địa điểm xung quanh thành phố Seoul). Hay sự thực tế có thể đơn giản đến từ những khoảng lặng trong phim giữa những con người xa lạ, mà hẳn ai cũng đã từng trải qua khi phải ngồi cùng bàn cà phê với một người mà ta chẳng hay biết. Nhìn bề ngoài, dường như chẳng có quá nhiều sự kiện hay cao trào xảy ra trong My Dear Enemy, nhưng trên thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Có rất nhiều chuyện xảy ra bên trong mỗi nhân vật mà khán giả chỉ có thể cảm, thay vì nhìn thấy bằng mắt. Cũng có thể xếp My Dear Enemy, thay vì là một rom-com thông thường, vào dòng road-movie, tức là những bộ phim mà các sự kiện trong đó xảy ra trong một chuyến hành trình, một chuyến đi nào đó. Có thể kể đến The Darjeeling Limited của Wes Anderson, hay Little Miss Sunshine của đôi vợ chồng Jonathan Dayton/Valarie Faris như những ví dụ tiêu biểu cho dòng phim này.

My Dear Enemy có một điểm giống với Ad Lib-Night (2006) – tác phẩm trước của Lee Yoon-ki – đó là dựa trên một truyện ngắn của nữ văn sỹ Nhật Bản Taira Azuko. Nhưng thực tế, có một điểm rất khác biệt giữa hai tác phẩm. Nếu như trong Ad-Lib Night, dấu ấn của Lee Yoon-ki là hết sức rõ ràng qua những pha long-take với camera trên tay thì trong My Dear Enemy, dấu ấn đó không còn rõ ràng nữa. Ngoại trừ cảnh long-take mở đầu phim bên ngoài trung tâm cá cược, Lee Yoon-ki dường như muốn đẩy toàn bộ sự chú ý vào hai nhân vật chính, mối quan hệ và những mẩu đối thoại ngắn nhưng đầy ý nghĩa giữa hai người. Thậm chí, ngay cả nhịp điệu của bộ phim được hỗ trợ bởi phần nhạc nền Jazz đầy ngẫu hứng của nghệ sỹ Kim Jung-bum cũng gần như không có sự thống nhất hay theo khuôn mẫu nào hết: lúc nhanh, lúc chậm, không quá căng thẳng, không hề có những cú twist chết người. Nhưng chính điều đó lại càng khiến cho một mối quan hệ có phần kỳ lạ trong một quãng thời gian ngắn ngủi của hai nhân vật chính thêm phần căng thẳng. Bởi ai chẳng có chút bồi hồi khi phải đối diện với người yêu cũ của mình!

Ắt hẳn, khán giả sẽ có một chút nghi ngại về mối quan hệ giữa Hee-soo và Byung-woon ở đầu phim. Bởi hai người quá khác biệt! Một Hee-soo dễ nóng nảy và luôn tỏ ra hờ hững, lạnh nhạt kèm theo gương mặt lạnh-như-tiền với mọi người xung quanh. Byung-woon thì ngược lại, nói nhiều, dẻo miệng, luôn biết cách nói những câu hay làm một điều gì đó hay ho để chiều lòng người khác. Mà hay nhất là anh cũng chẳng hề quan tâm gì tới chuyện người khác nói hay nghĩ gì về mình, dẫu là chê trách hay thậm chí là… sỉ nhục. Có thể trong quá khứ, điều mà bộ phim tiết lộ khá ít và chỉ ở mức độ vừa phải, hai người không như thế. Nhưng Jeon Do-yeon và Ha Jung-woo vẫn hết sức tài tình vào vai hai nhân vật quá khác nhau trong thời điểm hiện tại, nhưng lại có được sự cuốn hút lẫn nhau (mà dĩ nhiên là chỉ có khán giả mới cảm nhận được), và chiếm trọn cảm tình của người xem.

Nét mơ mộng phảng phất giữa một tác phẩm đậm chất hiện thực như My Dear Enemy phần nhiều tới từ những gì xung quanh nhân vật Byung-woo. Byung-woo luôn mơ rằng mình sẽ mở được một tiệm rượu tại Tây Ban Nha dẫu lúc này không có một xu dính túi. Những người phụ nữ xung quanh anh thì sẵn sàng cho anh vay tiền mà chẳng hề có chút than phiền gì. Lý do cũng chẳng phải vì Byung-woo quá đẹp trai, mà chỉ đơn giản bởi tính tình anh như một cậu trẻ con, thích giúp đỡ người khác mà không đòi hỏi gì trong quá khứ một năm vừa rồi. Chẳng hạn như sau khi vay tiền một người phụ nữ trung niên làm giám đốc, Hee-soo có hỏi Byung-woon rằng liệu bây giờ bà ta muốn ngủ với anh thì chắc anh cũng chấp nhận chứ gì. Byung-woon chỉ đơn giản trả lời rằng, “Nếu đúng vậy thì đó đâu phải là điều tồi tệ nhất? Còn phụ thuộc xem mình nhìn sự việc đó như thế nào chứ. Nếu em nghĩ rằng nó tốt, thì tức nó tốt. Nếu em nghĩ rằng nó xấu, thì hẳn là nó xấu.” Tuy nhiên, yếu tố mơ mộng này vẫn được Lee Yoon-ki kiểm soát khá tốt và không làm hỏng toàn bộ tông hiện thực của phim. Bởi lẽ, phần lớn các sự kiện trong phim, khán giả đều được thấy thông qua cái nhìn của Hee-soo, vốn là một người vô cùng thực tế và cầu toàn. Khán giả giống như những người đồng hành trong cuộc hành trình vòng quanh Seoul và được nhìn mọi chuyện qua con mắt của Hee-soo.

Nói tới Hee-soo, dĩ nhiên không thể không khen ngợi diễn xuất của Jeon Do-yeon. Nếu như trong Secret Sunshine đòi hỏi Jeon Do-yeon phải “diễn xuất nhiều hơn” (có khóc, có cười, có mất con, có tự tử, có sex…) thì trong vai diễn của cô trong My Dear Enemy lại đòi hỏi chất “lạnh.” Bởi Jeon Do-yeon không được phép nói nhiều, hay thậm chí là diễn quá nhiều trong My Dear Enemy nhưng khán giả vẫn phải hiểu được, có một điều gì đó không ổn bên trong nhân vật Hee-soo. Hee-soo có một màn mở đầu hết sức ấn tượng tại trung tâm cá cược, khi không hề chào hay hỏi thăm Byung-woon. Thay vào đó, cô gằn giọng luôn rằng “Em muốn anh trả lại tiền cho em!” Nhân vật Hee-soo trong suốt hơn 12 giờ đồng hồ sau đó (bộ phim mở đầu lúc khoảng 10 giờ sáng, và kết thúc vào đúng 12 giờ đêm) được Jeon Do-yeon truyền tải tới khán giả một cách hết sức tinh tế, có thể chỉ đơn giản là một ánh mắt liếc qua, ngoạm một miếng bánh hamburger, rửa mặt trong phòng vệ sinh, động tác cất bộ phận GPS trong xe ô tô hay một tiếng thở dài não nề. Tâm lý của Hee-soo cũng trở nên hết sức phức tạp qua cuộc hành trình với Byung-woon. Ban đầu, cô tìm tới người tình cũ chỉ với mục đích tài chính, nhưng càng về sau chính cô cũng không thể nói được liệu ngoài tài chính ra còn điều gì khác không, bởi những ký ức cũ giữa hai người cứ liên tục ập về và một tình cảm vô hình giữa hai người lại xuất hiện lúc nào chẳng hay. Cái tài của Jeon chính là ở chỗ cô đã/phải thể hiện toàn bộ những sự thay đổi trong tâm tư chỉ bằng gương mặt và ánh mắt của chính cô thay vì bất cứ cao trào hành động nào.

Kể từ lần đầu tiên ra mắt khán giả đại chúng hồi 2004, đạo diễn Lee Yoon-ki đã tạo nên hết bất ngờ này tới bất ngờ khác với những người yêu mến cả dòng phim độc lập nói riêng lẫn điện ảnh Hàn Quốc nói chung. Thế giới, cái nhìn, nội tâm của người phụ nữ liên tục được ông khai thác một cách thành công và sâu sắc. Sau Kim Ji-soo, Han Hyo-joo, Jeon Do-yeon, và sắp tới đây nữa, sẽ là Soo-ae, hẳn danh sách những nữ diễn viên muốn cộng tác với ông sẽ còn kéo dài. Khi viết về phim của Vương Gia Vệ, có một người từng nhận xét rằng “Kí ức nào cũng là những dòng lệ rơi.” Có thể, ký ức của hai nhân vật trong My Dear Enemy cũng chỉ là những giọt lệ, nhưng đó là những giọt lệ làm ấm lòng, để tới cuối một ngày dài, ta có thể nở một nụ cười nhẹ trên môi, khi nhớ về tấm tình xưa cũ.

Đánh giá của Hisashi: 5/5

 
6 Comments

Posted by on 19/05/2009 in Reviews

 

The luckiest man of the year

Hỏi: Ai là người đàn ông may mắn nhất năm 2009?

Trả lời: Daniel Day-Lewis.

Khi một người đàn ông có vợ là Marion Cotillard, tình nhân là Penelope Cruz, nàng thơ là Nicole Kidman, mẹ là Sophia Loren, khiêu vũ cùng Kate Hudson và nếm trái cấm lần đầu với Stacey Ferguson… thì còn gì để nói?

Nine

Daniel Day-Lewis (quay lưng) và dải ngân hà của Nine

Đây sẽ là vai diễn của Daniel Day-Lewis trong bộ phim ca nhạc Nine do Rob Marshall (đạo diễn của Chicago) dàn dựng, sẽ ra mắt vào 25/11/2009. Dựa trên vở nhạc kịch Broadway cùng tên ra đời năm 1982 và lấy cảm hứng từ bộ phim 8 ½ của Federico Fellini, Nine là câu chuyện về Guido Contini, một đạo diễn tài ba và một gã Casanova thực thụ. Khi chuẩn bị thực hiện kiệt tác của đời mình, Guido cùng lúc phải đối mặt với sự bế tắc khi tìm kiếm cảm hứng sáng tác và cơn khủng hoảng trong quan hệ với vô số phụ nữ vây quanh anh…

Penelope Cruz trong một cảnh phim

Penelope Cruz trong một cảnh phim

Nine tập hợp một dàn diễn viên “không thể khủng hơn”, với sáu người từng đoạt giải Oscar, một người được đề cử (Kate Hudson), và một ca sĩ giành giải Grammy (Stacey Ferguson):

  • Daniel Day-Lewis vai Guido Contini
  • Nicole Kidman vai Claudia Nardi
  • Marion Cotillard vau Luisa Contini
  • Penélope Cruz vai Carla Albanese
  • Sophia Loren vai Mamma
  • Judi Dench vai Liliane La Fleur
  • Kate Hudson vai Stephanie Necrophuros
  • Stacy Ferguson vai Saraghina
  • Martina Stella vai Donatella
     
    1 Comment

    Posted by on 18/05/2009 in Preview

     

    Công bố casting cho Norwegian Wood

    Sau quãng thời gian im lặng làm rộ lên không ít lời đồn thổi rằng dự án làm phim Norwegian wood đã bị hủy bỏ, cuối cùng nhà sản xuất và đạo diễn Trần Anh Hùng đã chính thức công bố những diễn viên chính cho bộ phim dựa trên tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Murakami Haruki.

    Cuốn sách Norwegian wood (Rừng Nauy) đã đứng giữ kỷ lúc bán chạy nhất trong suốt 20 năm tại Nhật cho tới khi Crying out love in center of the world của Kyouichi Katayama xuất hiện và chia sẻ vị trí số 1 này. Cuốn sách của Murakami tác động mạnh mẽ lên nhân sinh quan của nhiều người Nhật với câu chuyện về nỗi buồn và cảm giác lạc lối của thanh niên Nhật Bản trong thập kỷ 60 của thế kỷ trước và tất nhiên đã trở thành điểm ngắm của nhiều nhà làm phim. Nhưng, trước đây, nhà văn Murakami Haruki đã từ chối mọi lời đề nghị đưa tác phẩm lên màn ảnh. Bởi vậy, cuối năm 2008, thông tin Trần Anh Hùng được mời làm đạo diễn cho Norwegian wood khiến giới truyền thông Nhật nổ tung và tất cả đều nóng lòng muốn biết những diễn viên nào sẽ được chọn.

    Và bây giờ chúng ta đã có câu trả lời.

    Người được chọn đóng vai Toru Watanabe là Kenichi Matsuyama –  diễn viên đã trở thành một khuôn mặt quá phổ biến qua hình ảnh này thám tử L lập dị trong phim Death Note.

    Với khả năng biểu cảm thiên phú, Kenichi Matsuyama đã đảm nhận nhiều vai diễn đa dạng nhưng đại đa số là những nhân vật hướng nội và tính cách phức tạp. Trong bộ phim chuyển thể từ manga Nana – Matsuyama đóng vai Shin, chàng nghệ sỹ trẻ tuổi cô đơn có cuộc sống nội tâm đầy mất mát và đau khổ. Nhân vật này đã được nhiều người yêu thích tuy không phải là nhân vật chính. Gần đây nhất, trong bộ phim hài Detroit metal city, anh đã đảm nhận cùng lúc cả hai nhân vật chính và đều có cá tính lập dị. Bởi vậy, nhân vật lặng lẽ và đầy hoang mang như Toru Watanabe không phải là một bước ngoặt hay đột phá quá khó khăn với người diễn viên sinh năm 1985 này. Tuy nhiên, đây chắc chắn là một vai diễn khiến cho hàng nghìn thanh niên Nhật phải ghen tị.

    rinkoB

    Người con gái được Toru yêu tha thiết Naoko được giao cho Rinko Kikuchi – nữ diễn viên Nhật Bản duy nhất được đề cử cho giải Oscar trong vòng 50 năm trở lại đây với vai diễn cô gái mới lớn bị câm điếc trong Babel. Điều đáng ngạc nhiên là Rinko Kikuchi đã 28 tuổi, nhiều hơn 8 tuổi và cũng không phải là một mỹ nữ kiều diễm như nhân vật Naoko được miêu tả trong truyện. Tuy nhiên, đạo diễn Trần Anh Hùng cho biết ông đã biết Naoko là dành cho Rinko Kikuchi chỉ sau 3 giây thử vai. Với diễn xuất xuất sắc của Rinko Kikuchi trong Babel để thể hiện cho một cô gái đầy khao khát nhưng đau khổ và bất lực, người ta có thể tin rằng những lời phát biểu của Trần Anh Hùng là hoàn toàn chân thực.

    Nhân vật cô gái phóng khoáng và kỳ lạ Midori được gửi gắm cho Kiko Mizuhara. Trong giới điện ảnh Nhật, đây là một cái tên hoàn toàn mới. Cô gái trẻ này là người mẫu thời trang cho tạp chí Vivi Fashion dành cho tuổi mới lớn.  Vai diễn Midori có thể coi là một cơ hội lớn để bước vào thế giới điện ảnhchuyên nghiệp với cô gái vẫn còn thích viết blog để  khoe ảnh “tự sướng” này. Bởi lẽ, Midori là nhân vật nữ  sống động và được yêu thích nhất trong tất cả nhân vật nữ mà nhà văn Haruki Murakami sáng tạo ra.

    Ngoài ra, phim còn có sự tham gia của các diễn viên Kengo Kora, Tetsuji Tamayama, Reika Kirishima…

     
    14 Comments

    Posted by on 16/05/2009 in Preview

     

    Tags: , ,

    Departures (2008) – Những cuộc ra đi

    Tựa gốc tiếng Nhật: Okuribito
    Thể loại: Tâm lý
    Đạo diễn: Yôjirô Takita
    Diễn viên: Masahiro Motoki, Ryoko Hirosue, Tsutomu Yamazaki
    Thời lượng: 130 phút

    departures poster

    Khi tên của bộ phim nước ngoài đoạt giải Oscar năm 2008 được xướng lên, hẳn không ít người bất ngờ vì sự lựa chọn của Viện Hàn Lâm Điện Ảnh Hoa Kỳ. Bởi lẽ bộ phim đoạt giải, Departures (Những cuộc ra đi) là một tác phẩm vốn không được nhiều người biết đến, và Departures đã vượt qua hai ứng cử viên được coi là sáng giá nhất cho hạng mục phim nước ngoài là Waltz with Bashir (Điệu Valse cùng Bashir) và The Class (Lớp học). Một số nhà phê bình thậm chí đã bày tỏ sự không đồng tình trước việc bộ phim này đoạt giải. Mặc dù vậy, người hâm mộ điện ảnh khó có thể phủ nhận sự cuốn hút và tính nhân bản của Departures, những yếu tố dường như luôn luôn “ghi điểm” trước Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật và lý giải thành công của bộ phim.

    Departures kể về Daigo Kobayashi, một nhạc công viôlôngxen trẻ tuổi. Daigo có đam mê từ nhỏ là được chơi đàn viôlôngxen, nhưng trớ trêu cho anh, chẳng bao lâu sau khi anh gia nhập một dàn nhạc giao hưởng, nhà hát ngừng hoạt động và anh rơi vào cảnh thất nghiệp. Sau biến cố đó, Daigo trở nên hoàn toàn lạc lối trước cuộc đời. Anh quyết định cùng vợ về quê hương sống trong ngôi nhà của người mẹ đã khuất, nơi anh phải đối mặt với những kỷ niệm về người cha đã bỏ rơi anh từ thuở nhỏ. Một lần tình cờ đọc mẩu quảng cáo trên báo, Daigo tìm đến một cơ sở làm dịch vụ liệm xác người chết. Như một sự sắp dặt của số phận, Daigo dần dần bị cuốn hút vào công việc mà chính anh lúc đầu không mấy mặn mà và không được xã hội coi trọng. Tuy nhiên, khi Daigo bắt đầu gắn bó với công việc thì cũng là lúc mâu thuẫn trong gia đình nảy sinh vì người vợ phản đối công việc của anh.

    28007224_departures2

    Departures là một bộ phim giản dị và cảm động. Giản dị bởi bộ phim không có những tình tiết quá phức tạp, lắt léo, cũng không có cách thể hiện quá đặc biệt, khác thường. Cảm động vì bộ phim mô tả cái chết và cái nhìn của con người về cái chết một cách gần gũi và chân thực. Những cảnh tang lễ trong phim hẳn sẽ khiến nhiều người xem phải rơi nước mắt trước những xúc cảm phức tạp của những gia đình có người thân mới qua đời. Mỗi gia đình có những tình cảnh, những vấn đề khác nhau, nên những lễ tang diễn ra không giống nhau. Có những tang lễ ồn ào, đau đớn, bi thiết, nhưng cũng có những tang lễ lặng lẽ, trầm buồn. Có tang lễ nặng nề, u ám, nhưng cũng có tang lễ nhẹ nhàng như một buổi tiễn biệt dành cho người đã khuất. Nguyên nhân những cái chết cũng khác nhau: có người chết vì già yếu, không người thân thích hoặc bị con cháu bỏ rơi, có người chết vì tự tử, có người vì bệnh tật mà chết, lại có người do tai nạn mà qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại bao thương tiếc cho người thân. Những cái chết cũng như chính cuộc đời: đa dạng, phức tạp, đôi khi hoàn toàn bất ngờ và không thể dự đoán.

    departures2

    Những cảnh phim mô tả tỉ mỉ công việc của những người làm dịch vụ liệm xác hẳn cũng để lại nhiều ấn tượng trong lòng người xem. Đó là bởi Daigo và người đồng nghiệp già luôn làm việc hết sức tập trung bằng tất cả sự tận tâm, qua dó thể hiện thái độ trang nghiêm, đầy trách nhiệm của họ đối với công việc và niềm tôn kính dành cho những người đã khuất. Với những thước phim cảm động ấy, bộ phim không chỉ thể hiện cái nhìn đầy trân trọng đối với những người làm dịch vụ tang lễ mà còn thể hiện một quan niệm phuơng Đông phổ biến: “nghĩa tử là nghĩa tận” – nguời chết dù khi còn sống đã phạm lỗi lầm nào cũng xứng đáng được “đưa tiễn” một cách đàng hoàng, trang trọng.

    departures

    Dù khai thác chủ đề cái chết và nhiều vấn đề phức tạp của cuộc sống, Departures không bị bao trùm bởi không khí nặng nề, u ám thường thấy ở những bộ phim có đề tài tương tự. Trái lại, cuộc sống trong Departures được miêu tả sinh động, đẹp đẽ, êm đềm và dịu ngọt. Xen lẫn những cảnh đám tang đau buồn là hình ảnh cuộc sống thường nhật vui tươi, hạnh phúc của Daigo bên nguời vợ trẻ, là những khung cảnh đẹp đẽ, êm đềm của miền quê ngập trong tiếng dàn viôlôngxen dìu dặt, da diết. Cuộc sống của những người làm việc khâm liệm hẳn nhiên bị ảnh hưởng bởi tính chất công việc của họ, nhưng đó lại là những ảnh hưởng tích cực. Dường như chính việc gần gũi thường xuyên với cái chết đã giúp họ ý thức sâu sắc hơn sự bấp bênh, mong manh của cuộc sống, và từ đó khiến họ thêm trân quý cuộc sống của chính mình. Tuy vậy, Departures dường như không có ý mô tả cuộc sống như một sự tương phản gay gắt với cái chết, mà thực chất sự sống và cái chết được thể hiện trong mối tương quan mật thiết với nhau. Ấn tượng mà bộ phim mang lại gợi nhớ đến câu nói của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami trong tiểu thuyết Rừng Nauy: “sự chết tồn tại, không phải như một đối nghịch, mà là một phần của sự sống.”

    Dù không được biết đến rộng rãi trước lễ trao giải Oscar, Departures quy tụ một dàn diễn viên, nghệ sỹ khá tài năng, góp phần làm nên thành công của bộ phim (*). Ngoài những tên tuổi chỉ được biết đến ở Nhật Bản, phim có sự tham gia của Ryoko Hiroshue trong vai người vợ của nhân vật chính. Nữ diễn viên này từng được khán giả quốc tế biết đến qua bộ phim hành động Wasabi đóng cùng nam diễn viên người Pháp Jean Reno. Nhạc sỹ tài năng Joe Hisaishi, người có lẽ được biết đến nhiều nhất qua những bản nhạc của ông trong các phim hoạt hình của đạo diễn nổi tiếng Hayao Miyazaki, cũng tham gia soạn nhạc cho bộ phim này.

    Thành công của Departures, như đã nói, không phải là điều đáng ngạc nhiên. Với một bộ phim tương đối hay như Departures, điện ảnh Nhật Bản có thể tự hào. Đạo diễn Yôjirô Takita hoàn toàn có cơ sở khi ông phát biểu lúc lên nhận giải Oscar bằng thứ tiếng Anh không mấy trôi chảy: “we will be back” (chúng tôi sẽ trở lại). Tuy nhiên, nếu nhận xét công bằng, khó có thể không nhận thấy những nhược điểm rõ ràng của bộ phim: nội dung dài dòng, có phần hơi quá bi luỵ và tình tiết đôi khi bị trùng lặp. Với những nhược điểm đó, theo người viết, việc Departures đoạt giải Oscar cho phim nước ngoài xuất sắc nhất là không hoàn toàn hợp lý, nhất là khi phim cùng tham gia tranh giải với Waltz with Bashir, một tác phẩm có nội dung và cách thể hiện hoàn hảo, ấn tượng hơn nhiều nhưng không được ghi nhận tại Oscar.

    (*) Departures khá thành công về mặt doanh thu tại Nhật, đoạt hầu hết những giải thưởng quan trọng nhất của Viện Hàn Lâm Nhật Bản và đoạt giải Oscar dành cho phim nước ngoài xuất sắc nhất năm 2008.

    Đánh giá của Minh Thi: 4/5

     
    3 Comments

    Posted by on 16/05/2009 in Reviews

     

    Tags: , ,

    JJ Abrams tâm sự về Star Trek

    Đạo diễn JJ Abrams đã được tin tưởng giao trách nhiệm thổi làn gió mới vào loạt phim Star Trek vốn đã là một phần quan trọng trong lòng nhiều thế hệ khán giả. Trong cuộc phỏng vấn này, anh đã tiết lộ những bí quyết để gây ấn tượng với các ngôi sao của loạt phim cũ, cũng như những khán giả trung thành của Star Trek (Trekkie) trên toàn thế giới.


    Đó hoàn toàn không phải một công việc dễ dàng, nhưng nếu một ai đó có thể làm được, thì đối với quan chức của hãng phim Paramount, người đó chắc chắn phải là JJ Abrams.

    Nhiệm vụ của anh là tạo ra một sức sống mới cho loạt phim Star Trek vốn đã trở thành kinh điển trong dòng phim khoa học viễn tưởng, không những vậy, anh còn phải có trách nhiệm gieo trồng một thế hệ Trekkie hoàn toàn mới. Đối với một đạo diễn từng gặt hái thành công ngay từ bộ phim điện ảnh đầu tay, Mission Impossible III, đây không thể là một nhiệm vụ bất khả thi.

    Tôi đã muốn quay lại điểm xuất phát và có một sự bắt đầu hoàn toàn mới” Abrams cho biết trong buổi  lễ ra mắt tại Los Angeles, ngay sau khi những bài ca ngợi đầu tiên về bộ phim xuất hiện tại Mỹ. Với vai trò một nhà sản xuất và một đạo diễn, anh biết cần phải làm ra được một bộ phim vừa mới mẻ để phù hợp với thế hệ khán giả của thế kỷ 21, lại vừa có thể làm hài lòng những Trekkie bảo thủ, những người vốn lâu nay đã tôn sùng loạt phim Star Trek gốc như một biểu tượng của nền văn hóa đại chúng đương đại.

    Tôi muốn lĩnh hội được tinh thần đã xuất hiện từ 43 năm trước và sử dụng nó để làm tập phim này. Nhưng về cơ bản, chúng tôi muốn bộ phim phải là của chúng tôi và không muốn bị ràng buộc quá nhiều với những luật lệ có tuổi đời lên đến nửa thế kỷ. Tinh thần đó có thể là nhiên liệu cho bộ phim, nhưng những chi tiết cụ thể thì cần phải là của chúng tôi”.

    JJ Abrams đã tiếp tục hợp tác cùng đồng sản xuất loạt phim truyền hình Lost kiêm biên kịch Roberto Orci và Alex Kurtzman, những người đã viết kịch bản cho bộ phim Mission Impossible và loạt phim truyền hình Fringe cho anh. Abrams cho biết: “Tôi muốn họ viết ra một câu chuyện về nguồn gốc của James Kirk và Mr Spock, viết về những điều đã khiến họ mơ ước và hy vọng”.

    Và bộ đôi biên kịch này đã bắt đầu câu chuyện bằng cuộc gặp gỡ giữa chàng trai trẻ đầy nổi loạn Kirk, con trai của một thuyền trưởng đã hy sinh tính mạng để bảo vệ một con tàu vũ trụ, và Spock, một con lai nửa người trái đất nửa người Vulcan, tại học viện Starfleet. Hai người đã cùng nhau gia nhập tàu Enterprise và trở thành đồng chí trong cuộc chiến đấu chống lại tên Thuyền trưởng Nero tàn bạo (do nam diễn viên Eric Bana thủ vai), kẻ muốn tiêu diệt những hành tinh liên bang, đặc biệt là Trái đất và Vulcan.

    Để tạo mạch kết nối với loạt phim gốc, đạo diễn Abrams đã tiếp cận với 2 cựu chiến binh của Star Trek để tìm kiếm sự hợp tác, và nếu có thể, mời luôn họ góp mặt trong bộ phim của mình.

    William Shatner, nam diễn viên đóng Thuyền trưởng Kirk trong loạt phim truyền hình gốc và 7 tập phim điện ảnh chuyển thể, đã không tỏ ra hứng thú với việc chỉ góp mặt mà muốn có một vai diễn theo đúng nghĩa. Abrams cho biết: “Một trong những vấn đề mà chúng tôi gặp phải là Thuyền trưởng Kirk đã bị giết trong tập phim điện ảnh thứ 7 và chúng tôi không biết làm cách nào để đưa ông ấy quay lại bởi chúng tôi tôn trọng tinh thần của Star Trek”. Shatner cũng từ chối luôn mong muốn gặp mặt của hậu thế 28 tuổi, Chris Pine, người vào vai Thuyền trưởng Kirk thời trẻ. Tuy nhiên ông đã gửi cho anh một lá thư chúc thành công.

    Còn đối với Leonard Nimoy, 78 tuổi, người đã biến nhân vật Spock với khuôn mặt không biểu lộ cảm xúc thành một trong những rường cột của loạt phim gốc và 6 tập phim điện ảnh, Abrams ngỏ ý muốn mời ông tham gia một vai diễn nhỏ nhưng khá quan trọng trong tập phim này, đồng thời cho ông xem một đoạn phim ngắn của nam diễn viên Zachary Quinto, người vào vai Spock lúc trẻ.

    Nếu ông ấy cũng nói không, chúng tôi sẽ vô cùng thất vọng”, Abrams nói, “bởi vì cốt truyện xoay quanh Spock. Chúng tôi biết Leonard sẽ là một yếu tố chủ chốt cho câu chuyện này bởi khán giả hâm mộ thiết tha đến mức nếu chúng tôi không có được sự ban phúc nào từ những người tham gia loạt phim gốc, rất có thể họ sẽ quay lưng lại với tập phim của chúng tôi. Có vẻ như nhân vật Spock mới đã khiến ông ấn tượng, kiểu như thằng bé này trông cũng điên điên giống mình và chuẩn bị tham gia vào vai diễn mà mình đã đóng từ gần nửa thế kỷ trước”.

    Nimoy cho biết, sau khi đọc kịch bản và xem đoạn phim ngắn của Quinto, ông đã không hề có một phút ngập ngừng nào khi nói lời chấp nhận. “Tôi nghĩ anh ta thật hoàn hảo,” Nimoy nói. “Rõ ràng anh ta đủ giống tôi để có thể thể hiện vai diễn thành công, và quan trọng hơn, anh ta trông thông minh và nội tâm, tôi nghĩ những tính chất đó rất phù hợp với nhân vật”.

    JJ Abrams (chữ J đầu tiên là viết tắt của Jeffrey) hào hứng kể lại ngày đầu tiên của Nimoy trên trường quay: “Ông ấy bước ra với đôi tai nhọn, kiểu tóc đã được làm xong, phục trang cũng vậy, lúc đó tất cả chúng tôi đều quả quyết rằng Spock đang thực sự hiện hữu. Chúng tôi quay cảnh đầu tiên và ông bắt đầu đọc thoại, thế nhưng tôi thấy cần phải nói với ông vài điều. Tôi tiến lại gần ông, nhưng chợt sững lại: ‘Mình đang làm điều quái quỷ gì thế này, phải hướng dẫn cho Leonard Nimoy về cách thức của Spock sao?’ Thế là tôi nói: ‘Ông Nimoy, tôi có một vài ý tưởng này, nhưng tôi không biết phải nói với ông thế nào’. Thế là ông ấy túm lấy áo tôi và nói: ‘Nói đi, nói đi’. Ông ấy quả là một diễn viên vĩ đại và cũng là một người lịch thiệp, một cộng tác viên tuyệt vời”.

    Nimoy và Quinto đã trở thành đôi bạn khá thân thiết. Quinto mất bố khi mới 7 tuổi, chính vì thế anh đã coi người bạn diễn lớn tuổi như bố mình. Anh nói: “Ông ấy rất giàu trải nghiệm và ông ấy rất chịu khó giúp đỡ mọi người. Quả là một cơ hội lớn đối với tôi khi được biết ông, cũng như nhân vật này” .

    Giống như Nimoy, Quinto biết ăn nói, học rộng và có sẵn nền tảng sân khấu. Anh hiện đang tham gia một vai diễn chính trong loạt phim truyền hình ăn khách Heroes. Anh từng cho biết có thể cảm nhận được nhiều điểm tương đồng giữa Spock và tên giết người hàng loạt có hành tung bí ẩn Sylar trong Heroes. Anh nói: “Cả 2 nhân vật này đều phải nỗ lực để kiềm chế bản thân và cũng đều có sức mạnh bên trong nội tâm đầy cảm xúc”.

    Chris Pine, người có bố là diễn viên Robert Pine đã khá quen mặt trên truyền hình vào những năm 70, lại có một dáng vẻ ngạo nghễ tự nhiên rất hợp với cá tính của nhân vật James Kirk lúc trẻ. Trước Star Trek, vai diễn lớn nhất của anh là trong bộ phim The Princess Diaries 2. Vai James Kirk đến với Pine đúng vào lúc anh có cơ hội được diễn xuất bên cạnh nam diễn viên từng đoạt giải Oscar, George Clooney, trong một bộ phim gai góc về đề tài tội phạm.

    Tôi không biết phải chọn vai nào, tôi đã suy nghĩ rất lâu, rất nhiều,” Chris nhớ lại. “Nếu từ chối Star Strek, có thể trong 5 năm tới đây, tôi sẽ hối tiếc và ước giá như mình đã đồng ý. Điều tồi tệ đó có lẽ sẽ đeo đuổi mãi sự nghiệp của tôi – tôi sẽ luôn tự hỏi mình tại sao lại từ chối”.

    Giờ đây anh đã gần như chắc chắn rằng mình đã lựa chọn đúng, bởi mặc dù vẫn chưa ai chính thức nói về những tập tiếp theo, thế nhưng tất cả nhân vật chính đều đã đặt bút ký lên bản hợp đồng diễn xuất trong ít nhất 2 tập phim nữa. Và sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu con tàu vũ trụ Enterprise tiếp tục tiến lên dũng mãnh trong nhiều năm sắp tới.

    Theo Telegraph/TTVH

     
    Leave a comment

    Posted by on 15/05/2009 in Interviews

     

    Tags: , , ,

    Chờ đợi gì mùa phim hè 2009?

    Hai năm trước, cuộc đình công của các nhà biên kịch diễn ra khiến Hollywood phải lao đao. Mọi người dự đoán hậu quả của nó sẽ tới vào khoảng hai năm sau, tức là mùa hè 2009! Chẳng hề gì, mùa hè năm nay, Hollywood vẫn tràn ngập các phim bom tấn, mà không ít trong số đó là những dự án khởi động hoặc tái khởi động cho các loạt phim ăn khách trong quá khứ!

    BOM TẤN XẾP HÀNG

    Điệp khúc quen thuộc: hè đến, phim bom tấn xếp hàng ra rạp! Không chỉ vậy, hè còn là mùa của phim phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, đến cả phần 6; là mùa của phim làm lại, phim khởi động lại, phim dựa theo truyện tranh về các siêu anh hùng cứu thế giới.

    Năm nay cũng không ngoại lệ! Mở màn cho mùa phim hè 2009 là một phim tiêu biểu cho các thể loại kể trên: X-Men origins: Wolverine. Wolverine không hẳn là một sequel mà nói đúng hơn, là khởi động lại (reboot) cho loạt phim series X-Men vốn đã rất thành công. Hãng Fox đang khá hồi hộp với số phận của Wolverine bởi sự cố lộ bản phim chưa hoàn chỉnh trên Internet vào đúng ngày Cá tháng tư vừa qua. Bộ phim xoay quanh câu chuyện về thân thế của Logan – biệt danh Wolverine, dị nhân có móng tay sắt, được biết đến như một ‘vũ khí thí nghiệm’ của quân đội Mỹ. Bộ phim quy tụ Hugh Jackman, Ryan Reynolds Liev Schreiber và cả Daniel Henney sẽ chính thức mở màn cho loạt phim ăn theo series X-Men, mà trong đó tiểu sử của các nhân vật trong nhóm X-Men sẽ được khai thác kỹ lưỡng hơn.

    Terminator Salvation, ra mắt khán giả Việt Nam từ ngày 29/5

    Terminator Salvation, ra mắt khán giả Việt Nam từ ngày 29/5

    Sau Wolverine, mùa hè cũng sẽ tràn ngập các bộ phim siêu phẩm siêu anh hùng, phần kế tiếp, phim ăn theo, làm lại khác, hứa hẹn một mùa hè “cháy nổ” tại các rạp chiếu bóng. Có thể kể tới G.I. Joe: Rise of Cobra dựa theo bộ phim hoạt hình và loạt đồ chơi ăn khách G.I. Joe với hy vọng lặp lại thành công Transformers từng đạt được; Star Trek của J.J. Abrams, với màn khởi động lại bằng dàn diễn viên trẻ mới toanh vào vai thuyền trưởng Kirk, Mr. Spock, Chekov… của con tàu Enterprise thuở ban sơ. Mặc dù đối với riêng khán giả Mỹ, Star Trek hẳn sẽ gây được một cơn sốt bởi series đã có tuổi đời trên 40 năm, nhưng bộ phim nhiều khả năng lại thất bại tại thị trường quốc tế (và Việt Nam sẽ không là một ngoại lệ) bởi nó vẫn còn khá xa lạ trên bình diện quốc tế; Terminator Salvation, phần 4 của series Terminator, cũng là phần khởi động cho loạt ba phim mới lấy bối cảnh thế giới tương lai, khi cuộc chiến tranh robot đã diễn ra và John Connor (Christian Bale) phải lãnh đạo quân kháng chiến của con người chống lại Skynet.

    PHÙ THUỶ vs. NGƯỜI MÁY!

    Thế nhưng, hai siêu phẩm lớn nhất, được mong chờ sẽ làm nổ tung phòng vé với doanh thu ngất ngưởng trong mùa hè năm nay phải là phần 6 của loạt phim hốt bạc Harry Potter, Harry Potter and the Half-Blood Prince, và phần 2 của Transformers, Revenge of The Fallen, tới từ bộ đôi trùm ‘bom tấn’ Michael Bay/ Steven Spielberg.

    Lẽ ra The Half-Blood Prince phải được công chiếu từ cuối năm 2008, thế nhưng hãng Warner Bros. quyết định dời lịch chiếu vào phút chót từ mùa Giáng Sinh 2008 sang mùa hè 2009 – không phải bởi lý do phim chưa hoàn thành, mà vì hy vọng thu được nhiều tiền hơn, mặc cho các fan đợi chờ trong ngắc ngoải! Warner Bros. tin rằng mùa hè 2009 không có nhiều tác phẩm điện ảnh xuất sắc do bị ảnh hưởng bởi cuộc đình công của các nhà biên kịch hồi cuối năm 2007 đầu năm 2008. Trong khi đó, The Half-Blood Prince đã được hoàn chỉnh kịch bản và bước vào giai đoạn bấm máy từ trước khi cuộc đình công diễn ra. Tuy thế, điều này lại ít nhiều đem đến những bất lợi cho cậu bé phù thủy: sự mong chờ quá lâu làm giảm ‘nhiệt’ cũng như những lời rầm rì về chất lượng phim từ các buổi công chiếu bí mật. Harry Potter and the Half-Blood Prince xoay quanh cuộc chiến giữa Harry Potter và chúa tể bóng tối Voldemort nay đã lấy lại sức mạnh. Trong tập phim này, Harry Potter đọc được cuốn nhật ký của ‘Hoàng tử lai’ và nhờ đó biết được nhiều bí mật trong quá khứ. Thế nhưng, ngay cả biết được quá khứ cũng không thể giúp Harry ngăn chặn được một thảm kịch trong hiện tại xảy ra vào cuối tập phim. Sau thành công của Harry Potter and the Order of the Phoenix, đạo diễn David Yates tiếp tục được tin tưởng giao phó cho chiếc ghế đạo diễn trong tập tiếp theo này. Hẳn ai cũng còn nhớ Yates đã ‘gói ghém’ tập truyện dài nhất trong bộ Harry Potter (38 chương/ 870 trang) thành tập phim… ngắn nhất cho đến thời điểm đó (2 tiếng 18 phút) tài tình đến thế nào!

    Preview - Transformers 2 - Poster 2 2! Dep - Preview - He 2k9 - Harry Potter 6 (1)

    Ngược lại, Michael Bay lại muốn… phức tạp hoá nội dung của Transformers: Revenge of the Fallen với câu chuyện xoay quanh sự trở lại Trái Đất của phe Decepticons để báo thù, cùng với sự kiện Sam Witwicky (Shia LeBeouf) vô tình khám phá ra lịch sử nguyên thuỷ của người máy ngoài hành tinh. Cuộc đụng độ lần này hứa hẹn những pha hoành tráng hơn phần đầu tiên rất rất nhiều! Revenge of the Fallen có lẽ chính là một trong những “nạn nhân” tiêu biểu của cuộc đình công cách đây hai năm. Đoàn làm phim đã phải hoãn lịch quay trong thời gian cuộc đình công diễn ra, và ngay sau đó gấp rút đưa vào lịch sản xuất khi cuộc đình công kết thúc. Thế nhưng, với Transformers và phong cách phim của đạo diễn Michael Bay, kịch bản chưa bao giờ là “vấn nạn”, mà điều quan trọng chính ở chỗ công nghệ kỹ xảo đã đạt đến trình độ nào. Sau thành công rực rỡ của Transformers hồi mùa hè 2007, Michael Bay tin rằng khán giả không quan tâm đến nội dung phim mà chỉ trầm trồ trước các pha biến hình của người máy. Chính vì lẽ đó, Revenge of the Fallen tiếp tục phát huy thế mạnh này với một loạt người máy biến hình thuộc hàng ‘khủng’, với sự xuất hiện của những người máy Starscream (một chiếc phản lực biến hình), Ravage (người mình hình con báo), Devestator (người máy đại khổng lồ được lắp ráp từ một loạt những người máy biến hình từ xe tải xây dựng)… Không chỉ thế, để phát huy tối đa sự hoành tráng của các người máy trên màn ảnh, Michael Bay đã sử dụng máy quay IMAX chuyên dụng để quay các đại cảnh của phim giống như The Dark Knight.

    CƯỜI ĐỦ KIỂU

    Với sự thành công của khá nhiều phim hài trong vài năm gần đây, đặc biệt là các phim hài kinh phí thấp, mùa hè 2009 tiếp tục đón nhận một loạt phim hài bên cạnh các phim bom tấn. Đặc biệt, các phim hài mùa hè năm nay không chỉ có phim kinh phí thấp mà có cả phim kinh phí cao, không chỉ phim hài thô tục mà có cả những phim hài trí tuệ, không chỉ có phim hài tình cảm gái trai mà có cả phim tình cảm trai – trai (đừng vội nghĩ bậy, chỉ đơn giản là tình bằng hữu giữa các chàng trai thôi mà!)

    Trong vài năm gần đây, nhóm Frat Pack (gồm một loạt diễn viên hài thường xuyên làm việc cùng nhau như Ben Stiller, Jack Black, Will Ferrell, Ben Stiller, Vince Vaughn, anh em Owen Wilson và Luke Wilson) cũng như nhóm Frat Pack Junior Varsity (bao gồm các ngôi sao hài mới như đạo diễn Judd Apatow, các diễn viên Paul Rudd, David Koechner, Michael Cera, Seth Rogen…) liên tục thắng lớn tại phòng vé với các bộ phim hài từ kinh phí thấp đến kinh phí cao. Mùa hè năm nay, phim hài vẫn sẽ do hai nhóm này thống lĩnh. Đáng chú ý có Year One, với diễn xuất của Jack Black và Michael Cera lần đầu hợp tác dựa theo các điển tích trong kinh thánh nhưng đã được “nhảm hoá”; Land of the Lost, phim nhái của Will Ferrell lôi hết các phim phiêu lưu viễn tưởng về thời tiền sử, khủng long, lạc vào tâm Trái Đất ra để giễu cợt; Night at the Museum: Battle of the Smithsonian là phần 2 của Night at the Museum được phát hành vào Giáng sinh năm kia, nay Ben Stiller thừa thắng xông lên chen vào mùa hè; và Funny People với Adam Sandler cùng hội Judd Apatow, Seth Rogen, Jonah Hill, Leslie Mann, Eric Bana, xoay quanh câu chuyện một diễn viên tấu hài phát hiện ra mình bị bệnh nan y đã quyết định phải thay đổi lối sống cho đến khi anh biết rằng… thật ra mình sẽ không chết sớm như vậy!

    Nếu hội Frat Pack không phải hợp gu của bạn, thì vẫn còn một loạt các phim hài khác. Nếu như chưa chán Norbit, Meet Dave và các phim khác của Eddie Murphy, Imagine That là lựa chọn dành cho bạn. Bộ phim gần giống với kiểu Dr. Dolittle hơn, khi câu chuyện xoay quanh tình cảm cha con. Hài hước dí dỏm trí tuệ thì có Woody Allen qua phim tình cảm hài Whatever Works với Larry David và Evan Rachel Wood. Ngoài ra, các fan dòng rom-com có thể mong đợi vào The Ugly Truth của Katherine Heigl cùng Gerald Butler và Ghosts of Girlfriends Past của Matthew McConaughey cùng Jennifer Garner.

    Bruno - Trận cười đã nhất hè 2009?

    Bruno - Trận cười đã nhất hè 2009?

    Thế nhưng, bộ phim hài được đón chờ trong mùa hè năm nay có lẽ là bộ phim có cái tên dài đến nực cười: Bruno: Delicious Journeys Through America for the Purpose of Making Heterosexual Males Visibly Uncomfortable in the Presence of a Gay Foreigner in a Mesh T-Shirt (tạm dịch Bruno: hành trình khoái chí xuyên nước Mỹ vì mục đích khiến cho nam giới dị tính cảm thấy khó chịu ra mặt vì sự hiện diện của một người đồng tính nước ngoài trong chiếc áo lưới). Năm 2006, nam diễn viên Sacha Baron Cohen từng khuấy động nước Mỹ với bộ phim hài giả tài liệu Borat: Cultural Learnings of America for Make Benefit Glorious Nation of Kazakhstan. Lần này, Sacha trở lại với hình ảnh nhà thiết kế thời trang người Áo Bruno để giễu cợt nước Mỹ và sự kỳ thị người đồng tính của họ. Bộ phim chắc chắn sẽ gây ra rất nhiều tranh cãi kèm theo thắng lớn tại phòng bán vé hè 2009 này.

    DÒNG PHIM HÌNH SỰ HÀNH ĐỘNG TRỞ LẠI!

    Có lẽ thành công vang dội tới bất ngờ của Taken hồi đầu năm nay đã khiến các nhà làm phim Hollywood tự tin hơn với dòng phim hành động hình sự vốn bị lép vế trong vài năm gần đây so với các phim siêu anh hùng. Tác phẩm lớn đáng chú ý nhất trong hè năm nay là Angels & Demons, prequel của Da Vinci Code, với sự trở lại của Tom Hanks đáng kính qua vai giáo sư Robert Langdon trong cuộc chạy đua với một hội kín đang âm mưu làm nổ tung Vatican. Dù trong phim, Robert hết mình cố gắng cứu giúp Vatican, nhưng trên thực tế, giáo hội Vatican lại… cấm tiệt việc cho phép quay phim tại đây cũng như kêu gọi toàn thế giới tẩy chay bổ phim báng bổ thánh thần này!

    Johnny Depp trong Public Enemies

    Johnny Depp trong Public Enemies

    Cũng không thể không nhắc đến Public Enemies, bởi bộ phim được đạo diễn bởi bậc thầy của thể loại phim hành động hình sự Michael Mann, người từng đem đến những phút giây căng thẳng nghẹt thở chỉ cần bằng đối thoại của diễn viên trong Heat hay Collateral. Public Enemies dựa trên câu chuyện có thật về một băng cướp ngân hàng khét tiếng trong những năm 1930, khiến F.B.I. đau đầu. Johnny Depp vào vai trùm cướp nhà băng John Dillinger, Christian Bale trong vai nhân viên F.B.I. Melvin Purvis và nữ diễn đoạt Oscar Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất hai năm trước Marion Cotillard trong vai người tình của John.

    BAY LÊN, HOẠT HÌNH!

    Cuối cùng, chúng ta cũng không được phép quên dòng phim hoạt hình, đặc biệt là hoạt hình của Pixar khi hãng phim này mỗi năm vẫn đều đặn tung ra một phim chất lượng cao dành cho mọi lứa tuổi. Năm nay, Up của Pixar còn được vinh dự trở thành phim hoạt hình 3-D đầu tiên mở màn cho LHP Cannes danh giá. Bộ phim xoay quanh cuộc phiêu lưu kỳ lạ của một ông lão và một cậu nhóc hướng đạo sinh trên ngôi nhà bay lơ lửng nhờ… bong bóng!

    G-Force - Cứu cánh của Nicolas Cage?

    G-Force - Cứu cánh của Nicolas Cage?

    Trong khi đó, Fox tiếp tục tung ra phần 3 của loạt phim ăn khách Ice Age, lần này mang tựa đề Dawn of the Dinosaurs. Còn Disney tin rằng các chú hamster sẽ giúp họ hốt bạc với phim G-Force. G-Force là biệt đội các chú hamster được huấn luyện đặc biệt để giúp chính phủ Mỹ ngăn chặn một âm mưu bá quyền thế giới!!! Hy vọng, Nicolas Cage, sau một loạt phim chường bộ mặt sầu thảm của mình lên màn bạc và hứng chịu nhiều sự dè bỉu của cả giới phê bình lẫn công chúng, sẽ có một phim thành công hơn khi anh chịu… giấu mặt mình đi để lồng tiếng cho chú chuộc Speckles cùng những Penélope Cruz, Jon Favreau, Sam Rockwell.

    Bài viết đăng trên tạp chí 2! Đẹp, số 06/2009

     
    2 Comments

    Posted by on 14/05/2009 in Preview

     
     
    Follow

    Get every new post delivered to your Inbox.

    Join 42 other followers