RSS

Monthly Archives: June 2009

Shia LaBeouf và con đường cao tốc gập ghềnh dẫn đến thành công

Hiếm có trường hợp nào ở Hollywood mà thành công lại đến nhiều và dồn dập với một diễn viên mới 22 tuổi như Shia LaBeouf. Chỉ trong một thời gian ngắn, anh đã góp mặt trong một loạt những quả bom tấn như Transformers, phần 4 loạt phim Indiana Jones, Eagle Eye,… Từ một diễn viên tự phát cấp câu lạc bộ, anh đã nhanh chóng bước lên hàng ngũ những ngôi sao hạng A của Hollywood. Hiện anh đang được kỳ vọng sẽ thay thế nam diễn viên gạo cội Harrison Ford để trở thành một Indiana Jones mới.

Shia LaBeouf

Shia LaBeouf

Tuy nhiên với tuổi đời còn quá trẻ như vậy, con đường thành công không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Chính Shia LaBeouf đã thừa nhận anh đã phải trải qua một quãng thời gian vô cùng khó khăn. Anh bị cảnh sát bắt giữ không chỉ một, mà vài lần, nhưng đáng kể nhất là vụ tai nạn giao thông hồi tháng 7 năm ngoái, sự việc đã gây cho anh một tổn thương cơ thể nghiêm trọng, không những vậy nó còn đẩy sự nghiệp đang trên đà thăng hoa của anh vào vòng nguy hiểm khi khiến cả bộ máy làm phim đồ sộ của phần 2 bộ phim Transformers phải ngừng hoạt động trong một thời gian.

Ngay sau cuộc phẫu thuật kéo dài 4 tiếng đồng hồ, nam diễn viên này đã bị bắt giữ vì cáo buộc lái xe trong lúc sau rượu, may mắn là anh không bị khởi tố vì không đủ bằng chứng buộc tội. Tuy nhiên sự việc lại có vẻ trầm trọng hơn đối với đạo diễn Michael Bay vì LaBeouf không thể ngay lập tức quay lại làm việc tại trường quay của bộ phim có kinh phí thực hiện lên tới 200 triệu USD, Transformers: Revenge of the Fallen. Vị đạo diễn của những bộ phim bom tấn này đã buộc phải thay đổi lịch quay phim và viết lại kịch bản để nhân vật Sam Witwicky của LaBeouf cũng bị một chấn thương tay giống anh.

Một năm sau vụ tai nạn, LaBeouf vẫn phải gánh chịu hậu quả của nó. Trước mắt anh vẫn còn một cuộc phẫu thuật để đặt nẹp nắn thẳng lại ngón tay giữa. Anh cho biết: “Tôi hy vọng nó sẽ lại hoạt động bình thường vào tháng 8 tới, từ giờ đến lúc đó tôi vẫn phải chạy vật lý. Thời gian qua tôi chỉ ở nhà với gia đình và bạn bè để điều trị”. Shia nói vụ tai nạn đã ảnh hưởng đến anh “trong mọi mặt”, thế nhưng nó  cũng mang đến vài điều tốt đẹp. Anh cho biết: “Hoàn cảnh đó đã khiến người đàn ông nhận ra chính bản thân anh ta”. Rồi anh giải thích: “Mẹ tôi đã nói điều đó và nó đã khiến tôi đối diện dễ dàng hơn với những vấn đề vượt xa sự chuẩn bị của mình”.

Tôi cảm giác mình như đang trôi nổi trên một đám mây, và đó là lần đầu tiên tôi đối diện với cái chết, đó cũng là một vấn đề lớn trong đời mà một người đàn ông phải đối mặt. Cho đến nay tôi vẫn coi đó là một bài học cho mình”. Có lẽ bởi anh đã từng là một đứa trẻ ngỗ nghịch, lớn lên trên những con đường ở Echo Park, một mảnh đất của các băng nhóm Los Angeles. Cũng trên những con đường ấy, bố anh  là tội phạm bán ma túy, còn mẹ anh bán bánh mỳ, chính vì lẽ đó LaBeouf đã có được sự liều lĩnh và những nhận thức về bản thân mà hiếm đứa trẻ cùng trang lứa nào có được.

Shia LaBeouf bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình tại các câu lạc bộ để kiếm tiền giúp đỡ gia đình đang trong cảnh túng quẫn. Shia đã xác định chỉ có con đường này mới có thể giúp anh kiếm tiền một cách nhanh chóng, vì thế anh đã lục danh bạ điện thoại để tự tìm cho mình một người đại diện và đến năm 2003 anh đã có được một vai diễn nhỏ trong loạt phim truyền hình Even Stevens.

Sau khi tham gia bộ phim điện ảnh đầu tiên, Holes, của hãng Disney, anh đã năng động chạy sô tới các hãng phim lớn khác và được tham gia những bộ phim lớn như I, Robot hay Constantine và những phim nhỏ hơn như The Greatest Game Ever Played, Bobby and A Guide To Recognising Your Saints,… Dù chưa khẳng định được tên tuổi, thế nhưng những bộ phim này đã giúp một diễn viên trẻ không được đào tạo chính quy như Shia tự tin hơn với khả năng diễn xuất của mình.

Anh nhận vai diễn chính đầu tiên trong bộ phim kịch tính dành cho tuổi teen, Distrurbia, và từ đó thành công đến với anh như thác đổ. Anh xuất hiện trong 2 bộ phim do Steven Spielberg sản xuất, TransformersIndiana Jones and the Kingdom of the Crystal Skull. Với việc được góp mặt trong phần 4 của loạt phim Indiana Jones, Shia đã làm dấy lên dư luận sẽ thay thế Harrison Ford nếu có thêm bất cứ một cuộc phiêu lưu nào khác của nhân vật điện ảnh kinh điển này.

LaBeouf hiện đang chuẩn bị cho vai diễn sắp tới của anh trong bộ phim Money Never Sleeps của đạo diễn Oliver Stone, thế nhưng anh hiểu hơn bất cứ một diễn viên nào khác nhiệm vụ hàng đầu của anh lúc này là làm tất cả để quảng bá cho bộ phim Transformers: Revenge of the Fallen.

Anh nói thẳng: “Mục đích chủ yếu của những bài phỏng vấn là để mọi người đọc và sau đó khiến họ đến rạp xem phim. Không phải tôi làm phỏng vấn chỉ vì tôi thích nói năng. Tôi làm vậy nhằm mục đích bán phim”. Trong Transformers: Revenge of the Fallen, nhân vật Sam Witwicky của LaBeouf và cô bạn gái Mikaela (Megan Fox) một lần nữa tái ngộ những người bạn Autobot để chống lại đạo quân Deception, lần này được lãnh đạo bởi tên người máy Fallen, kẻ muốn trút giận lên đầu nhân loại để trả thù cho thất bại trước kia.

Tập phim gốc Transformers, sau khi ra mắt vào mùa hè năm 2007, đã thu về 320 triệu USD chỉ tính riêng tại thị trường phim Bắc Mỹ. Chính vì thế hãng phim Paramount đang rất hy vọng tập tiếp theo, với đầu tư lớn hơn, sẽ còn thành công hơn phần đầu.

Để giới thiệu về bộ phim, LaBeouf có vẻ như không hề muốn kìm hãm sự cường điệu của mình: “Không chỉ mình tôi nhận ra sự thật đây chính là một bộ phim lớn nhất từng được làm ra nếu xét trên khía cạnh quy mô, bối cảnh, và yếu tố hành động. Tập phim này không phải là phần tiếp theo của tập trước, nó có một kịch bản riêng”.

Shia LaBeouf đang sống khá giản dị trong một căn nhà 2 buồng ngủ tại ngoại ô Los Angeles, cách không xa nhà mẹ anh, người mà anh tiết lộ gần gũi với anh nhất. Bố mẹ anh ly dị nhau trước khi bố anh bị đưa vào trại cai nghiện ma túy, hiện ông đã ra trại và đang sống tại Montana. Anh nói đùa về việc chu cấp tài chính cho gia đình mình: “Tôi hỗ trợ cho cả bố lẫn mẹ tôi. Cứ như thể đang nuôi 2 đứa trẻ 50 tuổi vậy”.

Mẹ tôi là chiếc cột chống cho cuộc đời tôi, nếu không có người phụ nữ đó, tôi đã không có cuộc đời này. Bà ấy là một phụ nữ rất đời thường, xinh đẹp. Sau này tôi cũng muốn tìm cho mình một người phụ nữ biết chăm sóc tôi tốt như mẹ tôi”.

Bên trong Shia LaBeouf vẫn tồn tại tính ngỗ ngược bẩm sinh, nhưng anh cũng có thêm cả tính mẫm cảm và lòng chân thành, chính những tính cách đó sẽ giúp anh vượt qua bất cứ biến cố nào xảy ra trong tương lai.

Anh thẹn thùng nói: “Cuộc sống. Tôi không thể có tất cả câu trả lời. Bạn sẽ làm gì nào? Câu trả lời là hãy hất cằm và bước đi. Tôi tìm kiếm và thực hiện những gì mình yêu thích cùng một lúc. Rất khó lấy thăng bằng khi làm vậy. Tôi không ảo tưởng với Hollywood. Tôi nghĩ mình đang tiếp cận để hiểu nó hơn. Tương lai tươi sáng hay tối tăm vẫn chưa xảy ra với tôi”.

 
Leave a comment

Posted by on 24/06/2009 in Interviews

 

Tags: , ,

Làm phim với kinh phí cực thấp – câu chuyện hâm nóng tình yêu điện ảnh của bạn!

Rebel wihout a crew

Tìm đủ tiền để làm một phim truyện dài là một vấn đề lớn, ngay cả với những ông chủ hãng phim, chứ không nói chi đến những sinh viên điện ảnh mới tốt nghiệp.

Bạn học của tôi, trong năm thứ 3, đã bỏ ra 5000 đô la Mỹ để làm một phim ngắn, thời lượng 8 phút, quay bằng phim nhựa 16mm. Nếu muốn làm một phim truyện 80 phút, họ sẽ phải bỏ ra bao nhiêu? Ít nhất 50.000 đô la Mỹ – nhiều hơn tổng cộng số tiền họ đã phải trả để theo học trường điện ảnh.

Do đó, thật là thú vị khi biết rằng: bộ phim ‘El Mariachi’ của Robert Rodriguez, một phim truyện dài, thời lượng 80 phút, nhiều pha hành động ngoạn mục, chỉ được làm với 7000 đô la Mỹ. Bộ phim thắng vô số giải thưởng, trong đó có giải Independent Spirit và LHP Sundance.

Trong bài viết này, tôi muốn bàn luận về cách mà Robert Rodriguez, lúc đó mới 23 tuổi, đã xoay sở để hoàn thành ‘El Mariachi’ với kinh phí ít ỏi. Nói một cách khác, làm sao RR trở thành ‘tay chơi’ trong làng Hollywood chỉ với 7000 đô.

Trước hết, điều quan trọng hơn cả là RR chưa bao giờ chính thức là sinh viên điện ảnh. Anh ta đã không tìm cách nào để xin vào học tại khoa Điện Ảnh của trường ĐH Texas vì điểm trung bình GPA của anh quá thấp.

Tuy nhiên, anh đã tập làm phim từ khi còn nhỏ. RR sử dụng bất cứ thiết bị nào trong tầm tay, từ chiếc máy quay cũ kỹ đến những cây đèn rẻ mạt. Anh ‘chơi’ với hình thức điện ảnh. Anh ta cũng không cần phải lo lắng quá về mặt tuyển chọn diễn viên vì có đến 10 anh chị em trong gia đình – được xem như là nguồn cung cấp diễn viên dồi dào.

RR thú nhận: anh đã làm ra một đống tầm phào trước khi anh làm được thứ gì đó xem được. Điều này có nghĩa là anh ta không hề sợ việc ‘thử và sai’. Kỹ năng làm phim của RR được mài dũa mỗi lần anh ta làm được một bộ phim ngắn và nó chỉ tốn ít hơn 10 đô la Mỹ. Thêm nữa, anh ta đã tự học để có thể làm công việc của cả một đoàn làm phim: từ bố trí đèn, thao tác máy quay, chỉ đạo diễn xuất đến dựng phim.

Bedhead

Thành công đầu tiên của anh là một phim ngắn 8 phút, ‘Bedhead’. Phim được quay bằng một máy 16mm mượn của người khác, sau đó chuyển sang băng từ ¾” để dựng. Với cách này, anh ta đã tiết kiệm được rất nhiều tiền, vì trước hết, anh ta có thể dựng phim ngay tại một thư viện công cộng; tiếp theo, anh ta không phải trả tiền in tráng phim cho mỗi bản anh ta gửi đi dự LHP.

Vào thời đó, rõ ràng công nghệ kỹ thuật số, chẳng hạn quay rồi dựng trên máy tính là điều xa vời, nhưng cũng là một điểm cần nhấn mạnh vì tư duy của RR chọn băng từ là một cách tiếp cận điện ảnh như là cách những nhà làm phim độc lập hiện giờ chọn video kỹ thuật số để tiết kiệm chi phí.

Bây giờ, cứ cho là ‘El Mariachi’ đã được làm xong, RR phải nhắm trước có thể bán được bộ phim này ở đâu, và đó là thị trường video nói tiếng TBN ở Mỹ.

Có ba lí do dẫn đến quyết định này: thứ nhất, bối cảnh của phim là tại một thị trấn biên giới Mexico – Mỹ do đó ngôn ngữ chủ yếu là tiếng TBN; thứ hai, đồng sản xuất với anh, Carlos Gallardo có một vài mối quen biết ở thị trường này; và thứ ba thị trường phim video của Mỹ chỉ nhận băng từ 1” chứ không nhận băng từ ¾”.

RR sẽ thu được bao nhiêu? Khoảng 20.000 đô la Mỹ! Do đó, để có thể tiếp tục làm phim, bộ phim đầu tay này chỉ được phép ngốn ít hơn 10.000 đô la Mỹ. Nói một cách khác, từ trước khi bộ phim khởi động. RR phải tính được số tiền tối đa có thể bỏ ra để đảm bảo xoay vòng vốn.

Có người sẽ thắc mắc: làm sao anh ta có thể tự tin rằng mình có thể một phim truyện 80 phút với kinh phí chỉ 10.000 đô la Mỹ?

Trả lời: RR cho rằng: nếu chỉ cần bỏ ra 800 đô để làm Bedhead, một phim ngắn 8 phút, thì làm một phim 80 phút với 8000 đô là điều hoàn toàn trong tầm tay!.

Thế làm sao mà RR có được 800 đô trong tay để làm “Bedhead”? Anh đến một trung tâm thí nghiệm, nơi người ta thử các loại thuốc mới trên người, để làm chuột bạch. Sau một tuần khổ ải, nốc đủ các loại thuốc men, anh được trả 2000 đô. Đối với RR, đó là một kết thúc có hậu vì ít ra anh cũng có đủ tiền để làm “Bedhead”. Để có kinh phí cho “El Mariachi”, RR cũng đi theo con đường này.

RR không mượn tiền của ai cả bởi vì anh ta nghĩ: nếu dùng tiền của chính mình thì sẽ tiêu xài thận trọng hơn dùng tiền của người khác. Thêm nữa, phim ngắn “Bedhead” cũng mang về cho RR một mớ tiền thưởng từ các LHP (ngắn). Đây hẳn cũng là một chiến lược tốt, nhất là đối với các sinh viên điện ảnh. Chẳng phải Việt Nam ta có câu: “lấy (phim) ngắn nuôi (phim) dài” đó sao?

Dường như RR chưa bao giờ ngừng làm việc và tôi nghĩ đó là điều cần thiết, bởi làm phim như vẽ trên một tấm giấy khổ lớn: cần phải tỉ mỉ từng tí một, chỗ này chỗ kia, ngày này sang ngày khác. Suốt thời gian ở trong trung tâm thí nghiệm, người đồng sản xuất – Carlos, liên lục gửi cho RR hình chụp bối cảnh, để anh có thể mường tượng ra những góc máy mà không phải đi đâu cả.

Phần lớn bối cảnh mà Robert chọn chỉ nằm trong bán kính 2-3 khu nhà tính từ “trung tâm chỉ huy”, nhà của Carlos. Đây cũng là một yếu tố quan trọng bởi cả đoàn làm phim sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, năng lượng và tiền bạc cho việc di chuyển (với trang thiết bị). Thậm chí, RR còn tính đến chuyện quay thật nhanh, hoàn thành ngày làm việc trước bữa ăn chiều, để không phải tốn thêm tiền ăn uống.

RR bắt đầu viết kịch bản cho “El Mariachi” cũng vào thời điểm anh ở trong trung tâm thí nghiệm. RR thậm chí còn tuyển luôn anh bạn cùng phòng Peter Marquardt vào một trong những vai chính. RR viết: “Cậu ta đã diễn bao giờ chưa? Chưa! Nhưng thật ra đó lại là điều tốt. Bởi cậu ta sẽ giống như tất cả mọi người tham gia bộ phim này”. Rõ ràng, chi phí dành cho diễn viên nhờ đó sẽ thấp hơn nhiều.

el_mariachi_01

Tuy nhiên, Robert cũng đã tính đến chuyện đánh bóng bộ phim của mình để dễ bán hơn. Anh đã nghĩ đến một ngôi sao truyền hình Mexico. Anh cùng Carlos cố liên lạc với Lina Santos – một diễn viên có tiếng, chuyên đóng phim truyền hình nhiều tập của Mexico, nhưng rốt cuộc không thành công. Do đó, cách duy nhất để khiến cho bộ phim này có vẻ đáng tiền là có những góc máy thật ngầu. Nhưng vấn đề nảy sinh là anh chẳng có nhiều tiền để đốt phim (họ quay phim nhựa 16mm), thế cho nên RR quay chỉ đúng 1 take cho tất cả các cảnh. Điều này thật sự là một rủi ro lớn. Nhưng nhờ thế RR có sự chuẩn bị kỹ càng hơn. RR quyết định chỉ mua một vài cuộn phim một lần để nếu giả sử máy quay bị hỏng hay bất cứ lí do gì khiến bộ phim không thể quay, thì anh không phí một đống tiền. Một điểm đáng lưu ý là Kodak (Mỹ) có giá đặc biệt dành cho các nhà làm phim độc lập nhưng họ chẳng bao giờ quảng cáo điều này trên các phương tiện truyền thông.

“El Mariachi” được quay trong 3 tuần rưỡi, với trang thiết bị và diễn viên tối thiểu. RR vừa làm sản xuất/đạo diễn/quay phim/thu âm, Carlos thì làm sản xuất/trợ lí/diễn viên chính cùng những người khác như Peter Marquardt (nhân vật phản diện) và Consuelo Gómez (nữ diễn viên chính).

Quá trình hậu kì thật dài và vất vả đối với RR vì anh ta phải làm tất cả mọi thứ trong một thư viện địa phương, với các trang thiết bị lạc hậu. Tuy nhiên, sau khi cắt được vài đoạn trailer, và làm những người xem chúng kinh ngạc, đã khiến cho RR có thêm nghị lực để hoàn thành dựng bộ phim dài 80 phút này. Như vậy, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của một trailer tốt, đóng vai trò như một tiên phong đi đầu để lôi kéo khán giả và những tay mua bán phim.

Thật vậy, ngay sau khi xem trailer, Robert Newman, của International Creative Management, Inc đã rất phấn khích và hỏi RR đã chi bao nhiêu tiền. RR đoán rằng: ông ta có ý muốn hỏi giá để mua bộ phim này. RR trả lời: “30.000 đô la Mỹ!”. Ông trùm gật gù: “Ừ, bình thường tao dựng cái trailer kiểu này cũng mất 30.000 đô!”. RR ngã ngửa, hóa ra ông cá mập kia chỉ muốn hỏi RR dựng trailer hết bao nhiêu tiền. Thật sự, giá mà một công ty trả để làm một trailer 1 phút, đã gấp mấy lần số tiền RR bỏ ra để làm nguyên một bộ phim 80 phút.

Ông trùm Newman đã quyết định mua “El Mariachi” sau khi xem cả bộ phim. Ông ta còn gợi ý RR nên có một nhà đại diện, với ý là có một đại diện, những lợi ích của anh sẽ được đảm bảo, không có đại diện, anh sẽ như kẻ rày đây mai đó. RR thậm chí còn có cả luật sư riêng ngay khi cuộc chiến giành giật quyền phát hành “El Mariachi” nổ ra giữa các đại gia TriStar, Miramax, Disney, và Columbia.

Cuối cùng, Columbia là kẻ chiến thắng với bản hợp đồng trị giá 150.000 đô ứng trước và 25% lợi nhuận bán video.

“El Mariachi” được gửi đi nhiều LHP phim và mang về ‘Giải Khán Giả’ của LHP Deauville, ‘Giải Khán Giả’ của LHP Sundance, ‘Giải Phim Truyện Đầu Tay’ của Independent Spirit Award, ‘Giải Tác Phẩm Đầu Tay’ của Premios ACE.

Bộ phim chính thức ra rạp ngày 26 tháng 2 năm 1993 và thu được 2 triệu đô. Bộ phim còn thu thêm khoảng 4.5 triệu đô la Mỹ tiền bán băng video nữa.

Kết luận: với một kinh phí hạn hẹp, Robert Rodriguez đã chứng minh được việc sản xuất một phim truyện dài là điều có thể. Robert thật sự đã tạo cảm hứng cho nhiều tay làm phim độc lập khác. Giúp cho họ có nghị lực cầm máy để hoàn thành những tác phẩm của mình như ‘Clerks’ hay ‘Phù Thủy Rừng Blair’. Trong một bài phỏng vấn, RR được hỏi sẽ làm gì nếu người ta cho anh 50 triệu đô để làm một phim hành động. RR trả lời rằng: anh sẽ làm nó với 1 triệu đô mà nhà sản xuất cũng không thể biết được!

Tái bút:

Nếu bạn là một người đam mê điện ảnh và muốn cống hiến cho điện ảnh, sau đây là những việc bạn có thể làm:

1.Xem phim ‘Bedhead’ của RR (và một vài bonus đáng giá khác):
http://www.youtube.com/view_play_list?p=D3B41913D37258EB&search_query=bedhead+robert+rodriguez

2.Đọc cuốn ‘Rebel without a crew’ của RR
http://www.amazon.com/Rebel-without-Crew-23-Year-Old-Filmmaker/dp/0452271878

3.Xem phim ‘El Mariachi’
http://www.imdb.com/title/tt0104815/

4.Bắt tay vào làm bộ phim của mình!

 
8 Comments

Posted by on 23/06/2009 in Features

 

Tags: , , , , , ,

The Fountain – Original Soundtrack

Cách đây chưa lâu Filmcriticvn vừa có một bài về The Fountain, hôm nay lại thêm một bài nữa thì kể ra cũng có phần ưu ái nó. Thật ra cũng không có gì khó hiểu: trong vô số phim được nhập về Việt Nam mấy năm qua, chỉ có ba phim arthouse (phim nghệ thuật). The Fountain của Aronofsky. Đông Tà Tây Độc của Vương Gia Vệ. Thiết tam giác của bộ ba Từ Khắc, Đỗ Kỳ Phong, Lâm Lãnh Đông. Phim cuối cùng gồm ba phần (segment) do ba người đạo diễn, kể ra thì thiên về thể nghiệm (experimental) hơn là arthouse.

Điều đáng buồn là trừ Đông Tà Tây Độc gây được đôi chút tiếng vang (tuy chẳng tốt đẹp gì), hai bộ phim còn lại lặng lẽ đi vào quên lãng. The Fountain khi đó được quảng cáo là “cuộc tình xuyên 1500 năm,” với sự góp mặt của Hugh Jackman của X-Men và Rachei Weisz của The Mummy, được kỳ vọng là sẽ hút khách. Đáng tiếc là phần đông khán giả khi ra rạp đều cảm thấy mình bị lừa, và ở một thị trường mà tin truyền miệng đóng vai trò quan trọng thì không có gì khó hiểu khi The Fountain lại có số phận hẩm hiu đến thế.

Tôi có cái thú là vào IMDB đọc review của khán giả mỗi khi chán cái giọng điệu trịch thượng và thứ văn phong cầu kỳ của một số cây viết ở những báo và tạp chí lớn. Những bài viết kia, mặc dù đôi khi ngây thơ và cực đoan, nhưng luôn có một nét gì đó rất riêng, và thật dễ chịu khi tình cờ biết được một người không quen biết và ở rất xa lại đồng cảm với mình.

Hôm nay tôi đọc một bài về The Fountain. Người viết quả thật khá cực đoan khi cho rằng Darren Aronofsky là “the greatest filmmaker of our time”. Nhưng riêng câu này thì anh ta nói đúng (thứ lỗi vì không dịch): Clint Mansell teams up with The Kronos Quartet and the Scottish rock band Mogwai to bring us some of the most beautiful and epic music I have ever heard.

Từ lâu Clint Mansell đã nổi tiếng là một nhà soạn nhạc phim tài năng mà tên tuổi gắn liền với những phim thể nghiệm của Aronofsky như PiRequiem of a Dream. Nhạc của Clint, đặc biệt là soundtrack của Requiem, gây ấn tượng mãnh liệt đến nỗi ngay lập tức nó trở thành cult hit, và đạo diễn của Smokin’ Aces đã gần như phát điên khi hardcore fan của Mansell hàng đêm lái xe qua nhà mình và bật nhạc trong Requiem ầm ĩ chỉ vì đĩa soundtrack của Smokin’ Aces khi phát hành thiếu mất vài bài của anh.

Rất khó diễn tả cái hay trong nhạc của The Fountain. “Đẹp” và “sử thi” là hai chữ của khán giả nọ. Trong chừng mực nào đó thì Tomas-Tommy-Tom quả thực là một anh hùng, và The Fountain là bản trường ca về người anh hùng ấy. Nhưng nhạc của Clint, cũng như câu chuyện của Darren, không dừng ở đó. It’s about Life and Death. Về những khoảnh khắc trầm lắng và những giây phút thăng hoa của cuộc viễn du giữa hai bờ sinh tử. Tree of Life. Death is the Road to Awe. Và giữa dòng sông ấy là First Snow – một bông hoa tuyết đầu mùa.

Fountain

Tracklist:

  1. “The Last Man” – 6:09
  2. “Holy Dread!” – 3:51
  3. “Tree of Life” – 3:44
  4. “Stay with Me” – 3:36
  5. “Death Is a Disease” – 2:34
  6. “Xibalba” – 5:22
  7. “First Snow” – 3:08
  8. “Finish It” – 4:25
  9. “Death Is the Road to Awe” – 8:25
  10. “Together We Will Live Forever” – 5:01
 
3 Comments

Posted by on 21/06/2009 in Soundtrack

 

Tags: , ,

The Bank Job (2008)

Tên Việt:
Đạo diễn: Roger Donaldson
Diễn viên: Jason Statham, Saffrons Burrows
Thời lượng: 111 phút
Khởi chiếu: 19/6

Tháng Chín năm 1971, tại ngân hàng Lloyds trên phố Baker ở London xảy ra một vụ cướp khiến báo chí phát điên vì những tình tiết ly kỳ của nó. Vụ cướp được biết đến dưới cái tên “the walkie-talkie robbery,” do một người chơi radio nghiệp dư tình cờ nghe và ghi âm được tín hiệu bộ đàm của bọn cướp. Sau đó, chính phủ Anh yêu cầu báo chí ngừng đưa tin vì vụ việc liên quan đến bí mật quốc gia (?!)

The Bank Job của Roger Donaldson cho ta biết nội tình vụ án và sự thật ẩn đằng sau nó.

Terry và đồng đội

Terry và đồng đội

Terry (Jason Statham) đang gặp khó khăn thì người tình cũ Martine Love (Saffron Burrows) xuất hiện và rủ gã cướp một ngân hàng. Gã nhận lời, không hề biết Martine đang bị tình báo Anh lợi dụng để đánh cắp chiếc hộp bảo mật chứa những bức ảnh tai tiếng của một thành viên trong hoàng gia, bị Michael X (Peter de Jersey), một thủ lĩnh chính trị da đen, lợi dụng để uy hiếp chính phủ. Trớ trêu thay, trong số những thứ băng Terry cướp đi có cả những bức ảnh còn tai tiếng hơn nhiều của một số nhân vật tai to mặt lớn trong chính giới Anh và cuốn sổ ghi danh sách hối lộ cảnh sát của Lew Vogel (David Suchet), trùm phim khiêu dâm ở London. Bọn cướp, lúc này lại trở thành những kẻ trong sạch nhất trong số các đối tượng liên đới, bị mắc kẹt giữa các phe nhóm và buộc phải tìm cho mình một lối thoát…

The Bank Job có lẽ là phim được nhất của Donalson trong những năm gần đây, với một kịch bản khá chặt chẽ, khéo léo do Dick Clement và Ian La Frenais, tác giả của Across the Universe Flushed Away chấp bút, phát triển từ băng ghi âm cuộc đối thoại qua điện đàm của băng cướp năm 71, cùng với một “nguồn tin bí mật”. Kịch bản khá mạnh bạo khi ám chỉ rất rõ ràng danh tính của nhân vật trong hoàng gia có mặt trong những bức ảnh tai tiếng nọ.

Thật trùng hợp khi trong một tuần có đến hai phim con/heist ra mắt ở Việt Nam là Brothers BloomBank Job. Cái hài hước ở phim thứ nhất bay bổng bao nhiêu thì cái hài hước ở phim thứ hai tối bấy nhiêu. Bank Job, với thứ giọng Anh nặng trịch và câu chuyện về thế giới ngầm London những năm 70, gợi cho người ta nhớ đến Snatch của Guy Ritchie (cũng Jason Statham). Những twists and turns của phim dù chưa quái dị và bay được như Snatch, mức độ bạo lực cũng kém hơn, nhưng vẫn đủ làm khán giả thích thú và bị cuốn vào từ đầu chí cuối nhờ sự kết hợp khá khéo léo giữa thriller và dark comedy. Màu phim rất xưa và nhạc phim rất cũ cũng là một điều thú vị – khi đã quá quen thuộc với vô số phim con/heist trang bị tận răng bằng đủ thứ công nghệ hiện đại thì bộ phim này quả thực có chút gì đó hoài cổ rất dễ chịu.

Dark comedy là một yếu tố nổi bật của bộ phim

Dark comedy là một yếu tố nổi bật của bộ phim

Bank Job, tương tự như Ocean’s Eleven, là một phim có ensemble cast, nghĩa là quy tụ một dàn diễn viên đông đảo và đất diễn được chia tương đối đều giữa các vai. Thách thức đối với những phim kiểu này là kịch bản phải đủ mạnh để khắc họa được từng nhân vật, khi không một ai được ưu tiên độc diễn trên màn ảnh. Bank Job giải quyết vấn đề ấy rất thành công, đồng thời không sa đà vào khía cạnh “kỹ thuật” cầu kỳ rối rắm như không ít phim cướp nhà băng khác – xét cho cùng thì đây là năm 1971 và băng cướp của Terry cũng chỉ là những tên tội phạm nghiệp dư.

Dàn diễn viên của Bank Job có thể nói đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Jason Statham diễn rất đạt Terry Feather, vai “chính nhất” của phim, đảm nhiệm thành công việc kết nối các tuyến nhân vật, trong khi các đồng nghiệp của anh dù vào những vai phụ hơn nhưng cũng không hề chịu lép vế: Daniel Mays ngộ nghĩnh trong vai một cựu diễn viên phim porn đổi nghề đi cướp ngân hàng. Richarld Lintern diễn rất ra một nhân viên MI5 điển hình, lạnh lùng và toan tính; còn David Suchet nhập vai ông trùm phim khiêu dâm cũng ngọt không kém. Cuối cùng, không thể không nhắc đến nữ điệp viên Gale Benson, người chỉ xuất hiện trong vài cảnh và có số phận không lấy gì làm tốt đẹp nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu sắc về một vòng ba tuyệt vời (có lẽ sẽ bị cắt khi ra rạp ở Việt Nam). Nếu có điều gì đáng tiếc ở phim này thì đó là vai nữ chính Martine quá cao (so với Statham), cực gầy, rất già, và khá xấu.

Đánh giá của Nham Hoa: 3.5/5

 
14 Comments

Posted by on 19/06/2009 in On Screen

 

State of Play – Câu chuyện nghề báo

Tên Việt: Trò chơi quyền lực
Đạo diễn: Kevin Macdonald
Diễn viên: Russel Crowe, Ben Affleck, Rachel McAdams, Helen Mirren
Thời lượng: 127 phút
Ngày khởi chiếu: 19/6

Khi nền kinh tế ngày càng lao đao, khán giả càng mong muốn tìm kiếm những giây phút thư giãn dễ dãi ở rạp chiếu bóng, những phim sâu sắc đòi hỏi người xem ‘động não’ càng khó tìm đường đến với công chúng hơn. Quy tụ một dàn diễn viên hùng hậu nhưng chạm đến đề tài chính trị nhạy cảm, các nhà làm phim State of Play cũng mong muốn ‘xoay chuyển thế cờ’.

Đây không phải là lần đầu tiên Hollywood dùng báo chí để chạm đến những vấn đề hậu trường chính trị. All the President’s Men, The Killing FieldsThe Year of Living Dangerously từng chinh phục người xem trong nhiều năm trời. Lần này, Thế cờ xoay chuyển viết bởi bộ ba biên kịch đẳng cấp Tony Gilroy (tác giả của Michael Clayton), Matthew Michael Carnahan (tác giả của The Kingdom) và Billy Ray (tác giả của Shattered Glass) mỗi người có một thế mạnh về thể loại phim hình sự, phim đề tài chính trường và đề tài báo chí. Thế nhưng mặc dù State of Play (tạm dịch: Thế cờ xoay chuyển) mang đậm không khí hình sự, đào sâu vào những rối ren hậu trường chính trị của Mỹ, bộ phim có lẽ thật sự mô tả tình hình của nghề báo hiện đại hơn chuyện gian dối của chính trường Mỹ. Làm lại từ loạt phim truyền hình ngắn tập của Anh, bộ phim mô tả những khó khăn của ngành báo chí tại Mỹ khi những người làm báo chân chính đứng trước việc cân nhắc đưa tin nào lên trang bìa một cách sắc sảo. Không chỉ vậy, bộ phim mở ra cánh cửa để người xem nhìn rõ hơn mối quan hệ giữa báo in truyền thống và báo điện tử cùng ảnh hưởng của blog. Những ai yêu mến báo in có lẽ sẽ xúc động hơn cả khi xem cảnh cuối phim, khi hình ảnh dây chuyền sản xuất báo in hiện lên.

Helen Mirren, Rachel McAdams, và Russell Crowe trong một cảnh phim

Helen Mirren, Rachel McAdams, và Russell Crowe trong một cảnh phim

Đại diện cho hai thế hệ làm báo chính thống là Cal McCaffrey (Russell Crowe), một phóng viên điều tra rất truyền thống, rất danh tiếng ở toà soạn báo The Washington Globe nhưng đồng thời cũng bị xem là lạc hậu khi vẫn dựa vào ngòi bút (theo nghĩa đen) thay vì bàn phím để viết tin; và Della Frye (Rachel McAdams, Notebook), nữ phóng viên trẻ nhanh nhẹn đảm nhận việc viết blog cho tờ báo.

Cal khó tính, lì lợm, dày dạn, luôn biết cách moi tin sâu rộng. Della thì nhiệt huyết, chịu khó học hỏi, nhưng còn bỡ ngỡ. Khi cả hai cùng hợp tác, họ hiểu công việc của nhau hơn, tôn trọng cách làm việc của nhau hơn, mối quan hệ của họ gần như một ẩn dụ cho ‘cuộc hôn phối’ giữa báo chí điều tra truyền thống và phong cách đưa tin của truyền thông hiện đại. Tuy vậy, không có chuyện tình cảm dây dưa nào xảy ra giữa hai nhân vật theo kiểu môtip thường thấy trong các phim Hollywood.

Vụ việc cả hai đang theo dõi liên quan đến một chính khách đang lên, Nghị sĩ Stephen Collins (Ben Affleck), đồng thời là bạn học cũ của Cal. (Về mặt này, Ben Affleck không đủ sức thuyết phục người xem thấy anh là một chính khách triển vọng, và càng khó tin anh trong vai bạn học của Cal bởi sự cách biệt tuổi tác giữa Ben (36 tuổi) và Russell (45 tuổi) lẫn trình độ diễn xuất. Tuy nhiên, Ben Affleck biết cách dùng thế mạnh ngoại hình của mình để vào vai một người đàn ông bị giằng xé giữa tình cảm cá nhân và sự nghiệp). Sự nghiệp chính trị của Stephen đang bên bờ vực thẳm khi tin tức về vụ tự sát của nữ phụ tá của anh khiến Stephen không kiềm chế được cảm xúc của mình trong một cuộc họp báo và vỡ lỡ ra chuyện tình cảm riêng tư. Càng điều tra về sự kiện này, Cal và Della càng bóc dỡ nhiều lớp lang để đi sâu vào bản chất vụ việc. Đây không đơn thuần là một vụ tự sát, mà đằng sau nó là cả một âm mưu đáng sợ liên quan đến ngành công nghiệp vũ khí và mối quan hệ của nó với chính trường Mỹ.

Robin Wright Penn và Ben Affleck trong vai vợ chồng Nghị sĩ Collins

Robin Wright Penn và Ben Affleck trong vai vợ chồng Nghị sĩ Collins

Không chỉ là chuyện điều tra vụ án khô khốc, Thế cờ xoay chuyển còn khai thác sự phức tạp nội tâm của người làm báo khi sự việc liên quan đến vấn đề cá nhân. Cal không chỉ là bạn nối khố của Stephen. Anh từng yêu Anne (Robin Wright Penn), vợ của Stephen. Sự phức tạp của mối quan hệ này đem đến mâu thuẫn thú vị: một mặt, trong thế giới thật của báo chí, Cal có lẽ sẽ không bao giờ được theo vụ này vì mối quan hệ riêng tư của anh với nhân vật. Mặt khác, mối quan hệ giữa Cal và Stephen lại giúp anh có được quyền tiếp cận với nhân vật trong cuộc cạnh tranh chạy tin với các báo khác. Những tranh cãi của Cal và tổng biên tập Cameron Lynne (Helen Mirren) mang đến cho người xem cái nhìn sâu sắc hơn về khó khăn của người làm báo khi phải quyết định những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự sống còn của tờ báo, nhất là khi báo chí đứng giữa ngã ba đường: quyền lợi của xã hội, quyền lợi của chính quyền, và lợi ích kinh tế của bản thân tờ báo.

Chạm đến một đề tài nặng ký, Kevin Macdonald đã tận dụng sức mạnh của kịch bản lắt léo, bất ngờ nhưng vẫn thuyết phục và nội lực của dàn diễn viên để tạo nên một phim hình sự hấp dẫn lôi cuốn ngay từ phút đầu tiên. Russell Crowe, với diễn xuất chuyên nghiệp cùng cá tính ngang tàng, ương bướng của bản thân đã đem đến cho Cal một đời sống chân thật và sống động. Trong khi đó, Rachel McAdams với sự tinh tế, nhẹ nhàng cũng tạo được thế cân bằng với vẻ bụi đời của Russell. Dàn diễn viên phụ tạo nên bức tranh đời sống sinh động cho bộ phim: Helen Mirren trong vai nữ tổng biên tập mạnh mẽ và kiên quyết, Robin Wright Penn trong vai người phụ nữ tội nghiệp sống với một người không còn yêu mình và vẫn không nhận được lời tỏ tình từ người mình yêu dù vẫn rất yêu mình, và đặc biệt là Jason Bateman hoàn toàn ‘cướp đất diễn’ khi xuất hiện trong vai tay chuyên viên PR đồng bóng điệu đàng. Phần âm nhạc do Alex Heffes soạn khá ấn tượng, dù thoại khá nhiều nhưng Alex luôn biết cách ‘dìm nhạc’ để mở ra những khoảng lặng đắt giá cho bộ phim cũng như tạo nhịp điệu nhanh khẩn trương như chính tác phong báo chí của những phóng viên điều tra.

Thế nhưng, khi mùa hè ập đến, những phim siêu phẩm hành động viễn tưởng siêu anh hùng đổ xô ra rạp, Thế cờ xoay chuyển dường như bị lép vế. Bộ phim thu về tổng cộng hơn 40 triệu đôla trên toàn cầu trên tổng kinh phí 60 triệu đôla thực hiện, một thất bại đáng buồn về doanh thu nếu so với đẳng cấp thật sự của bộ phim.

Đánh giá của Phan Xi Nê: 4/5

 
1 Comment

Posted by on 18/06/2009 in On Screen

 

Brothers Bloom (2008)

Đạo diễn: Rian Johnson
Biên kịch: Rian Johnson
Sản xuất: Ram Bergman, James D. Stern
Diễn viên: Rachel Weisz (Penelope Stamp); Adrien Brody (Bloom); Mark Ruffalo (Stephen)
Thể loại: Heist/con/romance/adventure
Thời lượng: 113 phút

brothers-bloom-rs-poster

Anh em nhà Bloom là hai đứa trẻ mồ côi, bị đuổi từ cha mẹ nuôi này đến cha mẹ nuôi khác, từ trại trẻ này sang trại trẻ khác bởi chúng quá ranh ma, chuyên lừa đảo trẻ con hàng xóm kiếm tiền. Thằng anh, Stephen là thằng đầu trò, thông minh, lọc lõi, người viết kịch bản cho tất cả những phi vụ lừa đảo của hai anh em. Thằng em Bloom nhờ có khuôn mặt ngây thơ vô tội nên chuyên làm diễn viên chính, điểm yếu của nó là phụ nữ. Cứ như vậy, chúng lớn lên bằng nghề lừa đảo cho đến một hôm, Bloom chán ngấy những vở kịch của Stephen và quyết định bỏ nghề. Stephen để cho Bloom nghỉ ngơi một thời gian rồi lại thuyết phục cậu em tham gia vào một phi vụ cuối cùng, đào mỏ cô gái nhà giàu cô đơn và ngây thơ Penelope Stamp. Anh em nhà Bloom cùng với Bang Bang, bạn gái và tay chân đắc lực của Stephen đưa Penelope vào một cuộc phiêu lưu thật giả lẫn lộn, hấp dẫn mà nguy hiểm để rồi cùng nhau, họ nhận ra tình yêu, tình anh em quan trọng như thế nào trong cuộc sống. “Không có cuộc sống nào là không phải do con người viết ra, chỉ có cuộc sống được viết hay và viết dở mà thôi.”

Con/heist movie là một tiểu thể loại nằm trong thể loại hành động, câu chuyện trong phim thường xoay quanh những tay lừa đảo chuyên nghiệp hay những phi vụ đánh cắp các đồ vật quý trong bảo tàng, cướp nhà băng…Những phim heist/con nổi tiếng là: House of Games, The Hustler, The Spanish Prisoner.

RachelBrody

The Brothers Bloom thuộc thể loại con/heist movie kết hợp với lãng mạn, phiêu lưu. So với những phim heist/con nổi tiếng như House of Games thì sự lắt léo trong những phi vụ của anh em nhà Bloom không phải ở trình độ cao siêu, khiến khán giả hoàn toàn mất phương hướng, không biết đâu là giả, đâu là thật. Hơn nữa, sự tăng cấp giữa khác phi vụ không nhiều và những thủ thuật bị lặp lại khiến khán giả dần dần bắt đầu bán tín bán nghi. Tôi xem phim khá cảm tính nên dễ bị thu hút bởi chuyện tình cảm mà không mấy băn khoăn xem mình có đoán được những kế hoạch của Stephen hay không. Tuy nhiên, bù lại, The Brothers Bloom đã xây dựng được những nhân vật thú vị, dù kiểu phim với dạng nhân vật như thế này không phải là mới. Penelope là một cô gái nhà giàu, sống một mình, không bạn bè, không người thân, thừa tiền và thời gian, cô học tất cả những gì cô nhìn thấy người khác làm, từ đấu kiếm đến điêu khắc…và cả lừa đảo. Nếu bạn thích những nhân vật kì quoặc như Clementine trong Eternal Sunshine of the Spotless Mind, hay Amélie trong The Fabulous Destin of Amélie Poulain, chắc bạn sẽ thích Penelope do Rachel Weisz thủ vai trong The Brothers Bloom. Rachel xinh đẹp nhưng giản dị và trong sáng. Adrien Brody vẫn khá ổn trong kiểu đàn ông nhút nhát, sống nội tâm thành ra hay nghĩ quẩn. Cái mũi gồ ghề của anh hơi “xí” so với Rachel nhưng chuyện tình mà họ dựng nên có thể tin được và khiến khán giả mong muốn hai người hạnh phúc bên nhau. Mark Ruffalo đã xây dựng khá thành công một Stephen chuyên lừa đảo nhưng lại không có vẻ gì giả dối mà ngược lại trông anh lúc nào cũng thành thật và thẳng thắn. Bang Bang dù hiếm khi cất tiếng nói nhưng không hề bị gượng ép bởi sự linh động trong hành động và biểu hiện khuôn mặt của cô.

Bang

The Brothers Bloom rất phi hiện thực, từ câu chuyện đến thiết kế mỹ thuật, màu sắc, phục trang của các nhân vật. Anh em nhà Bloom từ bé đã mặc đồng phục quần tây áo vét như những nhà ảo thuật, Penelope có một chiếc xe màu vàng nổi bật, cô gái người Nhật thì ăn mặc siêu kì quái. Và chuyện phim xảy ra không biết ở thời điểm nào. Nói thật là tôi hơi ngạc nhiên khi thấy nhà mình lại nhập phim này về chiếu, có lẽ vì xét đến khía cạnh con/heist của phim, mà thực chất theo tôi lại không rõ bằng khía cạnh lãng mạn phiêu lưu. Nhưng nếu xét như một phim lãng mạn thì The Brothers Bloom lại chưa đủ hấp dẫn. Tôi không nghĩ phim này sẽ ăn khách ở Việt Nam.

Phim mở đầu khá ấn tượng với một phi vụ giả ma kiếm tiền từ bọn trẻ con trong khu phố của anh em nhà Bloom. Trường đoạn mở đầu này đã giới thiệu khá đầy đủ về tính cách và đặc điểm của hai nhân vật chính qua cách phục trang, cư xử của hai thằng bé. Đoạn phim khá hài hước, dí dỏm với thằng nhóc Stephen ranh mãnh, tí tuổi đầu mà tính toán đâu ra đấy, phương án A, B, C đủ cả để luôn đảm bảo thu được lợi nhuận. Những cảnh quay chậm để lộ tính e dè nhút nhát, không cương quyết của cậu em Bloom, nhất là khi đối diện với con gái và trong những giây phút lương tâm của cậu bé cắn rứt, khiến cậu suy nghĩ quẩn quanh.

The Brothers Bloom không xuất sắc, không khiến người ta phải suy nghĩ nhiều sau khi xem phim nhưng nếu ai muốn cho đầu óc mình bay bổng phiêu lưu một chút thì còn chờ gì nữa.

Đánh giá của Sundy: 3/5

 
1 Comment

Posted by on 17/06/2009 in On Screen

 

Let the right one in (2008)

Thể loại: Kinh dị, Tình cảm
Đạo diễn: Tomas Alfredson
Diễn viên chính: Lina Leandersson, Kare Hedebrant, Per Ragnar
Thời lượng: 115 phút.

Lấy bối cảnh năm 1982, ngoại ô Stockholm, Thụy Điển, bộ phim Let the right one in dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên xoay quanh cậu bé Oskar muời hai tuổi và tình bạn mang màu sắc lãng mạn giữa cậu và một ‘cô bé’ ma cà rồng.

Oskar là một thiếu niên cô độc. Bố mẹ cậu ly dị và dường như không mấy quan tâm đến cậu. Ở trường Oskar bị bắt nạt mà không nhận được giúp đỡ từ bất kỳ ai. Cậu chẳng có người bạn nào để trò chuyện. Một cách tự nhiên, Oskar kết bạn và trở nên thân thiết với Eli, cô bé hàng xóm mới chuyển đến, một người trạc tuổi cậu và dường như cũng rất cô đơn. Song Eli không phải một cô bé bình thường: cô luôn mặc quần áo phong phanh, đi chân đất trên tuyết mà không hề biết lạnh. Khi Eli chuyển đến khu nhà của Oskar cùng một người đàn ông trung niên mà cô gọi là cha, những vụ giết người không rõ nguyên nhân liên tiếp xảy ra. Kẻ sát nhân không ai khác chính là người đàn ông sống cùng Eli, và cách thức giết người của ông khá đặc biệt: treo ngược nạn nhân trên cành cây để cắt cổ lấy máu. Số máu này sẽ được mang về cho Eli, vì cô cần uống máu để tồn tại.

Phải, Eli là ma cà rồng, và là một ma cà rồng truyền thống theo đúng nghĩa. Cô sống nhờ uống máu người, có làn da trắng lạnh toát, chỉ lộ diện trong đêm tối, phải được mời mới có thể vào nhà người khác (tiêu đề bộ phim ám chỉ chi tiết này). Eli là một nhân vật phức tạp và thú vị: vừa đáng yêu, thậm chí đáng thương, vừa đáng sợ. Đôi lúc cô mang vẻ ngây thơ dịu dàng, với đôi mắt buồn như biết nói. Thế nhưng khi khát máu, Eli trở thành một sinh vật đầy bản năng, bất chấp tất cả, không chút khoan nhượng ra tay giết người để thỏa mãn cơn khát. Trớ trêu thay, chính Eli lại là người đem đến cho cậu bé Oskar hơi ấm tình người và sự che chở, dù cô là một ma cà rồng với giới tính và độ tuổi không xác định (Eli “khoảng” 12 tuổi, nhưng là “12 tuổi từ lâu lắm rồi”, theo lời cô nói).

Let the right one in có thể coi là một phim kinh dị với không khí huyền bí tràn ngập, những hình ảnh cắt cổ, hút máu, người bốc cháy,…Nhưng làm khán giả sợ hãi dường như không phải đích nhắm duy nhất của các nhà làm phim. Vượt ra khỏi giới hạn của những bộ phim “dọa người” đơn thuẩn, Let the right one in tập trung miêu tả nỗi cô đơn và bất lực của con người trong một thế giới đầy bất trắc. Trong thế giới ấy, những đứa trẻ tìm vui trong việc bắt nạt, hành hạ bạn bè, còn nạn nhân của sự bắt nạt phải nhẫn nhục chịu đựng, chỉ biết ngấm ngầm nung nấu ý định trả thù không bao giờ thành hiện thực. Cậu bé Oskar mới mười hai tuổi đã mang ám ảnh không lành mạnh về những vụ giết người. Trong khi đó, bố mẹ cậu không quan tâm đến con cái, hoặc giả họ quá bận bịu để quan tâm. Người duy nhất thực sự thông cảm và thấu hiểu Oskar không phải người mà là ma cà rồng. Thế nhưng khi Oskar và Eli trò chuyện cùng nhau, ta tưởng như không hề có khoảng cách giữa hai đứa trẻ khác biệt về giống loài và tuổi tác này. Trong khi đó, mối quan hệ giữa người với người lại được mô tả lạnh nhạt, đầy xa cách, thậm chí tàn nhẫn trong phim. Sự khác biệt đó gợi lên thật nhiều suy nghĩ, như tiêu đề đầy ẩn ý của bộ phim, “Mời đúng khách vào nhà” (tạm dịch). Làm sao ta biết ai là người ta nên mời vào cuộc sống của ta, ai là người ta nên tránh? Tựa phim nghe giống như một lời cảnh báo.

Thế giới trong phim có khác là bao so với thế giới ngoài đời, nơi những người thân thiết nhất nhiều khi không thể tìm thấy sự gắn kết, nơi những đứa trẻ đánh mất sự hồn nhiên ngay từ khi còn rất nhỏ, nơi không chỉ những bức tường mà cả ác tâm và sự lạnh lùng chia rẽ những con người đáng lẽ phải dịu dàng và thân thiện với nhau? Sự cô đơn tràn ngập trong bộ phim dường như gây ám ảnh hơn cả những hình ảnh người bị cắt cổ hay máu đổ trên tuyết trắng. Chính bởi vậy, tình cảm dịu dàng trong sáng giữa Oskar và Eli, hai tâm hồn cô độc, đem đến cho người xem cảm giác ấm áp. Hai đứa trẻ không chỉ tìm hiểu nhau mà còn học hỏi lẫn nhau. Oskar dạy Eli cách trò chuyện bằng ngôn ngữ Morse qua bức tường ngăn cách căn hộ của hai đứa. Eli khuyên Oskar vùng lên tự vệ trước những bạn học xấu bắt nạt cậu ở trường. Với Oskar, Eli vừa là bạn, vừa là “người yêu”, người chị, người vệ sỹ trung thành.

Một trong những điểm nhấn của Let the right one in là quay phim. Xem Let the right one in, khán giả được chiêu đãi những hình ảnh rất đẹp về một vùng ngoại ô Stockholm phủ đầy tuyết trắng. Kỹ thuật tương phản cũng được sử dụng rất điêu luyện: những cảnh máu đổ trên nền tuyết rất đẹp và ấn tượng. Gương mặt các nhân vật, đặc biệt là Eli, thường hiện lên dưới ánh tranh tối tranh sáng, nhờ đó các sắc thái biểu cảm trên khuôn mặt càng trở nên rõ nét, ấn tượng. Tuy thế, đôi lúc nhân vật Oskar cũng xuất hiện dưới ánh mặt trời, khi mái tóc vàng của cậu sáng lên rất đẹp, và môi cậu bừng nở một nụ cười hồn nhiên, nhắc ta nhớ rằng cậu vẫn chỉ còn là một đứa trẻ, mặc cho những gì khủng khiếp diễn ra quanh cậu. Cũng có khi nhạc phim nổi lên ngọt ngào dìu dặt, như cố ý ru người xem vào những miền xúc cảm êm đềm, để không lâu sau đó lại kéo họ trở về thực tại khắc nghiệt.

Let the right one in được xây dựng hết sức tài tình, với tiết tấu nhanh-chậm hài hòa, những khung cảnh thơ mộng xen lẫn những hình ảnh rùng rợn, bóng tối và ánh sáng hòa trộn. Bao trùm tất cả là một bầu không khí huyền bí đầy mê hoặc. Và điều tuyệt vời là bộ phim không hề sa vào những chi tiết ủy mị hay nước mắt. Thậm chí ngôn từ cũng được “tiết kiệm” tối đa. Những đoạn đối thoại giữa Oskar và Eli hết sức ngắn gọn, không chút cầu kỳ, nhưng ta luôn cảm thấy sự đồng điệu và tình cảm dịu dàng, gần gũi giữa hai đứa trẻ. Sự hòa hợp đó có được chính là nhờ tài năng của hai diễn viên chính Lina Leandersson (vai Eli) và Kare Hedebrant (Oskar). Hai diễn viên này đều còn rất trẻ (cùng sinh năm 1995), chưa tửng đóng phim trước đó nhưng đã kết hợp thành một bộ đôi ăn ý, góp phần không nhỏ làm nên thành công của bộ phim.

Ra mắt cùng năm với bộ phim cùng đề tài Twilight dành cho tuổi teen, Let the right one in khiến Twilight trở thành một thứ đồ chơi trẻ con không hơn không kém. Không đi sâu vào những chi tiết tình cảm sướt mướt hay khai thác kỹ xảo cầu kỳ vô cảm như Twilight nhưng Let the right one in vẫn thu được  thành công vang dội. Bộ phim thuyết phục đông đảo khán giả yêu điện ảnh và các nhà phê bình, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế có giá trị, trở thành một trong những  phim về ma cà rồng đáng xem nhất từ trước tới nay.

Let the right one in đã được Hollywood làm lại, song thất bại của bản làm lại là điều có thể tiên liệu trước, khi bộ phim Thụy Điển vốn đã là một tác phẩm quá thành công. Và với cách làm phim mang ý đồ câu khách triệt để của Hollywood (dẫn tới thất bại của hàng loạt phim kinh dị làm lại từ phim châu Á), có lẽ chúng ta không nên trông đợi nhiều vào một thành công thứ hai.

Đánh giá của Minh Thi: 4,5/5

Trailer:

 
1 Comment

Posted by on 16/06/2009 in Reviews

 

Tags:

Phỏng vấn Seth Rogen – diễn viên hài nổi nhất hiện nay

Seth Rogen

Seth Rogen

Sau thành công mang tính hiện tượng của bộ phim Knocked Up, nam diễn viên Seth Rogen bắt đầu được biết đến như một trong những ngôi sao sáng nhất hiện nay ở thể loại phim hài. Trong một cuộc phỏng vấn, Seth đã tiết lộ về sự thăng tiến nhanh chóng của anh trên phạm vi toàn cầu và cả chế độ giảm cân hà khắc mà anh phải thực hiện để phù hợp với vai diễn trong bộ phim mới.

Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Hollywood lại cho ra mắt những thế hệ diễn viên hài tiêu biểu. John Belushi, Dan Aykroyd, Steve Martin và Chevy Chase nổi danh vào những năm 80. Trong những năm 90, Adam Sandler, Ben Stiller, Owen Wilson và Will Ferrell thay thế các đàn anh để trở thành những nhân tố gây cười chủ yếu. Cho đến nay, đa số họ vẫn còn giữ được cái duyên hài hước của mình để mang lại tiếng cười cho khán giả. Tuy nhiên nối tiếp họ đã có một thế hệ tài năng mới được khai sinh, đó là Jason Segal, Martin Starr, Jonah Hill và không thể không nhắc đến con át chủ bài Seth Rogen.

Đa số các diễn viên hài thuộc thế hệ trước đều trưởng thành trên những sân khấu hài như National Lampoon hay Saturday Night Live, thế nhưng thế hệ của thập kỷ đầu tiên của thế kỷ mới lại được phát hiện, tập hợp và phát triển chỉ bởi tài năng của một người duy nhất, Judd Apatow, người đã đạo diễn 2 bộ phim hài từng khuynh đảo các phòng vé là The 40 Year Old Virgin Knocked Up.

Trong vai trò một nhà sản xuất, Apatow cũng nhúng tay vào những bộ phim thành công khác như Anchorman, Superbad, Walk Hard, Talladega Nights Forgetting Sarah Marshall. Với vốn phim dày như vậy, Apatow đã có đủ thời gian để định hình và xuất xưởng các ngôi sao của mình, mà nổi bật trong số này là Seth Rogen, một diễn viên 27 tuổi người Canada. Lần đầu tiên Apatow giao vai cho Rogen là trong loạt phim truyền hình Freaks and Geeks (1999-2000) sau đó là Undeclared (2001-2003) trước khi cho anh một vai phụ trong bộ phim truyện nhựa The 40 Year Old Virgin (2005) và đặt trọn niềm tin vào vai chính đầu tiên trong phim Knocked Up (2007).

Rogen cho biết: “Rõ ràng là không thể phủ nhận công lao của Judd đối với sự nghiệp của tôi. Anh ấy đã tuyển tôi vào bộ phim truyền hình của anh ấy và 2 phim điện ảnh đầu tiên mà anh ấy làm đạo diễn. Thực sự mà nói, khoa học viễn tưởng mới là thể loại phim tôi ưa thích – tôi là một fan cuồng của truyện tranh. Tôi nhớ có lần đã trình bày ý tưởng liên quan đến vấn đề này với Judd, nhưng anh ấy nói. ‘Cậu không cần những ý tưởng điên rồ vậy đâu – chúng ta có thể làm một bộ phim về việc cậu làm cho một cô nàng nào đó có thai. Như vậy sẽ hiệu quả hơn đấy’. Và chúng tôi đã nghĩ có lẽ thế lại hay”.

Dĩ nhiên đó chính là ý tưởng đã khiến Knocked Up thành công ngoài sức tưởng tượng, bộ phim đã đưa phong cách diễn xuất của Rogen đến với khán giả toàn cầu. Phim của Apatow có thể ví như một sản phẩm thủ công tinh xảo. Anh chọn diễn viên và đề tài để phục vụ lớp khán giả trẻ nhưng trộn thêm vào đó các tình huống và phong cách hài sâu sắc để khiến lớp khán giả lớn tuổi hơn cũng phải mủi lòng. Đó là lý do khiến bộ phim hài hiếm hoi được dán nhãn R (cấm trẻ em dưới 17 tuổi) thu được 200 triệu USD trên phạm vi toàn thế giới.

Rogen nói tiếp: “Tôi không có bí quyết gì cho thể loại hài cả. Nhưng có một điều mà Judd đã dạy tôi đó là bạn lúc nào cũng nên bắt đầu bằng một câu chuyện có cảm xúc mà không cần thiết phải hài hước, nhưng đó phải là câu chuyện có thể tin được, thú vị và dĩ nhiên bạn phải rất hứng thú với nó. Ví dụ như trường hợp của Knocked Up – đó không hẳn là một bộ phim hài; bên trong nó còn có một bộ phim khác nghiêm túc hơn nhiều, bộ phim đó rất xúc động và chẳng có gì đáng cười cả. Đó cũng là điểm khởi đầu của chúng tôi. Với cách đặt vấn đề đơn giản và cảm xúc như vậy, chúng tôi pha trò vào đó, chúng tôi nghĩ nếu có thể làm bản thân mình cười được, thì những người khác cũng sẽ cười theo”.

Ngay từ thuở nhỏ, Rogen đã có khả năng khiến người xung quanh phải phá lên cười. Anh được sinh ra và lớn lên ở Vancouver trong một gia đình mà anh mô tả gồm “những người Xã hội chủ nghĩa Do Thái cấp tiến”. Anh bắt đầu sự nghiệp hài hước bằng những tiết mục tại quán Bar, các bữa tiệc, hoặc câu lạc bộ. Anh từng giành giải nhất trong một cuộc thi năng khiếu hài tại Vancouver khi mới 16 tuổi. Sau đó anh đã quyết định nam tiến.

Seth kể lại: “Khi tôi còn biểu diễn tự phát, có một tay diễn viên hài đã nổi lên nhờ trò đi ăn cắp ý tưởng của người khác. Có một lần nhân viên của hắn đã “chôm” tiết mục của tôi. Và rồi tiết mục này đã được hắn biểu diễn lại trong show truyền hình của Letterman hay của Leno gì đó ngay ngày hôm sau. Đó thực sự chỉ là tiết mục châm chích ngu ngốc về quân đội Thụy Sỹ”.

Không chỉ nổi tiếng nhờ phong cách diễn xuất độc đáo, giọng nói với âm điệu không lẫn vào đâu được của Seth cũng đã trở thành một chất liệu lý tưởng cho thể loại hoạt hình, mới đây anh tham gia lồng tiếng cho bộ phim Monsters vs Aliens nhưng trước đó Seth cũng đã xuất hiện trong thành phần diễn viên lồng tiếng cho Shrek 3, The Spiderwick Chronicles, Horton Hears a Who!Kung Fu Panda.

Hiện tại anh đang thực hiện một dự án cá nhân với tham vọng xây dựng lại hình tượng người anh hùng hư cấu The Green Hornet. Tháng Tư vừa qua cũng đánh dấu lần đầu tiên tên của Seth Rogen xuất hiện trong phim của một hãng phim lớn khác với sự ra mắt của Observe and Report. Đây là lần đầu tiên Seth hợp tác cùng hãng phim Warner Brothers, tất cả những phim theo phong cách của Apatow trước đây, bao gồm cả Pineapple Express, đều được Sony hoặc Universal sản xuất.

Seth cho biết: “Thật kỳ lạ. Sự nghiệp của tôi phát triển với một tốc độ không tưởng nổi. Tôi hy vọng nó không xuống dốc với một tốc độ tương tự. Ngay lúc này, mọi thứ không thể tốt hơn được nữa”.

Rogen luôn được biết đến với thân hình to béo quen thuộc, tuy nhiên anh đang tham gia một chương trình giảm cân hết sức khắc nghiệt để phù hợp với vai diễn The Green Hornet sắp tới. Anh nói đùa: “Nếu có ai biết hãng phim đã trả bao nhiêu cho các huấn luyện viên hình thể, thì họ cũng sẽ phải trả cho tôi bấy nhiêu để có thể béo lại”. Hiện tại Seth đã có bạn gái, nhưng liệu thân hình gọn gàng hơn của anh có thu hút sự chú ý của những cô gái khác?

Anh cười: “Cũng không hẳn đâu. Và cũng không đúng nếu nói phụ nữ chỉ thích những người có khiếu hài hước. Ý của họ là họ muốn một gã có khiếu hài hước, đồng thời thực sự đẹp trai. Nếu một cô gái phải chọn giữa tôi và Brad Pitt, cô ấy chắc chắn sẽ chọn Brad Pitt, mặc dù tôi hài hước hơn anh ấy rất nhiều”.

Phải thừa nhận Seth Rogen đang là một hiện tượng trong thể loại phim hài. Lại một thập kỷ nữa sắp qua đi, Hollywood có thể lại sắp chứng kiến một thế hệ diễn viên mới, thế nhưng mọi thứ với anh mới chỉ như sự khởi đầu và anh sẽ vẫn là một gương mặt nổi trội nhất, ít nhất là trong tương lai gần.

Theo TTVH/Telegraph

 
6 Comments

Posted by on 15/06/2009 in Interviews

 

Tags: ,

Terminator: Salvation unaccomplished

Tựa Việt: Kẻ Huỷ Diệt 4 – khởi chiếu từ 12/6/2009
Thể loại: Khoa học viễn tưởng/ Hành động
Đạo diễn: McG
Diễn viên chính: Christian Bale, Sam Worthington, Anton Yelchin
Thời lượng: 115 phút

Trong số những bộ phim được chờ đợi nhất ở Việt Nam mùa hè 2009, hẳn không thể thiếu vắng Terminator: Salvation. Lý do thì nhiều. Nhưng có một lý do hết sức đặc biệt: với nhiều người, cái tên Terminator đã gắn liền với những hoài niệm của một thuở học trò dấm dúi thuê băng.

Vào cái thời mà phim hay thì ít, phim dở thì nhiều, phim hạng B lại càng nhiều vô kể ấy, Terminator 2 không chỉ là một bộ phim. Xét về kịch bản, T2 không xuất sắc, sáng tạo bằng T1, nhưng đối với rất nhiều cậu bé ngày đó, hơn tất cả những Van Damme, Lundgren, Rambo, Terminator đại diện cho action, cho Hollywood, cho những gì oách nhất, kỳ ảo nhất, hoang đường nhất điện ảnh có thể đem lại. Gần hai thập kỷ đã qua, kỹ xảo điện ảnh đã tiến những bước dài, song những gì bộ tứ ngày ấy, đặc biệt là T-800, khắc vào óc người xem thì có lẽ không bao giờ phai nhạt.

Sự chờ đợi ấy càng nhân lên gấp bội sau thất bại của phần 3, Rise (or Fall?) of the Machine và thành công của Dark Knight. Không ít người hy vọng Christian Bale sẽ khôi phục được cái huy hoàng một thuở của Terminator. Hơn nữa, T4 lại là câu chuyện về tương lai: cái tương lai đầy khiếp sợ mà chúng ta mới chỉ thấp thoáng thấy trong ba phần trước, nay đã thành hiện thực. Thế thì ai mà không háo hức…

Sarah, we really miss you

Sarah, we really miss you!

… để rồi thất vọng.

Công bằng mà nói, T4 không phải là quá tệ. Nếu là một phim hành động bom tấn thông thường thì nó rất ổn, hoành tráng máu lửa vào loại nhất mùa phim hè năm nay, có lẽ chỉ thua Transformer 2 mà thôi. Nhưng dưới cái bóng của T2 và kỳ vọng của khán giả thì nó quả là một nỗi thất vọng. Nói theo kiểu Tây là “It’s nowhere near T2.” Giây phút T4 tiến đến gần T2 nhất, nếu có, là khi John Connor ấn play và từ chiếc đài cũ vang lên giọng nói lạnh lùng mà kiên quyết của Sarah.

Có lẽ đó chính là điểm mà T4 thiếu – một cảm giác căng thẳng, sợ hãi, khủng bố đến nghẹt thở mà T2 từng đem lại, cái cảm giác nặng trĩu trước mối đe dọa ghê gớm không chỉ với tính mạng hai nhân vật chính, mà với vận mệnh cả nhân loại. Giọng nói của Sarah chứa đựng tất cả những điều đó.

Cái tương lai mà Sarah lo sợ đã thành hiện thực. Năm 2018, mười bốn năm sau ngày tận thế, Skynet tiếp tục nỗ lực tiêu diệt tàn dư của nhân loại. John Connor (Christian Bale) lúc này đã là một thành viên chủ chốt của phe Kháng chiến. Năm 2003, Marcus Wright (Sam Worthington) lĩnh án tử hình và đồng ý hiến xác cho một nghiên cứu của Cyberdynes do tiến sĩ Serena Kogan (Helena Bonham Carter) tiến hành. Mười lăm năm sau, tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, Marcus tình cờ gặp Blair Williams (Moon Bloodgood), một nữ phi công Kháng chiến và được cô đưa về căn cứ. Connor  khi đó đang quyết tâm cứu Kyle Reese (Anton Yelchin), người sẽ quay về quá khứ và trở thành cha anh, khỏi tay Skynet bằng mọi giá. Sự xuất hiện của Marcus là hy vọng duy nhất của anh.

Khi Marcus chui ra khỏi đống đổ nát của vụ nổ hạt nhân ở phòng thí nghiệm của Skynet và đi bộ đến Los Angeles, trước mắt anh là một thế giới hoang tàn và diệt vong. Nếu xét riêng phần dàn dựng bối cảnh và quay phim, McG đã khá thành công khi tạo nên một thế giới hậu tận thế chết chóc qua một lăng kính đầy u tối. Những trường đoạn hành động ở nửa đầu phim khá tốt, và McG đã có một cảnh quay đặc biệt xuất sắc với chiếc trực thăng của John Connor. Nhưng nỗ lực của vị đạo diễn Charlie’s Angels chỉ dừng ở đó. Kịch bản của T4 không những thiếu vắng sự sáng tạo tuyệt đối của T1, độ cool của T2, mà còn quá khiên cưỡng. Cốt truyện đơn giản, không thể hiện được sự khủng khiếp khi kẻ thù của nhân loại là những cỗ máy – điều Cameron làm được chỉ bằng vài hình ảnh ngắn ngủi về cuộc chiến tranh tương lai ở đầu T2. Nếu thay Skynet bằng một chế độ độc tài thì câu chuyện sẽ không khác bao nhiêu, và T4 sẽ trở thành một phiên bản kém hấp dẫn hơn của Equilibrium (cũng với Christian Bale thủ vai chính).

Có lẽ đòi đóng John Connor bằng được là sai lầm lớn nhất của Bale, còn nhượng bộ anh là sai lầm lớn nhất của McG. Kịch bản của phim, lẽ ra xoay quanh Marcus Wright, vai diễn McG nhắm cho Bale, vì vậy buộc phải viết lại để nâng vai trò của John Connor lên – so với Worthington, Bale mới là ngôi sao chính. Buộc phải theo cả hai tuyến nhân vật, câu chuyện vì thế mà lỏng ra và không đủ thời gian tích lũy kịch tính cần thiết, vốn là điểm rất mạnh của T2. Những sự lặp lại motif của T2 như đoạn Connor vs. T-800 hay cái kết càng khiến sự khác biệt ấy nổi bật hơn. Rải rác đâu đó là vài chi tiết độc đáo, nhưng chỉ thế thôi thì chưa đủ làm nên một sequel xứng đáng. Trong khi đó, John Connor hoàn toàn bị Marcus Wright lấn át – đây là lần thứ hai Bale bị lu mờ trước sự tỏa sáng của một người Úc – đầu tiên là Heath Ledger và giờ là Sam Worthington. Có lẽ mười bốn năm chiến đấu với những cỗ máy đã khiến John sắt lại, và xét về cảm xúc thì người máy hơn là John chứ không phải Marcus. Bryce Dallas Howard, người thay thế Clair Danes trong vai Kate Connor, không để lại nhiều ấn tượng.

Cuối cùng, có lẽ nên nói đôi chút về những robot concept trong T4. Cái đáng sợ của Terminator nằm trong sự kết hợp giữa sức mạnh máy móc với bề ngoài và trí thông minh của con người, trong những mô xương kim loại lòi ra dưới lớp da bị đạn bắn thủng lỗ chỗ, hay trong cảnh T-1000 một tay cầm điện thoại giả giọng bà mẹ nuôi dụ John về còn tay kia đâm suốt đầu ông bố. Robot của T4 tuy đa dạng về chủng loại nhưng không tạo được cảm giác ấy. Con hydrobot đầu tiên giống một con cá sắp bị làm thịt, khiến khán giả buồn cười hơn là sợ hãi. Mất đi cảm giác khủng bố ấy, Terminator không còn là Terminator nữa.

Đánh giá của Nham Hoa: 2.5/5

 
2 Comments

Posted by on 14/06/2009 in On Screen

 

Terminator: Salvation (2009) – The future is set!

terminator_salvation_poster

Tựa Việt: Kẻ Huỷ Diệt 4 – khởi chiếu từ 12/6/2009
Thể loại: Khoa học viễn tưởng/ Hành động
Đạo diễn: McG
Diễn viên chính: Christian Bale, Sam Worthington, Anton Yelchin
Thời lượng: 115 phút

Có đủ mọi yếu tố để trở thành một phim giải trí đúng chuẩn mùa hè: hành động, kỹ xảo hoành tráng với ngôi sao ‘hốt bạc’ Christian Bale, điều mà Terminator Salvation còn thiếu chính là phong cách mang dấu ấn của đạo diễn. Một điều nhiều người có lẽ quên mất, chính là Terminator khi mới ra đời bản chất là một phim B – tức một phim mì ăn liền chính hiệu Hollywood, một dòng phim thương mại làm với kinh phí thấp nhắm vào các thể loại dễ ăn khách như phim viễn tây, phim viễn tưởng, phim kinh dị. Tập Terminator đầu tiên đơn thuần là một phim kinh dị viễn tưởng xoay quanh một tên người máy trong tương lai được gửi về hiện đại để truy sát một phụ nữ mang tên Sarah Connor, người sẽ sinh ra John Connor – trong tương lai sẽ trở thành người lãnh đạo loài người chống lại đạo quân người máy của Skynet. James Cameron, đạo diễn kiêm tác giả của Terminator đã phá vỡ nguyên tắc thường có trong các phim về du hành thời gian: một vòng tròn luẩn quẩn đã được tạo nên. Nếu Skynet không tạo ra máy du hành thời gian, gửi người về quá khứ giết Sarah Connor dẫn đến John Connor cũng sẽ không gửi Kyle Reese về để bảo vệ mẹ của mình thì John Connor sẽ không bao giờ được sinh ra đời vì Kyle Reese chính là cha của đứa trẻ. Thế nhưng, nếu như Sarah Connor tìm cách ngăn vụ nổ của ngày phán xét, thì cuộc chiến giữa loài người và Skynet không diễn ra, thì cỗ máy thời gian không bao giờ ra đời, và John Connor sẽ không phải gửi Kyle Reese về quá khứ, vậy ai sẽ là cha của đứa trẻ ấy? Và vì thế, nếu xem Terminator, đừng đặt những câu hỏi logic về cỗ máy thời gian. Mọi thứ chỉ là một đống hổ lốn phi lý.

Điều duy nhất mà James Cameron và những đạo diễn sau này của loạt phim này vẫn còn bám vào để thuyết phục người xem chính là cho dù quá khứ có thay đổi thế nào, tương lai, hay nói cách khác, định mệnh cũng không bao giờ thay đổi – ngay cả khi trong phim, John Connor đã nói “…The future is not set. There is no fate but what we make for ourselves…” (Tương lai chưa được định đọat. Không có định mệnh mà chỉ có những gì chúng ta làm ra). Sự thật? Cho dù Sarah Connor có huỷ đi con chip để tạo ra Skynet thì Skynet vẫn ra đời, ngày phán xét vẫn xảy ra, và cuộc chiến tranh giữa loài người và robot vẫn bùng nổ.

Đó cũng là bối cảnh của Terminator Salvation: thế giới thời hậu tận thế. Đó là năm 2018, ngày phán xét đã diễn ra dẫu cho Sarah Connor đã bằng mọi giá ngăn nó xảy ra. Skynet thống trị thế giới, gửi những đạo quân người máy đi săn tìm con người, bắt họ về để nghiên cứu.

03_thefutureworld_02

Terminator Salvation mở màn với phần giới thiệu về Marcus Wright, một tội phạm bị kết án tử hình, không mong đợi một sự ân xá. Dù không tin mình còn có thể có cơ hội thứ hai để làm lại cuộc đời, Marcus cuối cùng cũng chấp nhận lời đề nghị của một nữ bác sĩ hỏi xin anh hiến xác cho khoa học. 15 năm sau, Marcus bỗng xuất hiện ở Los Angeles đã tan hoang sau Ngày phán xét, không nhớ rõ chuyện gì đã xảy ra với mình, không hiểu rõ vì sao thế giới đã đổi thay.

John Connor lúc này chưa trở thành thủ lĩnh của quân lãnh đạo, chỉ mới dừng ở mức chỉ huy một nhóm nhỏ, đang nghiên cứu một tần sóng có thể làm tê liệt được hoạt động của người máy. Vợ anh đang mang bầu. Anh đang kêu gọi những ai sống sót hãy cùng hợp sức để chiến đấu chống lại bọn người máy. Anh phải tìm kiếm cha anh Kyle Reese, lúc này vẫn còn là một cậu thiếu niên, trước khi Skynet tìm thấy.

Cũng như các phim Terminator khác, John Connor không phải là tuyến nhân vật chính – bộ phim mang tên Terminator chứ không phải John Connor – Terminator Salvation xoay quanh câu chuyện của Marcus Wright đối đầu với John Connor, mà trong một chừng mực nào đó, vợ chồng John Connor bỗng trở thành đôi ác phu ác phụ. Nghi ngờ tông tích của Marcus, cặp ác phu ác phụ này đã ra tay hành hạ chàng trai vô tội, ngăn cản tình yêu của cấp dưới của mình, truy sát đôi uyên ương này cho tới cùng. Nếu như Terminator 2: Judgment day là câu chuyện về một người máy học và hiểu được cảm xúc của con người nhờ vào sự dạy bảo của John Connor thì Terminator Salvation là câu chuyện của John Connor học và hiểu được rằng người máy cũng có cảm xúc, nếu như người máy ấy cũng có trái tim con người.

01_mototerminator_02

Có lẽ sẽ rất khó tính nếu đòi hỏi ở một bộ phim hè như Terminator Salvation những triết lý, những giá trị nghệ thuật cao xa. Terminator Salvation có đầy đủ hết mọi yếu tố của một phim giải trí hè: những pha kỹ xảo hoành tráng với bối cảnh thế giới tương lai được thiết kế ấn tượng và độc đáo – những toà nhà hoang tàn, cát bụi phủ đầy trên những con đường xa lộ đã lâu không có qua lại, và những ai từng sống ở Los Angeles có thể nhận ra khu downtown với những cao ốc quen thuộc nay đã bị đổ nát; những con người máy khổng lồ được thiết kế tỉ mỉ đến từng chi tiết, vẫn do hội làm kỹ xảo Stan Winston thực hiện; những màn hành động nghẹt thở, như màn bọn Motorterminators truy sát Marcus và Kyle; hay sự xuất hiện của T-800 với cơ thể săn chắc của nam diễn viên kiêm lực sĩ Roland Kickinger được gắn mặt CGI của Arnie; những cú máy độc đáo mà tiêu biểu là long-take khi John Connor bước lên mặt đất, trèo lên trực thăng, bị bắn rơi xuống đất chỉ trong một cú máy duy nhất ở phần mở đầu phim. Terminator Salvation hẳn sẽ thoả mãn nhiều fan của loạt phim này khi trong phim xuất hiện hai câu thoại kinh điển: John Connor nói “I’ll be back” vốn dĩ là lời của T-800, và Come with me if you want to live của Kyle Reese mà sau này khi quay về quá khứ gặp Sarah, Kyle cũng nói lại câu thoại này.
Dù kịch bản của Terminator Salvation cũng có nhiều yếu tố thú vị và bất ngờ vào phút chót, nhưng các tuyến nhân vật chồng chéo bởi tác giả của bộ phim không thể xác định nổi ai là nhân vật chính của bộ phim: John Connor, hay Marcus Wright, hay Kyle Reese. Để gây bất ngờ cho khán giả, đoạn kết phải giải thích khá dài dòng về âm mưu vĩ đại của Skynet, nhưng tiếc thay, lại để lộ ra Skynet là một hệ thống máy tính ngu xuẩn và ngớ ngẩn: nó tiết lộ âm mưu của mình trước khi hoàn tất công việc của mình, tạo điều kiện cho kẻ mà chúng không kiểm soát được có cơ hội phá hỏng âm mưu hoàn hảo, không làm những chuyện đơn giản mà hiệu quả mà bày ra bao nhiêu thứ phức tạp mà vô nghĩa. Nhiệm vụ chính của John Connor trong phần này là cứu Kyle Reese trước khi Skynet có được cậu bé, bởi nếu Skynet giết chết Kyle thì John Connor sẽ không thể tồn tại. Tiếc thay, Skynet có thể tạo ra được người máy, có thể nghĩ ra việc gửi người máy về quá khứ giết mẹ của John Connor khi cậu chưa ra đời, sau đó gửi một người máy khác về khi cậu mới 13 tuổi, nhưng khi có trong tay Kyle, chúng chỉ dùng cha của John để làm mồi nhử anh vào sào huyệt để giết. Chưa hết, mặc dù trang bị nhiều vũ khí tối tân, nhưng khi đối mặt với John Connor, đám người máy chỉ biết làm một chuyện duy nhất: bế anh lên trời và ném tung vào tường! Đó là chưa kể đến trong kịch bản gốc, McG còn nghĩ ra một ý tưởng vô cùng táo bạo, liều lĩnh và có phần ngớ ngẩn (spoiler: đừng đọc nếu chưa xem phim) – John Connor bị giết chết, những người lãnh đạo quân kháng chiến vì không muốn cho cấp dưới biết sự thật bởi sợ làm mất tinh thần chiến sĩ đã quyết định lột da của John Connor đắp vào khung máy của Marcus. Khi John Connor tỉnh dậy, anh ta bắn chết hết mọi người trong phòng, kể cả vợ của mình. Hoá ra, tất cả là âm mưu của Skynet. Quân kháng chiến thất bại!

02_johnconnor_marcuswright

Thế nhưng, McG không phải là một đạo diễn tạo dựng được phong cách riêng. Đâu đó trong Terminator Salvation phảng phất không khí của sự hỗn loạn của một thế giới tương lai u ám trong Children of Men, những con robot khổng lồ gợi nhớ đến Transformers (và ngay cả trailer của bộ phim này cũng được dựng đầy ảnh hưởng của Watchmen ra mắt hồi hai tháng trước). Terminator Salvation thiếu những phút giây làm tui hồi hộp, sung sướng, sợ hãi, hưng phấn. Mọi thứ cứ trôi tuột qua với một cảm giác chán nản. Hay nói đúng hơn, tui chẳng quan tâm đến ai, chẳng lo ai sẽ chết, sẽ mất mát, sẽ bị tổn thương (cả về mặt thể xác lẫn tâm hồn). Trong T2, khi Sarah Connor đang tìm cách chạy trốn khỏi nhà thương điên và nhìn thấy đứa con trai của mình ra khỏi thang máy với tên người máy huỷ diệt, đôi mắt cô kinh hoàng, gương mặt cô thất thần, tâm trạng cô hoảng lọn đến mức ngã sập trên sàn. Sarah lúc ấy chưa hề biết T-800 đến để bảo vệ mình – nỗi sợ hãi từ trong quá khứ vẫn bao trùm – trước mặt cô, T-800 là hiện thân của tử thần, của sự thất bại, của nỗi tuyệt vọng. Người xem chia sẻ được tâm trạng của Sarah, họ càng lo lắng hơn cho cô khi phía sau, T-1000 trong trang phục cảnh sát đang từ từ tiến đến. Cũng trong T2, khi “bà mẹ nuôi” của John Connor, trong lúc nói chuyện điện thoại với cậu bé, đã quay sang chĩa ngón tay ra, biến nó thành mũi nhọn đâm xuyên vào sọ nạn nhân của mình đã trở thành một trong những cảnh rùng rợn nhất mà đến giờ nghĩ lại tui vẫn còn thấy ớn lạnh. Hay cảnh T-1000 từ dưới sàn nhà trồi lên biến thành tay bảo vệ cho đến nay vẫn là một trong những khoảnh khắc kinh điển của lịch sử kỹ xảo điện ảnh. Terminator Salvation hoàn toàn thiếu vắng những khoảnh khắc đáng nhớ như thế. Cũng như trong cách sách dạy làm người, nghệ thuật sống, hay đơn giản là danh ngôn của Che Guavara nói, hạnh phúc không phải là đích đến mà là cảm xúc có được trên suốt chặng đường đi, một bộ phim hay không phải bởi một cái kết bất ngờ mà chính bởi những cảm xúc mà người xem cảm nhận được trong suốt cả hành trình đi theo cùng nhân vật. Ở Terminator Salvation, tui không chia sẻ được với nhân vật nào ngoại trừ Marcus. May thay, Sam Worthington đã xuất sắc trong vai diễn này. Anh thể hiện Marcus còn đầy tính người hơn cả John Connor của Christian Bale – một phiên bản bụi bặm của Người Dơi. John Connor của Christian Bale đầy giận dữ, luôn quát tháo, chỉ khiến cho người ta căm ghét thay vì thương cảm. May mắn thay, Kyle Reese, do nam diễn viên trẻ Anton Yelchin, đã đem đến chút “rất đời” cho bộ phim. Tương tự, nếu như Bryce Dallas Howard trong vai Kate Connor, cô vợ đang mang bầu của John Connor, không tạo nên chút tình cảm nào để người xem chia sẻ được thì nàng Moon Bloodgood (Nguyệt Hảo Huyết?!?) lại vô cùng quyến rũ, mạnh mẽ và khiến người xem cảm động cho dù có phần sến ói. Những nhân vật khác hoàn toàn thiếu tính cách – tất cả họ đều tương tự như nhau.

04_t4

Chủ đề của Terminator Salvation chính là giá trị của nhân loại chính là tình người, thế nhưng thật khó tìm thấy tình người bằng cảm xúc trên phim. Người ta chỉ tìm thấy điều này khi John Connor, bằng cái giọng đều đều của Christian Bale đem qua từ phim Batman, nói lên với phần voice over cuối phim. Cũng vì thế, Terminator Salvation, dù vẫn là một phim hè đầy đủ tiêu chuẩn, nó vẫn không kéo đông khán giả ra rạp xem. Đừng quên, mùa hè có hàng chục phim bom tấn đủ tiêu chuẩn khác, và người xem trong thời buổi kinh tế khó khăn, cũng suy nghĩ đắn đo khi quyết định đầu tư vào bộ phim nào có thể đem đến cho họ cảm xúc.

Đánh giá của phanxine: 3/5

 
Leave a comment

Posted by on 13/06/2009 in On Screen

 

Tags: , , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers