RSS

Monthly Archives: June 2009

Hannah Montana: The Movie (2009) – Thế giới (lại) chẳng cần tới Siêu Nhân

Tựa Việt: Hannah Montana – khởi chiếu từ 5/6/2009
Thể loại: Hài hước / Tâm lý / Gia đình / Lãng mạn / Ca nhạc
Đạo diễn: Peter Chelsom
Diễn viên chính: Miley Cyrus, Billy Ray Cyrus, Emily Osment, Lucas Till, Margo Martindale, Vanessa Williams
Thời lượng: 102 phút

Hannah Montana vốn chỉ là một danh tính khác của cô bé Miley Stewart. Tuy nhiên, chẳng ai biết đến Miley Stewart là ai, trong khi Hannah Montana là một ngôi sao ca nhạc, một thần tượng toàn cầu. Đang ở tuổi ăn tuổi lớn, hồn nhiên và vô tư, Miley Stewart nhiều lúc muốn mình lúc nào cũng là Hannah để cuộc sống bớt đi phần rắc rối và có thể  tận hưởng cuộc sống theo đúng phong cách của một ngôi sao. Nhận thấy “mối nguy hiểm” tiềm tàng này, ông bố Billy Ray Stewart quyết định đưa Miley về vùng quê hẻo lánh Tennessee, như một hình thức “đi trại cải tạo”, trước khi cô bé trở thành một ngôi sao hư hỏng. Dĩ nhiên là Miley bằng cách này hay cách khác, phản đối một cách gay gắt. Nhưng Miley không ngờ rằng ở Tennessee, đang có đầy những điều bất ngờ lẫn một mối tình lãng mạn đang chờ đợi cô bé. Và đồng hành trong chuyến đi của hai bố con nhà Stewart sẽ còn có tay paparazzo Oswald Granger, kẻ luôn chầu chực tạo nên một bài báo scandal nhằm lật đổ hình tượng của Hannah…

Ngay cả khi không theo dõi series phim truyền hình gốc trên kênh Disney Channel, khán giả vẫn có thể nhanh chóng làm quen với các nhân vật trong phim. Các nhân vật phụ trong series phim gốc như ông anh trai ngờ nghệch Jackson, cô bạn thân Lily hay cậu bé Rico tinh nghịch đều góp mặt trong bộ phim điện ảnh. Dĩ nhiên, phần đất dành cho họ là không quá nhiều (Rico có lẽ không có quá 5 câu thoại), chỉ đủ để cho những ai lần tiếp xúc với Hannah Montana biết đến sự tồn tại của họ, còn các fan ruột thì có dịp “Ồ à” khi họ xuất hiện, bởi phần lớn câu chuyện phim xoáy vào sự thay đổi trong tâm tư cô bé Miley Stewart, mối quan hệ cha con và quan hệ tình cảm của Miley và chàng chăn bò điển trai Travis.

Miley Cyrus trong vai Miley Stewart / Hannah Montana
Miley Cyrus trong vai Miley Stewart / Hannah Montana

Bởi là một phim Disney, Hannah Montana: The Movie dĩ nhiên sẽ phải trong sáng, dĩ nhiên kết sẽ có hậu, dĩ nhiên có cả những bài học đạo đức theo phong cách lồ lộ vốn đã được xào đi xào lại từ thuở môn nghệ thuật thứ 7 ra đời. Thậm chí, ngay cả màn “cào nhau phù mỏ” giữa Hannah Montana và Tyra Banks có cảm giác cũng được sao chép từ một bộ phim gần đây là Confessions of a Shopaholic! Tuy nhiên, nếu bạn đã trưởng thành, nếu bạn chẳng thích dây dưa gì đến dòng phim teen, phim thần tượng, thì việc bạn đi xem Hannah Montana: The Movie rồi chỉ trích, có lẽ là một động thái hơi thừa! Có thể Hannah Montana: The Movie không có được cái kiểu hài châm biếm Anh Quốc như Angus, Thongs and Perfect Snogging, Miley Cyrus không thể diễn xuất đầy đặn như Emma Roberts trong Wild Child, nhưng hẳn bộ phim sẽ vẫn thắng lớn, thắng mạnh, đúng theo kiểu “có vắng anh thì chợ vẫn đông“! Bởi đối tượng khán giả phục vụ của Hannah Montana là những cô/cậu bé tuổi nhi đồng, thiếu niên, như một đoạn cuối phim gợi ý. Chúng đâu quan tâm tới việc Hannah Montana: The Movie chỉ đơn giản là một episode Hannah Montana kéo dài cơ chứ? Hannah Montana: The Movie thậm chí cũng chẳng cần ăn quá nhiều tại phòng vé bởi giờ Hannah Montana là một thương hiệu, đi kèm với phim là quá nhiều đồ lưu nịêm (quần áo, mũ, tai nghe, đồng hồ, hộp đựng bữa trưa…), và ngần đó là quá đủ để Disney lãi lớn. Thế nên, những lời chỉ trích, thậm chí là vùi dập (phim chỉ nhận điểm 2.8/10 qua hơn 7800 lượt vote trên IMDB, tính tới ngày 12/6) là thừa thãi.

Xét một cách công tâm, một phần duy nhất để Hannah Montana: The Movie có thể cứu vãn được hình ảnh trong phần đông khán giả, chính là các bài hát do Miley Cyrus thể hiện. Riêng phần này, Miley lại làm tốt. 12 ca khúc của cô đều giai điệu dễ nghe, lời ca dễ đi vào lòng người (đặc biệt, xin nhắc lại, là các fan hâm mộ nhỏ tuổi). Bằng chứng là việc dẫu đã ra mắt hơn 2 tháng, nhưng nhạc phim Hannah Montana: The Movie vẫn xếp đầu danh sách soundtrack bán chạy nhất tại Marketplace của Zune.

Một lẽ tất nhiên, “một cánh én nhỏ chẳng làm nổi nên mùa xuân”, nếu chỉ vin vào một cớ đó để khen Hannah Montana: The Movie thì hẳn cũng quá ư ngu ngốc. Dù đã giảm bớt thời gian cho các nhân vật phụ một cách tối đa, chuyện phim vẫn sa đà và trở nên thiếu thời gian phát triển, tới mức một trong ba mâu thuẫn lớn nhất trong phim được mở màn hoành tráng, song lại dần bị lãng quên rồi được giải quyết tới mức không thể trẻ con hơn.

Năm 2006, trong bộ phim Superman Returns, nàng Lois Lane đã đoạt giải thưởng với bài báo “Why the World Doesn’t Need Superman”. Như một sự trùng hợp, 2006 cũng là năm Hannah Montana lần đầu xuất hiện. Clark Kent phải tháo kính, cởi áo choàng, hất một lọn tóc lên làm điệu để biến thành Superman mà không ai có thể nhận ra. Còn chỉ với một mớ tóc giả cùng vài thứ đồ trang điểm, Miley Cyrus cũng biến thành Hannah Montana, khiến cả một thế hệ thiếu nhi hoan hỉ, nhún nhảy, con tim một chàng trai lạc nhịp, cứu cả một thị trấn khỏi “thảm cảnh diệt vong“, còn các ông bố bà mẹ thì phải thọc sâu túi tiền để làm giàu thêm cho Disney. Giờ trả lời cho tựa đề bài báo của Lois Lane, nên chăng cũng chỉ cần gói gọn trong hai chữ “Hannah Montana”?

Đánh giá của Hisashi: 2/5

 
2 Comments

Posted by on 12/06/2009 in On Screen

 

Điện ảnh: con đường đến với khán giả

Vòng đời của một bộ phim, nhìn chung gồm ba giai đoạn: sản xuất, phát hành và trình chiếu. Mấy năm gần đây, giai đoạn đầu tiên đã trở nên rất quen thuộc khi các chương trình giới thiệu “chuyện hậu trường” của những bộ phim lớn đặc biệt được ưa chuộng; và trên đĩa DVD thường có bonus features giới thiệu kỹ lưỡng về quá trình làm phim. Nhưng những gì diễn ra sau khi một bộ phim hoàn thành cho tới khi nó đến được với khán giả thì vẫn ít nhiều xa lạ.

Trình chiếu

Khái niệm trình chiếu (exhibition) trong trường hợp này cần được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là không dừng lại ở không gian trong rạp chiếu phim. Thời kỳ chiếu rạp, hay còn gọi là theatrical release, chỉ là giai đoạn đầu tiên. Sau khi ra mắt ở rạp, một bộ phim sẽ tiếp tục được phát hành dưới nhiều hình thức, từ dạng video-on-demand trên máy bay và trong khách sạn, cho đến truyền hình trả tiền (pay-per-view), rồi mới đến DVD. Điều này lý giải vì sao sau khi ra rạp vài tháng, những bộ phim lớn của Hollywood mới có đĩa DVD (lậu) tại Việt Nam. Phim càng ăn khách, thời gian chiếu rạp càng dài thì càng lâu có bản đẹp, nếu có cũng chỉ là bản chất lượng kém, quay trộm trong rạp. Cá biệt có những trường hợp DVD lậu bản đẹp xuất hiện từ rất sớm, do bản DVD lưu hành nội bộ bị rò rỉ ra bên ngoài.

Mặc dù vậy không phải phim nào cũng đi theo đúng trình tự này, nhất là phim độc lập và phim của các nền điện ảnh khác, không do Hollywood sản xuất. Cũng có những phim không qua giai đoạn chiếu rạp, được phát hành thẳng dưới dạng DVD ra thị trường. Ba phần 4, 5, 6 của series American Pie là một ví dụ điển hình cho những bộ phim direct-to-video.

Rất nhiều người nghĩ rằng thời kỳ chiếu rạp mang lại lợi nhuận lớn nhất cho nhà sản xuất, thực ra không phải vậy. Phần đông khán giả tiếp xúc với một bộ phim Hollywood qua video gia đình (DVD hoặc truyền hình) chứ không xem trực tiếp ngoài rạp. Con số thống kê cho thấy chỉ có 22% số khán giả là thuộc diện đến rạp thường xuyên, và 22% này đóng góp trên 65% doanh thu chiếu rạp. Trừ những phim cực kỳ thành công như The Blair Witch Project (kinh phí dưới 30.000$ song doanh thu lên đến 250 triệu), doanh thu chiếu rạp thường chỉ dừng lại ở mức hòa vốn. Lợi nhuận chủ yếu đến từ dịch vụ bán, cho thuê DVD, truyền hình trả tiền, các sản phẩm ăn theo như đồ lưu niệm, quần áo v.v… Từ 1988, doanh thu trên thị trường home-video ở Mỹ đã đạt gấp đôi doanh thu phòng vé. Bản thân Quentin Tarantino trước khi trở thành đạo diễn từng là chủ tiệm cho thuê phim video, vì thế trong những phim như Kill Bill có rất nhiều ý tưởng liên hệ với những bộ phim hạng B ông từng xem trong thời gian này.

Chiếu rạp quan trọng, nhưng không phải là kênh lợi nhuận lớn nhất của một bộ phim

Chiếu rạp quan trọng, nhưng không phải là kênh lợi nhuận lớn nhất của một bộ phim

Tuy nhiên, thời kỳ chiếu rạp vẫn là đặc biệt quan trọng, đóng vai trò quyết định, là bệ phóng cho thành công của bộ phim ở các thời kỳ sau. Chính vào thời điểm này bộ phim thu hút được sự chú ý đặc biệt của công chúng: giới phê bình lên tiếng, truyền hình loan tin, khán giả bàn tán. Doanh thu ở thị trường home-video có 80% đến từ những phim ăn khách khi chiếu rạp. Dù vậy, cũng có những ngoại lệ nhất định, điển hình là Shawshank Redemption, đứng đầu Top 250 của IMDB, không ăn khách ngoài rạp nhưng lại đặc biệt thành công trên thị trường video gia đình, điều góp phần đưa nó đến vị trí hiện tại.

Một nét đáng chú ý của giai đoạn chiếu rạp là tính mùa vụ. Nếu như ở Châu Âu thời kỳ trọng điểm tập trung vào mùa thu thì tại Bắc Mỹ mùa phim chính là mùa hè. Khán giả khi đó chủ yếu là thanh thiếu niên vừa kết thúc học kỳ, với nhu cầu giải trí là chủ yếu. Những phim ra rạp giai đoạn này do vậy thường là phim hài nhẹ nhàng, phim hành động, kinh dị v.v… Phim phát hành vào dịp Lễ Phục Sinh và Giáng Sinh thường hướng tới đối tượng độc giả lớn tuổi hơn, nghiêm túc hơn, đồng thời nhắm tới đề cử giải Oscar mùa xuân năm sau.

Phát hành

Đây có lẽ là giai đoạn khán giả ít biết đến nhất, nhưng lại là giai đoạn “tập trung quyền lực” trong ngành công nghiệp điện ảnh. Điểm mặt các nhà phân phối cũng đồng nghĩa với việc chỉ tên những con ngáo ộp của làng điện ảnh: Warner Bros., Paramount, 20th Century Fox, Disney, Universal, Columbia. Những cái tên này có lẽ đã rất quen thuộc với khán giả: quả địa cầu (Universal), tòa lâu đài (Disney), dãy núi cao tuyết phủ (Paramount) luôn là hình ảnh xuất hiện đầu tiên trên mỗi bộ phim. Nhưng quyền lực thực sự và tầm ảnh hưởng của chúng trong làng điện ảnh thế giới thì lại là một điều khá mơ hồ với đại bộ phận khán giả.

Để có phim chiếu, nhà rạp phải thuê phim từ nhà phân phối. Xét về bản chất, các công ty phát hành chính là các đại lý khống chế và điều tiết nguồn phim trên thị trường, đóng vai trò cầu nối giữa nhà sản xuất và khán giả. Có ba hình thức thuê phim chủ yếu: (1) nhà phân phối chiếu trước cho các rạp xem, sau đó họ “trả giá” để giành quyền chiếu phim mình muốn thuê; (2) thuê mà không được xem trước (blind-booking); (3) thuê trọn gói, nghĩa là các rạp chấp nhận thuê một gói nhiều phim để có được một hoặc vài phim mình muốn. Một số phim hạng B chất lượng bình thường, nếu không muốn nói là rất dở (The Marine, Prom Night) được nhập về Việt Nam thời gian qua có lẽ đã được nhập vào qua mô hình thứ ba.

Sáu nhà phân phối lớn (major distributor) kể trên nắm nguồn cung cấp phim chủ lực cho hệ thống các rạp chiếu bóng trên toàn cầu, chiếm hơn 95% doanh thu bán vé tại Bắc Mỹ và hơn 50% thị trường thế giới. Sở dĩ có sự tập trung quyền lực này vì điện ảnh là một ngành kinh doanh hết sức mạo hiểm: một bộ phim trung bình ở Hollywood có kinh phí khoảng 50 triệu dollar và luôn tiềm ẩn nguy cơ thất bại. Qua thời gian, những nhà phân phối nhỏ đã dần bị đào thải và thôn tính, giờ đây cuộc chơi chỉ còn lại sáu ông lớn, vì chỉ họ mới kham nổi mức độ rủi ro này.

Một điều lý thú là mặc dù các công ty phát hành lớn đều đặt trụ sở và hoạt động trên đất Mỹ nhưng chủ sở hữu của chúng có một nửa không mang quốc tịch Mỹ. Columbia thuộc về Sony; 20th Century Fox thuộc về News Corp của trùm truyền thông Rupert Murdoch người Úc; còn Universal thuộc về Vivendi, một tập đoàn của Pháp. Hoạt động của các công ty phân phối này luôn nhận được sự phối hợp chặt chẽ từ các chi nhánh hoạt động trên các lĩnh vực khác nhưng thuộc cùng tập đoàn: truyền hình, báo chí, thiết bị nghe nhìn v.v…

Quà vặt giá cao là một phần không thể thiếu của rạp chiếu bóng

Quà vặt giá cao là một phần không thể thiếu của rạp chiếu bóng

Với thực lực lớn như vậy, nhà phân phối luôn là một con sư tử khi phân chia lợi nhuận. Gần đây không ít khán giả than phiền về việc Megastar tăng giá vé, song ít người biết rằng nhà rạp (exhibitor) chỉ được hưởng một phần rất nhỏ trên tổng doanh thu. Một hợp đồng “chuẩn” sẽ cho phép nhà phân phối giữ lại 90% doanh thu của tuần đầu tiên. Tỉ lệ này sẽ giảm dần xuống còn 30% sau vài tuần. Nhưng hầu hết các bộ phim chỉ ăn khách trong vài tuần đầu và khi ấy miếng bánh lớn vẫn về tay nhà phân phối. Còn nếu bộ phim sớm thất bại thì nhà rạp hầu như chẳng thu lại được gì. Đây chính là nguyên nhân khiến đồ ăn nhẹ ngoài rạp luôn có giá cắt cổ: tiền bán bỏng ngô và nước giải khát có thể chiếm đến 70% lợi nhuận của rạp. Không phải ngẫu nhiên mà một nhà quản lý ở New York đã phải thốt lên: “Nghề của tôi là buôn quà vặt. Tôi chỉ tình cờ làm việc ở rạp chiếu phim thôi.” Bởi vậy khán giả cũng đừng nên trách móc nhà rạp rằng popcorn và Coke đắt thế – trong chừng mực nào đó, họ buộc phải làm vậy để có thể tồn tại và phát triển.

Khi đã khấu trừ các khoản thuộc về nhà rạp, nhà phân phối sẽ giữ lại 35% doanh thu – khoản này gọi là phí phát hành. Nếu họ còn góp vốn làm phim thì họ sẽ lấy thêm một phần nữa, cộng với chi phí nhân bản phim và quảng cáo (trung bình là 30 triệu dollar). Phần còn lại mới đến tay nhà sản xuất, diễn viên và các bên tham gia khác. Nếu doanh thu phòng vé không đủ thì họ phải đợi đến khi có lợi nhuận từ các nguồn thu khác: từ DVD và bản quyền truyền hình. Bởi vậy ngày nay rất nhiều đạo diễn tên tuổi và diễn viên ngôi sao đòi trả lương ngay từ khi có doanh thu phòng vé.

Những bộ phim mainstream (dòng chính thống) của Hollywood thường được sự hậu thuẫn về tài chính của nhà phân phối, vì hầu hết đều từ những studio lớn đi lên, và có hệ thống cơ sở hạ tầng rất hùng hậu để làm phim như Warner Bros. và Paramount Pictures. Để có tiền thực hiện dự án, nhiều nhà làm phim độc lập hay nước ngoài thường “bán trước” quyền phát hành cho nhà phân phối. Khoảng hai thập kỷ trở lại đây, xuất hiện một số công ty chuyên phát hành phim độc lập khá ăn nên làm ra như Miramax (Pulp Fiction, Shakespeare in love) hay Good Machine (Ngọa hổ tàng long). Sáu gã khổng lồ nhanh chóng nhận ra tiềm năng của các công ty nhỏ này, và lập tức tiến hành sát nhập, biến chúng thành các chi nhánh nhắm vào thị trường phim độc lập. Disney mua lại Miramax, Universal thâu tóm Good Machine và  đổi tên thành Focus Feature, 20th Century Fox lập ra Fox Searchlight (phát hành Juno). Bởi vậy khi xem phim, chỉ cần thấy logo một trong số các công ty này là ta có thể đoán đây là một bộ phim ít nhiều thiên về nghệ thuật.

Các studio lớn ở Hollywood từ lâu đã mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài biên giới nước Mỹ. Họ có chi nhánh ở khắp các thị trường quốc tế chủ chốt, thực hiện việc bắn phụ đề hoặc lồng tiếng cho phim, tùy theo sở thích và tập quán của mỗi thị trường. Thông thường ở châu Á, phim được phát hành khá sớm, thậm chí là đồng thời với Bắc Mỹ; vì ở đây nhà phân phối phải đối mặt với nạn băng đĩa lậu hoành hành. Trong khi đó châu Âu lại phát hành chậm hơn Mỹ đến vài tháng, có lẽ là để tiết kiệm chi phí nhân bản phim. Thị trường lớn nhất của các hãng phát hành hiện nay vẫn là Bắc Mỹ, rồi đến Nhật Bản và Tây Âu, sau nữa mới đến các nước ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Việt Nam hiện nay mới chỉ có khoảng hơn 100 phòng chiếu đạt tiêu chuẩn trên 80 triệu dân, là một thị trường đầy tiềm năng trong tương lai.

Từ trước khi bộ phim hoàn thành, nhà phân phối đã lên lịch chiếu và triển khai quảng cáo cho nó. Đây là lúc các công ty lớn phát huy ưu thế về quy mô: in 1000 bản phim và 100.000 poster rẻ hơn nhiều so với in 10 bản và 100 poster. Và cũng chỉ các công ty lớn mới đủ tiềm lực tài chính để quảng cáo mạnh mẽ cho bộ phim trên phương tiện thông tin đại chúng. Với sự bùng nổ của truyền thông, phương thức quảng bá cho một bộ phim ngày nay đã trở nên hết sức đa dạng, từ website riêng, teaser, trailer, cho đến những chiến dịch công phu như Cloverfield. Một bộ phim với kinh phí 20 triệu dollar hoàn toàn có thể tiêu tốn đến 30 triệu cho khâu quảng cáo. Những bộ phim hạn chế về kinh phí thường sử dụng các chiến lược ít tốn kém hơn, nhằm vào những đối tượng cụ thể mà họ cho rằng sẽ quan tâm đến bộ phim (niche market). Song để nói về chiến lược quảng bá của nhà phân phối thì lại là một câu chuyện dài khác, của một bài viết khác.

 
13 Comments

Posted by on 03/06/2009 in Features

 

Nhân việc xem phim “Nguồn sống” (The Fountain), mạn bàn về triết lí cuộc sống

Photobucket - Video and Image Hosting

Trường ca một câu

Trả lời được câu hỏi “từ đâu mà ra”, sẽ thấy sự vật, sự việc trở nên lí thú hơn. Do đó, đầu tiên, xin mạn bàn về “triết lí” đằng sau bộ phim.

Một bản nhạc, được gọi là “dễ cảm” khi có một đoạn những nốt nhạc lặp đi lặp lại, đơn giản và dễ thuộc. Điều này tạo ra một hiệu ứng, tạm gọi là “ký ức hình ảnh” – giai điệu sẽ chợt vang lên trong đầu khi được kích thích bằng một hình ảnh tương ứng.

Chẳng hạn, bạn hãy đọc vài lần câu này:

à lề a lế a lê

hay

ten ten ten tèn 

Bạn có thấy mình tự nhiên đọc theo giai điệu của một bài hát/điệu nhạc quen thuộc?

Áp dụng hiệu ứng hình ảnh vào công nghệ giải trí để tạo ra những sản phẩm mang tính đại chúng thật ra chỉ là kết quả xa của những công trình mang tính hàn lâm hơn.

Chẳng hạn, bản “Boléro” của Ravel được ra mắt vào năm 1928: Photobucket - Video and Image Hosting
Nhìn vào trích đoạn khuôn nhạc, ta thấy những tổ hợp nốt được lặp đi lặp lại.

Một ví dụ khác, “Mùa sạch” của Trần Dần:

“…Tôi nhất thích công tác ở Việt Nam mùa
Mùa cau ỏn ẻn trầu mùa
Mùa duyên hò hẹn trăng mùa
Mùa na rụn rịn vườn mùa
Mùa Việt Nam trên quả đất mùa”

Danh từ “mùa” ở đây được lặp đi lặp lại, như “một ngón điệp từ được đẩy lên cực độ”.

Quay lại với bộ phim “Nguồn sống”, những tình tiết trong phim được lặp đi lặp lại như những nốt nhạc, như một “ngón điệp từ”.

Một mặt, sự lặp đi lặp lại này giúp cho khán giả dần ngộ chuyện gì đang xảy ra bằng cách kết nối những điểm mốc với nhau. Một mặt, tạo một “tấm thân” dày và chắc để “cành và lá” – các tình tiết mở rộng, đâm chồi, nảy lộc.

Tác động của sự lặp đi lặp lại có thể thấy rõ nhất là tính “cộng hưởng”. Chẳng hạn, nhạc của Philips Glass – đặc trưng bởi những vòng lặp, khiến cảm xúc được tích lũy. Cũng như vậy, khán giả của “Nguồn sống” thả hồn theo nhịp bước của dòng phim, để nghe thấy sự rung động ngày càng mạnh mẽ từ trong lòng mình.

Một thế giới riêng

 Người ta đã từng có một thế giới riêng của mình – tử cung của mẹ. Ở đó, chúng ta dù dễ tổn thương nhưng có được cảm giác an toàn, được đáp ứng tất cả mọi nhu cầu và mong ước (nếu có).

Khi lớn lên, người ta khao khát được có lại cái thế giới hoàn hảo ấy.

Rạp chiếu phim, tối đen như tử cung của mẹ và chúng ta lại được thỏa mãn mọi mong muốn: hình ảnh từ màn ảnh, tác động vào não, và rồi, chúng ta buông mình, trở thành đứa trẻ để thế giới trên màn ảnh như người mẹ đáp ứng mọi nhu cầu.

Chúng ta nếu có khao khát được trường sinh bất lão thì những nhân vật trong phim “Nguồn sống” cũng muốn được trường sinh bất lão. Đó là lí do tại sao ta bị cuốn hút vào chuyến du hành trong thế giới riêng của phim.

Thế giới phim, nơi mà những điều chưa bao giờ tồn tại lại được mục kích tận mắt, nghe thấy tận tai.

Rõ ràng nhất là những phim được dán mác “người hành tinh”, “ngày tận thế”, “ma cà rồng” … Tuy nhiên, vẫn có đấy những phim mà nhân vật là những con người bằng xương bằng thịt: họ ăn, ngủ, cãi nhau, làm tình, chia tay, khóc, cười … và họ khiến cho khán giả tin rồi cùng sống trong cái thế giới của riêng họ. Chợt nhớ đến “Closer”, một phim chỉ có 6 nhân vật hiện lên trong genérique, một thế giới riêng đã được tạo lập bởi 6 con người, có lẽ chưa bao giờ tồn tại bên ngoài rạp chiếu phim.

Bằng cách tạo ra một thế giới riêng, những nhà làm phim tha hồ thể hiện nhân sinh quan của mình. Họ bảy tỏ chính kiến, quan điểm về những triết lí cơ bản của cuộc sống. Chẳng hạn, nhà làm phim “Nguồn sống”, theo tôi, muốn dùng sự rắc rồi trong cấu trúc không gian – thời gian của phim để chỉ nói một câu: “trường sinh là ở trong lòng”!

 
1 Comment

Posted by on 02/06/2009 in Features

 

Tags: , , , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 55 other followers