RSS

Monthly Archives: August 2009

Michael Bay – đạo diễn đầy tham vọng

Điều bực nhất của đạo diễn Michael Bay là trong khi siêu phẩm Transformers của ông tung hoành trên các rạp phim thế giới, được khán giả nô nức kéo nhau tới xem thì giới phê bình lại không đánh giá cao. Thậm chí nhiều người còn đánh giá sự nghiệp thành công của ông là do may mắn và gặp thời. Nhưng nếu nhìn nhận một cách công bằng thì may mắn chỉ là một phần, còn lại phần lớn là nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ cả trong lẫn ngoài trường quay và những tính toán tài chính hết sức khôn ngoan của Michael Bay.

Đạo diễn Michael Bay và diễn viên gợi cảm Megan Fox

Đạo diễn Michael Bay và diễn viên gợi cảm Megan Fox

Nóng tính và thẳng thắn

Không chỉ nổi tiếng với những cảnh cháy nổ hoành tráng trên màn ảnh, Michael còn được biết như một đạo diễn hay nổi cơn thịnh nộ. Sự nóng tính và thẳng thắn của Bay tạo nên không ít mối thù địch. Một nam diễn viên phụ trong Trân Châu Cảng cho biết Bay từng chỉ trích gay gắt một nam diễn viên vì anh ta cho rằng cảnh tấn công Trân Châu Cảng là nực cười. Một trợ lý cho biết Bay từng giận một diễn viên phụ trong Đại chiến robot tới mức ông bắt anh này đứng vào góc tường. Nữ diễn viên Kate Beckinsale thì kể với các phóng viên rằng Bay khiến cô thấy mình thật xấu xí trên phim trường Trân Châu Cảng (tuy nhiên Bay phủ nhận điều này). Bay còn nổi tiếng vì những vụ tranh cãi với các ngôi sao trên trường quay, mà Bruce Willis, diễn viên phim Ngày tận thế (Armageddon) là một ví dụ. “Anh ta có xu hướng muốn làm đạo diễn và thay đổi lời thoại của các diễn viên,” Bay nói. Ông cũng thường phản ứng khi các nhà phê bình gọi phim của ông là “rẻ tiền”, “thiếu chất xám” hay “trục lợi.”

Tiết kiệm từng xu

Michael Bay luôn cho ra các bộ phim đúng thời điểm và không lạm ngân sách, một điều hiếm có ở Hollywood. Vì số tiền Bay kiếm được phần lớn đến từ lợi nhuận làm phim (thường là một phần ba lợi nhuận sau khi trừ đi chi phí sản xuất và quảng cáo), ông luôn muốn tiết kiệm chi phí một cách tối đa. “Bay làm lợi cho tôi vì ông đếm từng xu một,” Jerry Bruckheimer, người tham gia sản xuất năm phim của Michael Bay cho biết.

Bộ phim Đại chiến Rôbôt: Bại binh phục hận mới đây của Michael Bay tiêu tốn 195 triệu đôla. Nhưng Bay ước tính bộ phim có thể tốn kém hơn nhiều nếu ông không bắt tay với hãng xe General Motors và quân đội Mỹ để được sử dụng ô tô, trực thăng và tàu chiến miễn phí. Nhờ biết kiểm soát sao cho chi phí làm phim Đại chiếu Rôbốt phần I (2007) dừng lại ở mức tương đối thấp (với một bộ phim bom tấn), Bay làm tăng lợi nhuận của chính ông. Cụ thể, Robot đại chiến I thu được 708 triệu đôla thì Bay đã bỏ túi 80 triệu. Dù vậy những người không thích phim của Bay cho rằng đạo diễn này tự biến phim mình thành phim quảng cáo dài. Nhưng Bay giãi bày: “Người ta nói thế là đánh đĩ nghệ thuật, nhưng đâu phải vậy. Quảng cáo là một phần của cuộc sống. Ta không thể tránh nó được. Suy nghĩ không nên quảng cáo trên phim là không thực tế chút nào.”

Khi còn học làm phim ở Đại học Wesleyan, một trong những việc làm thêm đầu tiên của Michael Bay là đạo diễn quảng cáo. Ở tuổi 26 Bay đã làm phim quảng cáo cho các hãng Cocacola, Levi’s, và Budweiser. Ông học mọi thứ từ công việc này – chuẩn bị đèn chiếu, điều chỉnh ống kính, và cả ra lệnh cho các ngôi sao, điển hình là các vận động viên chuyên nghiệp đóng quảng cáo cho hãng Nike do ông đạo diễn.

Bruckheimer đem đến cho Bay cơ hội đạo diễn đầu tiên vào năm 1994 với Những chàng trai hư (Bad Boys), bộ phim về hai viên cảnh sát Miami truy đuổi những tên buôn ma túy. Đây là cơ hội lớn dành cho Bay, dù kịch bản phim bị chê bai tới mức cộng sự của Bruckheimer là Don Simpson đe rằng họ sẽ rút tên khỏi bộ phim. Trước áp lực đó, Michael Bay đã kéo hai ngôi sao Will Smith và Martin Lawrence ngồi lại với mình đề bàn cách tạo ra những chi tiết thực sự hài hước. “Chúng tôi không hề nhận được sự hỗ trợ của xưởng phim,” Bay tiết lộ. “Tôi muốn làm nó đủ hấp dẫn để thu hồi vốn.” Ở một trong những cảnh quay cuối cùng, Will Smith phải hạ nốc ao một nhân vật phản diện. Nhưng đúng ngày quay cảnh này, trời đổ mưa khiến đoàn làm phim phải hoãn quay, trong khi không đủ chi phí để tiếp tục thuê tất cả những người tham gia cảnh quay đó. Bay quyết định trích 25 ngàn đô la trong 125 ngàn đô tiền công của chính mình để quay cảnh này. Cuối cùng, bộ phim với kinh phí khoảng 20 triệu đô này đã thu về hơn 140 triệu đôla từ các phòng chiếu trên toàn thế giới.

Một cảnh trong bộ phim Bad boys

Một cảnh trong bộ phim Bad boys

“Người ta không hề ghi nhận chuyện đó,” Bay nói. “Tôi thậm chí đã phải nài nỉ để lấy lại tiền của mình (tức 25 ngàn đô).” Kinh nghiệm này khiến Bay trở nên khôn ngoan hơn trong các cuộc thương lượng. Ông nhận tiền công cho hai bộ phim tiếp theo là The RockNgày tận thế (Argameddon), nhưng vào năm 2000 ông quyết định sẽ không chỉ hoạt động với tư cách đạo diễn làm thuê, mà nhất quyết sở hữu một phần các bộ phim. Khi đạo diễn Trân Châu Cảng, bộ phim có kinh phí 140 triệu đôla, Bay từ chối nhận tiền công trả trước để đổi lấy 50% lợi nhuận của bộ phim sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất và quảng cáo. Cuối cùng bộ phim thu được 450 triệu đô và Bay bỏ túi 40 triệu. Dựa vào sự hỗ trợ của quân đội, ông tiết kiệm được hàng triệu đôla nhờ sử dụng các hàng không mẫu hạm và tàu chiến thuộc thế chiến thứ hai.

Tận dụng mọi cơ hội hợp tác

Trên trường quay bộ phim Đại chiến Rôbốt ở New Mexico, một nhóm các sĩ quan quân đội túc trực mọi lúc mọi nơi để giúp Bay vạch chiến lược cho các cảnh công chiến. Trung tá Gregory Bishop thuộc Quân đội Hoa Kỳ cho biết, Bay muốn bộ phim phải đem lại cảm giác sống động như thật. “Chiến đấu với rôbốt thì chẳng thật chút nào, nhưng nếu chúng tôi phải chiến đấu với rôbốt ngoài hành tinh thật thì chúng tôi sẽ làm đúng như thế.” Cái “được” của Bay là những chiếc xe tăng, các chiến hạm quân sự và máy phóng tên lửa hoàn toàn miễn phí vì chúng được sử dụng trong các buổi tập dượt quân sự. Nếu các sĩ quan tập luyện trên một chiếc trực thăng Apache, Bay có thể quay phim miễn phí. Với những cảnh rôbốt biến thành xe hơi, Bay cũng được hãng GM tặng không xe. Ông từng được hưởng mối lợi tương tự khi hãng xe hơi này đóng góp những chiếc xe bị hỏng vì lũ lụt cho Những chàng trai hư. “Tôi cho chúng được chết trong vinh quang,” đạo diễn hài hước nói.

Ngoài các nhà sản xuất phim hay quân đội, Bay còn có mối quan hệ khăng khít với Hasbro, nhà chế tạo đồ chơi biến hình. Ban đầu Bay băn khoăn xem có nên làm một bộ phim hoạt hình hay không. Nhưng sau đó ông bị thuyết phục khi ghé thăm trụ sở của Hasbro ở Rhode Island. Tại đây Bay được nghe câu chuyện giả tưởng phức tạp về cuộc chiến giữa hai phe Autobot và Decepticon. Tổng giám đốc điều hành của Hasbro, Brian Goldner nói, mọi thứ đều có ý nghĩa hơn vẻ ngoài của chúng; ta có thể ngắm gần như bất cứ chiếc xe nào mà tin rằng chúng cũng có xúc cảm như con người. Vậy là Bay tin tưởng bộ phim sẽ thu hồi vốn. Trên cả mong đợi, Đại chiến robot đã thu được thành công vang dội.

Không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động

Ngoài lợi nhuận từ việc đạo diễn và sản xuất phim của chính ông, Michael Bay còn kiếm được không ít tiền nhờ sản xuất các bộ phim nhỏ và sắp tới là trò chơi video. Năm 2003, ông khai trương Platinum Dunes, công ty chuyên làm lại những bộ phim cổ điển. Bay thuê những đạo diễn trẻ làm phim với kinh phí dưới 20 triệu đô.  Hầu hết những đạo diễn này đều thu hồi vốn sau tuần đầu công chiếu. Với tư cách nhà sản xuất, Bay thu được trung bình 8% số tiền tịnh xưởng phim kiếm được cho mỗi phim. Năm 2007, Michael Bay còn góp vốn mua lại công ty hiệu ứng hình ảnh Digital Domain do đạo diễn James Cameron sáng lập. Khi đó công ty này đang ở rơi vào tình trạng khó khăn do tranh chấp nội bộ, nên Bay và các nhà đầu tư còn lại mua được hãng này chỉ với 35 triệu đôla. Thành công mới nhất của Digital Domain là giải Oscar cho hiệu ứng hình ảnh trong bộ phim Dị nhân Benjamin (The Curious Case of Benjamin Button) trình chiếu vào năm ngoái.

(Theo Forbes Asia)

(Đã đăng trên Thể thao Văn hóa – 20/8)

 
1 Comment

Posted by on 30/08/2009 in Features

 

The Proposal của Sandra Bullock

Bài đăng ở đây là một bài tập nhận xét về kịch bản của phim nên rất có thể có một số chi tiết sẽ khác so với phim.

The Proposal

Biên kịch: Pete Chiarelli
Đạo diễn: Anne Fletcher
Sản xuất: David Hoberman và Todd Lieberman
Độ dài: 108 phút
Thể loại: Hài hước / Tình cảm

the-proposal

The Proposal The Devil Wears Prada kết hợp với The Silence of Lorna hoặc Green Card

The Proposal là một phim hài tình cảm, bối cảnh hiện đạiở New York và Sitka, Alaska, Mỹ. Phim do nữ đạo diễn và biên đạo xinh đẹp của 27 DressesStep Up – Anne Fletcher. The Proposal là chuyện về một tổng biên tập độc thân xinh đẹp MARGARET TATE (40), người Canada. Khi visa Mỹ của mình hết hạn, cô đã ép trợ lý của mình là ANDREW PAXTON (28) phải kết hôn với cô để tránh bị trục xuất khỏi nước Mỹ. Andrew là con trai duy nhất của một gia đình quyền thế và giàu có nhưng lại muốn tực lực cánh sinh nên anh chấp nhận thỏa thuận với Margaret để được thăng chức lên làm biên tập. Sở nhập cư nghi ngờ trường hợp của họ và cử người đi điều tra. Andrew đưa Margaret về Alaska dự lễ mừng thọ 90 tuổi của bà anh và họ đã bị cả gia đình thuyết phục làm một đám cưới chóng vánh. Ở gần gia đình Andrew và biết được rằng Andrew vẫn có tình cảm với bạn gái cũ thời trung học, Margaret đã thú nhận tất cả mọi việc trong lễ cưới và bỏ đi. Nhưng Andrew nhận ra rằng mình thực sự yêu Margaret và vẫn kịp giữ cô ở lại. Không những thế, nhân viên điều tra của sở nhập cư còn bị buộc phải chấp thuận trường hợp của Margaret vì sức ép của gia đình Andrew.

Câu chuyện trong The Proposal khá hài hước và kịch bản thì được viết rất tốt. Phần mở đầu ngay lập tức thiết lập một không khí rất năng động cho cả bộ phim. Tất cả các nhân vật trong câu chuyện đều có tính cách thú vị và mong muốn rất rõ ràng. Xây dựng được một hệ thống nhân vật như vậy là đã có một nền tảng vững chắc để phát triển câu chuyện. Tuy nhiên, kịch bản vẫn còn một số điểm cần cân nhắc như sau:

-Kịch bản này mang tính hài nhiều hơn tình cảm, điều này có thể dẫn đến hậu quả “phản cảm” vì đây là câu chuyện của một người phụ nữ, một câu chuyện tình yêu. Trong một số cảnh, cái hài hành động (slapstick comedy) hơi nhiều quá khiến cho nó giống như kiểu hài của Louis De Funes. Một số yếu tố hài hước nên được xem xét để giảm bớt hoặc thay thế như con chó, con đại bàng và cú trượt ngã trong nhà tắm có thể được thay thế bằng hình ảnh một cô Margaret vụng về học nấu ăn với bà của Andrew hay phải trông trẻ bất đắc dĩ chẳng hạn.

-Vấn đề lớn thứ hai là câu chuyện tình yêu giữa Margaret và Andrew chưa đủ thuyết phục. Người đọc có thể sẽ cảm nhận được tình cảm họ dành cho nhau nhiều hơn nếu họ được đặt vào những tình huống lãng mạn và thân thiết hơn là những tình huống hài hước đơn thuần. Có thể sử dụng bà của Andrew làm nhân vật trung gian kết nối hai người với nhau. Bà có thể đề nghị hai người giúp bà thực hiện tất cả những việc bà muốn làm trước sinh nhật lần thứ 90 hay bắt họ tập các nghi lễ đám cưới sao cho giống y hệt như đám cưới của bà và ông ngày xưa.

Cá nhân mình không thích kịch bản này lắm và cũng không có ý định đi xem nhưng có vẻ như The Proposal khá được yêu mến ngoài rạp và cũng thu lại kha khá lợi nhuận, so với một phim hài tình cảm.

 
13 Comments

Posted by on 27/08/2009 in On Screen, Xtras

 

Lối tư duy mới trong cách làm phim chiến tranh của điện ảnh Trung Quốc

Điện ảnh Hoa ngữ ngày càng chứng tỏ vị thế của mình trong nền công nghiệp điện ảnh thế giới. Số lượng phim sản xuất trong năm ngày càng tăng, kinh phí mỗi bộ phim ngày càng nhiều hơn, những dự án điện ảnh có đối tác quốc tế càng phổ biến. Những bộ phim làm về đề tài chiến tranh của điện ảnh Hoa ngữ cũng không nằm ngoài dòng chảy sôi động. Trong phạm vi bài báo này, người viết không có tham vọng đề cập đến tất cả những bộ phim chiến tranh bom tấn trong thời gian gần đây khi điện ảnh Hoa ngữ đang ngày càng trở nên đa dạng trong phương thức hợp tác và phong cách thể hiện. Người viết chỉ mong muốn qua những bộ phim về chiến tranh có dấu ấn nổi bật tại thời điểm hiện tại, có tổng kết những điểm mới trong cách làm phim về đề tài chiến tranh của các đạo diễn điện ảnh Hoa ngữ.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2008/04/13/1208142314.img.jpg

Không dừng lại ở việc phản ánh chiến tranh

Những bộ phim chiến tranh của điện ảnh Hoa ngữ hiện nay đang được đầu tư để trước hết đạt chuẩn của điện ảnh thế giới về chất lượng hình ảnh, âm thanh, kỹ xảo. Đã qua từ lâu thời làm phim chiến tranh như một vở kịch tuyên truyền theo kiểu phim Đại quyết chiến, những bộ phim chiến tranh của điện ảnh Hoa ngữ hiện nay đều xuất phát từ số phận của những nhân vật sống động. Cách kể chuyện như vậy, phần nào tiếp nhận ảnh hưởng từ bộ phim Giải cứu binh nhì Ryan của điện ảnh Mỹ. Năm 2007, hai bộ phim chiến tranh  sử thi được dư luận quan tâm nhất là Đầu danh trạng và Lênh tập kết. Cả hai phim đều được đầu tư lớn, với những cảnh quay chiến trận bi tráng. Thông điệp của cả hai bộ phim đều khắc họa mặt trái của những cuộc chiến, ca ngợi tình huynh đệ trong những khoảnh khắc hiểm nguy nhất của cuộc sống. Cả hai vị đạo diễn Trần Khả Tân và Phùng Tiểu Cương, tuy đã thành công với những bộ phim trước đó nhưng đều là lính mới ở thể loại phim chiến trận. Nhưng chính vì thế mà cả hai bộ phim đều có những sự tìm tòi mới mẻ trong cách thể hiện. Đầu danh trạng đã khai thác sâu sắc cá tính các nhân vật trong phim, tất cả những mâu thuẫn giữa ba nhân vật chính đều xuất phát từ chính tính cách của họ khiến cho bộ phim chặt chẽ, bất ngờ và hấp dẫn đến giây phút cuối. Trong khi đó, Lệnh tập kết lại gây ấn tượng khi trọng tâm đặc tả các nhân vật nhỏ bé của cuộc chiến thay vì khắc họa các tướng lĩnh tài ba. Cả hai phim đều thắng lớn tại các giải thưởng điện ảnh Hoa ngữ và đạt doanh thu cao trong cộng đồng.

Ngoài ra Sắc giới, ở một khía cạnh nào đó cũng là một bộ phim về thân phận một tình yêu đầy đau đớn trên nền cảnh cuộc chiến. Không tập trung vào những cảnh chiến trận mà trọng tâm khắc họa cuộc đấu tranh nội tâm nhân vật, Sắc Giới thực sự là một bộ phim thành công về số phận con người trong chiến tranh. Gần đây bộ phim chiến tranh Nam Kinh Nam Kinh của đạo diễn Lục Xuyên gần đây cũng được ca ngợi là phim chiến tranh hay nhất Trung Quốc. Bộ phim nói về sự thay đổi nhân tính của con người trong chiến tranh, khi họ phải đối diện với chiến tranh và những cuộc tàn sát tập thể.

Có thể nói, những bộ phim thành công với đề tài chiến tranh đều không dừng lại ở việc khắc họa đơn thuần tính chất khốc liệt của cuộc chiến mà quan trọng hơn, những bộ phim đó đã quan tâm đến số phận của con người, khai thác phần chân thực và tươi đẹp nhất của nối đau con người. Từ đó, nhận được sự đồng cảm của khán giả và trở thành những tác phẩm điện ảnh

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Cache/Image/879/222879.jpg


Bối cảnh hoàng tráng tạo nên sự chân thực

Một trong những đặc điểm được các đạo diễn Hoa ngữ gần đây khai thác chính là tính chân thực của những phim chiến tranh Hoa ngữ. Ngoài vấn đề đề tài, cách thể hiện của những bộ phim chiến tranh Hoa ngữ gần đây cũng khiến khán giả phải trầm trồ vì những chi tiết được tái hiện rất chân thực, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người xem. .

Bộ phim chiến tranh sử thi Đầu Danh Trạng cuốn hút bởi các đại cảnh chiến trận đồ sộ được thực hiện công phu và chân thật, khiến người xem dù cảm thấy chất bi tráng nhưng lẫn vào đó là cả nỗi sợ hãi cảnh đầu rơi máu chảy tang thương. Những cảnh chiến đấu được dàn dựng thô mộc, tự nhiên đã khiến bộ phim không bị sa đà thành phim võ hiệp mà thực sự là phim chiến tranh, một cuộc chiến tranh ghê rợn với đao kiếm và những cuộc giáp đấu.

Lệnh tập kết được coi là bộ phim hoàng tráng và thể hiện tham vọng của Phùng Tiểu Cương nhất. Phùng Tiểu Cương đặc biệt đầu tư cho hóa trang và cháy nổ. Ông đã cho mời công ty hiệu quả đặc biệt của Hollywood – những người đã thực hiện phim Dạ yến tiếp tục với bộ phim này.  Ngoài ra phim còn có  sự tham gia hợp tác của MK Picture, công ty kỹ xảo bậc nhất Hàn Quốc, đã từng thành công khu thực hiện bộ phim chiến tranh Cờ bay phấp phới. Những phương tiện tân tiến đã tạo nên một không gian chiến tranh khốc liệt

Tuy không được đánh giá cao như hai bộ phim trên song Binh Pháp Mặc Công đã dày công hơn cả trong việc tái hiện lịch sử và bối cảnh của phim. Hầu hết bối cảnh được được xây dựng thật mặc dù 2/3 thời lượng phim dùng kỹ xảo điện ảnh. Những nỗ lực đó làm khán giả thực sự rung động trước vẻ đẹp của những dãy núi cao với khí hậu khắc nghiệt vùng Tây Tạng hay cao nguyên Mông Cổ bát ngát cỏ xanh.

Gần đây nhất, đạo diễn trẻ Lục Xuyên đã thực hiện cành chiến đấu trong bộ phim Nam Kinh Nam Kinh hoàn toàn chân thực, không kỹ xảo. Những cảnh quay rõ nét, hiệu ứng hình ảnh trắng đen và âm thanh trong phim cũng là một trong những yếu tố đánh động cảm xúc người xem. Những cảnh quay hoành tráng đã khiến cho các bộ phim chiến tranh của điện ảnh Hoa ngữ gần đây đều hấp dẫn về mặt hình ảnh và tạo được niềm tin cho khán giả ngay từ những giây phút đầu tiên.

http://www.avistaz.com/wp-content/2008/01/assembly.jpg

Khi điện ảnh chiến trang mang đậm tính chất quảng bá thương hiệu

Những bộ phim chiến tranh hiện nay của điện ảnh Hoa ngữ đều huy động những nguồn kinh phí khổng lồ bằng những phương thức khác nhau. Nhưng chính vì thế, nhà đầu tư và nhà sản xuất đều đặt mục tiêu cao về doanh thu với các bộ phim chiến tranh, việc quảng bá cho bộ phim càng trở nên quan trọng, bắt đầu ngay từ lúc bộ phim ở giai đoạn chuẩn bị. Nhiều bộ phim là kết quả của sự hợp tác giữa nhiều nền điện ảnh lớn, vừa tập hợp nhiều kinh phia, vừa đảm bảo việc mở rộng thị trường phát hành ngay khi bộ phim hoàn tất giai đoạn quay.

Việc chú trọng quảng bá còn thể hiện ở việc hầu hết các bộ phim đều cố gắng tập hợp dàn diễn viên ngôi sao để thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Đầu danh trạng do ba diễn viên hàng đầu của điện ảnh Hoa ngữ là Lý Liên Kiệt, Lưu Đức Hoa, Kim Thành vũ cùng với nữ đạo diễn, nữ diễn viên Từ Tịnh Lôi thủ diễn. Tổng kinh phí của bộ phim lên tời 40 triệu USD huy động đến 15 phó đạo diễn, 6 máy quay phim và hàng nghìn diễn viên quần chúng. Bộ phim đã thành công cả về mặt doanh thu và nghệ thuật khi đạt doanh thu lớn tại Trung Quốc và giành nhiều giải của giải thưởng điện ảnh Hồng Kông năm 2008.

Lệnh tập kết có  sự tham gia của đông đảo các diễn viên “thực lực” như Trương Hàm Dư, Liêu Phàm, Đặng Siêu, Vương Bảo Cường, Nhậm Tuyền… Lệnh tập kết tiêu tốn 80 triệu đô la Hồng Kông và được hai hãng Huayi Brothers Media & Co. Ltd và hãng Media Asia Films hợp tác sản xuất. Bộ phim đã được công chúng đón nhận, t rở thành bộ phim có doanh thu cao thứ nhì Đại lục năm 2007, tiếp tục được chào đón tại Anh, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản…

Đặc biệt là phim Binh Pháp Mặc Công có sự tham gia của một trong tứ đại thiên vương của điện ảnh Hồng Kông – nam tài tử Lưu Đức Hoa, mỹ nữ đình đám Phạm Băng Băng, thần tượng  Ngô Kỳ Long của Đài Loan, ca sĩ nhạc Pop Choi Shi Won cùng ông hoàng điện ảnh Ahn Sung Kee đến từ Hàn Quốc. Không công bố rõ khoản đầu tư nhưng bộ phim chắc chắn xếp vào hàng triệu đô của điện ảnh Châu Á, là kết quả hợp tác của các hãng truyền thông lớn của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Chắc chắn, xu hướng “bom tấn hóa” các bộ phim chiến tranh sẽ vẫn còn tiếp tục trong tương lai.

http://www.kilikulu.com/wp-content/uploads/2009/01/red-cliff1.jpg

Thay lời kết

Đang có một cuộc kêu gọi thay đổi tư duy cho cả nền điện ảnh Hoa ngữ.  Dường như các nhà làm phim Hoa ngữ đang rơi vào thế bế tắc bởi một loạt những bộ phim có kinh phí lớn của những đạo diễn tên tuổi, quy tụ dàn sao đình đám không đạt những giải thưởng uy tín ở các liên hoan phim khu vực và quốc tế. Điều đó cũng không là ngoại lệ với những  bộ phim chiến tranh đầu tư chu đáo về mọi mặt nhưng không gây được tiếng vang như mong muốn, nhất là với những phim chiến tranh bom tấn như Vô Cực, Tam quốc chí – Rồng tái sinh, Xích bích…Hiện nay, một loạt những dự án phim chiến tranh tiếp tục được triển khai với những phong cách khác nhau. Đạo diễn kỳ cựu Trương Nghệ Mưu đang triển khai Kim Lăng thập tam thoa lấy bối cảnh về cuộc đại thảm sát ở Nam Kinh, nơi 13 liệt nữ đã hy sinh thân mình để bảo vệ đồng bào. Ngô Vũ Sâm cũng đang vất vả kêu gọi đầu tư cho việc triển khai 1949, câu chuyện tình yêu trong bối cảnh chiến tranh với sự tham gia của đối tác Hàn Quốc. Hi vọng trong tương lai, điện ảnh Hoa ngữ sẽ tiếp tục góp vào điện ảnh thế giới những bộ phim chiến tranh sâu sắc về nội dung, độc đáo trong cách thể hiện và được ghi nhận bằng những giải thưởng lớn.

 
1 Comment

Posted by on 18/08/2009 in Features

 

Phim độc lập Hàn Quốc – Một năm không tưởng!

Câu chuyện được bàn tán nhiều nhất của điện ảnh xứ Hàn trong nửa đầu 2009? Không phải Thirst của Park Chan-wook tại Cannes, lại càng chẳng phải bộ phim thảm họa Haeundae hái ra tiền. Mà đó là thành công bất ngờ tới mức không tưởng của bộ phim độc lập thuộc thể loại tài liệu Old Partner có kinh phí chỉ hơn 130,000 USD của đạo diễn Lee Chung-ryoul.

Bởi bộ phim đã phá vỡ mọi kỷ lục bán vé từ trước tới giờ của phim độc lập tại Hàn Quốc, khi bán được hơn 2,9 triệu vé (gấp 300 lần… kỷ lục trước 90,000 vé của Old School cho một phim Hàn Quốc hồi 2006 và gấp 10 lần kỷ lục 200,000 vé của Once hồi 2008). Tính tới đầu tháng 8, bộ phim từng giành giải thưởng phim tài liệu xuất sắc nhất tại LHP Pusan năm ngoái này đang là bộ phim ăn khách thứ 5 tại Hàn Quốc trong năm 2009, đứng trên cả Thirst của Park Chan-wook và được giới truyền thông trong nước gán cho biệt danh mỹ miều “Hội chứng Old Partner!” Old Partner, có tựa gốc tiếng Hàn là Wonang Sori (tạm dịch: Tiếng lạc bò), kể về hành trình cuộc đời của một người nông dân lớn tuổi tên Choi cùng chú bò của ông. Trải qua rất nhiều năm làm người đồng hành của Choi, tới một ngày chú bò mắc bệnh và chỉ còn sống được thêm một năm nữa. Đây cũng là bộ phim đầu tiên của Hàn Quốc từng tham gia một hạng mục tranh giải tại LHP Sundance của Mỹ.

Một cảnh trong Old Partner

Một cảnh trong Old Partner

Bên cạnh Old Partner, hàng loạt các bộ phim độc lập Hàn Quốc khác cũng ra rạp trong năm nay: Daytime Drinking kể về một người đàn ông trở nên nghiện rượu sau khi bị bạn gái bỏ rơi ra mắt hồi tháng 2, thu hút 25,000 khán giả; Grandmother’s Flower xoay quanh chính cuộc đời của đạo diễn Moon Jeong-hyeon vào tháng 3, được giới phê bình hết sức tưởng thưởng; Breathless của Yang Ik-joon vào tháng 4, bán được hơn 120,000 vé sau khi được các liên hoan phim tại châu Âu, từ Rotterdam, qua Deauville rồi Barcelona trao giải phim xuất sắc nhất. Cùng thời điểm với Breathless, còn có thể kể tới To Live – Save Our Saemankum, bộ phim tài liệu kể về cuộc sống của những cư dân tại vùng biển Saemankum sau khi chính phủ quyết định lấp đất biến nơi đây thành khu đê biển khiến cho môi trường sống của hơn 400,000 sinh vật di trú ở đây bị tổn hại. Tất cả các tác phẩm này bỗng biến phim độc lập trở thành một đề tài điện ảnh nóng sốt tại xứ kim chi. Chưa bao giờ phim độc lập Hàn Quốc lại được đông đảo độc giả đón chờ tới vậy. Thậm chí, người ta còn thấy được cảnh nhiều người ngoài 50 tuổi… cưỡi cả xe gia súc để tới rạp xem Old Partner!

Sự thành công của phim độc lập tại Hàn Quốc hoàn toàn có thể lý giải được qua một sự hậu thuẫn không nhỏ mà Hội đồng phim Hàn Quốc (KOFIC) ưu ái dành cho dòng phim này kể từ cuối thập niên 90. Mọi chuyện bắt đầu từ năm 1999, cũng là năm KOFIC được sáng lập nên. Một chương trình hỗ trợ phim độc lập có tên Chương trình sản xuất phim độc lập, với sự hỗ trợ của Hiệp hội phim độc lập Hàn Quốc, được thiết lập. Tới năm 2005, từ một dự án này, hàng loạt các dự án khác như Chương trình hỗ trợ phân phối và sản xuất DVD cho phim độc lập, Chương trình hỗ trợ Marketing… tiếp tục được lập nên. Tất cả tạo nên những hiệu ứng hết sức tích cực cho việc phát triển phim độc lập tại Hàn Quốc. Một rạp chiếu phim mang tên Không gian Độc Lập (Indie Space) được dựng nên từ tháng 11 năm 2007, chỉ để chuyên chiếu phim độc lập hàng ngày. Dẫu chỉ có duy nhất một phòng chiếu nhưng đối với các nhà làm phim, Không gian Độc Lập là nơi giúp cho họ tin tưởng vào đầu ra cho tác phẩm. Còn đối với các nhà phân phối phim, đó là nơi để họ kiểm tra phản ứng của khán giả trước khi có những kế hoạch phân phối mở rộng.

Một nhân tố khác không thể không nhắc tới là mối quan hệ khăng khít giữa các LHP độc lập tại Hàn Quốc và các LHP quốc tế. Có rất nhiều các LHP độc lập được tổ chức hàng năm tại Hàn Quốc. Sau khi ra mắt tại các LHP này, các tác phẩm tiêu biểu sẽ tìm đường tới với các LHP lớn hơn trong nước như Pusan hay Jeonju rồi xa hơn nữa là các LHP quốc tế. Trường hợp tiêu biểu nhất thuộc về Daytime Drinking, có màn ra mắt tại LHP độc lập Seoul, rồi giành giải thưởng tại LHP Jeonju và cuối cùng được mời tới LHP Toronto và LHP Locarno.

Milky Way Liberation Front - một phim độc lập xuất sắc của Hàn Quốc trong năm 2007

Milky Way Liberation Front - một phim độc lập xuất sắc của Hàn Quốc trong năm 2007

Trước năm 2005, phần lớn khán giả Hàn Quốc đều mang trong mình một định kiến rằng phim độc lập là các bộ phim tài liệu mang trong đó một ý nghĩa chính trị, hay cổ vũ nhà nước nào đó. Nhưng sau những sự xuất hiện của The Unforgiven (bộ phim kể về một chàng trai gia nhập quân ngũ), No Regret (một câu chuyện về đề tài đồng tính) hay Action Boys (một bộ phim hành động ấn tượng về nghề diễn viên đóng thế), định kiến đó đã và đang dần được xóa mờ đi. Và không thể phủ nhận rằng, cho tới nay tại Hàn Quốc, vào thời điểm hiện tại đang có một số lượng khán giả nhất định đối với phim độc lập và nó vẫn đang được mở rộng.

Tuy nhiên, cuộc sống không phải lúc nào cũng là màu hồng. Vẫn còn rất nhiều khó khăn phía trước đón đợi các nhà làm phim độc lập Hàn Quốc. Không phải bộ phim nào cũng có thể thành công như Old Partner hay thậm chí là chỉ cần ra rạp. Vẫn có quá ít các phòng chiếu đảm bảo và chỉ dành riêng cho phim độc lập (chỉ có 10 trong số hơn… 2000 phòng chiếu trên toàn Hàn Quốc); vẫn chưa có một chương trình TV hay chương trình truyền hình cáp nào dành riêng trong phim độc lập để đảm bảo tối đa cho đầu ra của tác phẩm. Một vài chương trình hỗ trợ phim độc lập đã bị hủy bỏ và hiện KOFIC đang bắt đầu phải tìm nguồn tài trợ từ các tổ chức phim độc lập quốc tế.

Có thể khẳng định chiến thắng của Old Partner cùng các bộ phim độc lập khác tại Hàn Quốc trong nửa đầu 2009 vẫn chỉ là một điều gì đó tạm thời. Dẫu có bao nhiêu chương trình hỗ trợ đi chăng nữa, cái gốc của thành công vẫn nằm ở chính bộ phim và người đạo diễn. Nếu vẫn giữ được một tinh thần độc lập như ở thời điểm hiện tại, hẳn thành công cho các nhà làm phim độc lập Hàn Quốc sẽ vẫn còn có thể tiếp diễn.

Một vài phim độc lập Hàn Quốc đáng chú ý trong vài năm vừa qua

-Ad-Lib Night (2006 – đạo diễn Lee Yoon-ki): một đêm kỳ lạ của cô gái trẻ tuổi ngoài 20 Bo-kyung khi cô được nhờ đóng giả người con gái mất tích cho một gia đình có người bố già yếu sắp qua đời. Tác phẩm dài thứ 3 của đạo diễn Lee Yoon-ki được thực hiện với máy quay DV trong vòng 10 ngày.

-No Regret (2006 – đạo diễn Lee Song-hae-il): bộ phim tình cảm có chủ đề đồng tính xoay quanh hai chàng trai có những khoảng cách nhất định trong xã hội. Một “Happy Together” của Hàn Quốc.

-With a Girl of Black Soil (2007 – đạo diễn Jeon Soo-il): cô bé 9 tuổi Young-lim sống cùng cậu anh trai 11 tuổi bị ngớ ngẩn và người cha bị bệnh phổi do làm việc dưới hầm mỏ lâu năm. Khi ngôi nhà họ sống đang chuẩn bị bị phá sập, người cha ngày càng trở nên tuyệt vọng, Young-lim buộc phải đưa ra những quyết định không-phải-ai-cũng-dám-làm.

-Milky Way Liberation Front (2007 – đạo diễn Yoon Seong-ho): đạo diễn trẻ Young-jae gặp bế tắc trong khâu viết kịch bản đúng lúc bị bạn gái bỏ rơi còn LHP Pusan thì đang tới gần. Một bộ phim kỳ lạ về nghề làm phim mang trong đó cả yếu tố tình cảm lẫn hài hước.

-Breathless (2008 – đạo diễn Yang Ik-joon): bộ phim xoay quanh Sang-hoon, một người bị ám ảnh vì bạo lực sau cái chết của mẹ và chị gái lúc còn nhỏ. Một mình Yang Ik-joon đảm nhận cả vai trò đạo diễn, diễn viên, kịch bản lẫn biên kịch.


Bài đăng trên Thể thao Văn hóa cuối tuần
ra ngày 07/08/2009

 
1 Comment

Posted by on 10/08/2009 in Features

 

Giấc mơ Nova

Ở Melbourne, cách trường tôi học chừng năm phút đi bộ, có một rạp chiếu bóng chuyên chiếu phim nghệ thuật, tên gọi Cinema Nova. Với mười một phòng chiếu, vào thời điểm bất kỳ, khán giả đến đây có thể chọn cho mình một phim arthouse ưng ý trong số bảy tám đầu phim đang ra rạp. Quay về Việt Nam, tôi vẫn thường xuyên vào website của Nova để xem bên ấy đang chiếu phim gì. Đôi khi trong tôi nhói lên một niềm ghen tị, cùng với một câu hỏi: Bao giờ đến lượt Việt Nam?

Câu hỏi này, có lẽ không chỉ mình tôi mới có. Đó có lẽ là câu hỏi chung của nhiều người yêu phim mấy năm gần đây, khi chứng kiến những đổi thay mạnh mẽ trên thị trường điện ảnh nước nhà. Và nó lại dẫn ta đến với cái quy luật muôn đời của cung & cầu, được thể hiện bằng hai câu hỏi khác: Ai chiếu? Chiếu cho ai?

Chiếu cho ai?

Thành công của mô hình cineplex (cụm rạp chiếu bóng liên hoàn) tại Việt Nam ba năm qua là một hiện tượng không khó lý giải: cầu về phim ở Việt Nam rất lớn, và sự ra đời của các cineplex đã thỏa mãn cơn khát ấy. Nhưng điều này hình như chỉ đúng với dòng phim giải trí mà Hollywood, với những X-menTransformers, là đại diện. Ba bộ phim nghệ thuật hiếm hoi được nhập về mấy năm vừa qua (Đông Tà Tây Độc, Thiết tam giác, The Fountain) chỉ như ba hòn đá ném xuống ao bèo, nếu không muốn nói là thất bại thảm hại. Bởi thế cho nên, câu hỏi “Chiếu cho ai?” đối với phim nghệ thuật không hề dễ trả lời.

Lẽ tự nhiên, để xem phim nghệ thuật, người xem phải đạt đến một trình độ thẩm mỹ nhất định. Mà nhất định lại là một khái niệm rất khó định lượng. Chẳng phim nào yêu cầu khán giả phải tốt nghiệp đại học mới xem được. Và bằng cấp chắc gì đã là cơ sở đáng tin cậy về khả năng cảm thụ nghệ thuật? Nhưng tất nhiên, khán giả phải có một vốn hiểu biết nào đó. Đáng tiếc là con số khán giả có cái nào đó ấy không nhiều. Nhưng đó lại là vấn đề chung của nhiều lĩnh vực nghệ thuật, từ âm nhạc, sân khấu đến văn học, chứ không riêng gì phim arthouse, và là cả một câu chuyện dài về giáo dục nằm ngoài phạm vi bài viết này. Thừa nhận thực tế ấy, và tạm gác nó sang bên, ta lại đối diện với một câu hỏi khác: trong số khán giả có cái nào đó ấy, có bao nhiêu người muốn xem phim nghệ thuật?

Brochure mùa phim hè của Nova

Brochure mùa phim hè của Nova

Phim nghệ thuật không nhất thiết phải khó xem – Amélie của Jeunet hay Hoa dạng niên hoa của Vương Gia Vệ vẫn mê hoặc khán giả đấy thôi? Nhưng rõ ràng, phim nghệ thuật khác phim giải trí ở chỗ, nó buộc khán giả phải suy nghĩ, phải trăn trở (tất nhiên, có những phim yếu tố nghệ thuật và giải trí hòa trộn vào nhau không thể phân biệt rạch ròi). Hơn nữa, phim nghệ thuật là một món phải ăn quen mới thấy ngon – không chỉ kiến thức, nó đòi hỏi cả sự rèn luyện. Xã hội có thể không thiếu người có trình độ, vấn đề là bao nhiêu người sẵn sàng dành thời gian, tiền bạc, và công sức cho một thứ buộc họ phải động não, thậm chí ám ảnh, day dứt? Cuộc sống hiện đại đầy rẫy áp lực, và đa số sẽ nói: Tôi mệt mỏi đủ rồi. Tôi muốn giải trí. Tôi muốn cười, tôi không muốn nghĩ. Một điều hoàn toàn hợp lý. Nào đó chỉ là điều kiện cần, muốn xem mới là điều kiện đủ.

Vậy, sau cùng, khán giả của phim nghệ thuật ở Việt Nam là ai? Dĩ nhiên, đầu tiên phải kể đến những người làm/học về điện ảnh (với giả định là mọi người làm/học về điện ảnh đều có sự quan tâm tương xứng tới phim nghệ thuật). Đối tượng thứ hai là người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam: tại những buổi chiếu phim do Viện Goethe, L’Espace, hay Hội đồng Anh tổ chức, một bộ phận không nhỏ là khán giả nước ngoài. Phim nghệ thuật vốn không xa lạ với khán giả phương Tây, và ở Việt Nam những buổi chiếu này là cơ hội hiếm hoi cho họ thỏa mãn nhu cầu thưởng thức. Đối tượng thứ ba, đáng chú ý nhất và có tiềm năng phát triển nhất, là những khán giả trẻ thực sự đam mê điện ảnh. Họ là thế hệ người Việt đầu tiên có may mắn được tiếp xúc với điện ảnh thế giới một cách toàn diện. Họ là những người được xem Last Tango in Paris ở Fansland và có dịp thưởng thức Chiến hạm Potemkin trên nền nhạc sống. Trớ trêu thay, hai kênh thông tin chính giúp họ tiếp xúc với phim nghệ thuật lại đều là bất hợp pháp: Internet và băng đĩa lậu. Ví như không có Internet, không có đĩa Tàu, hẳn còn lâu lắm nữa khán giả Việt Nam mới biết đến Godard, Fellini, Kurosawa, Hầu Hiếu Hiền, và rất nhiều tên tuổi khác.

Cộng cả ba đối tượng nói trên lại, thị trường phim nghệ thuật ở Việt Nam vẫn rất nhỏ bé, khó lòng đảm bảo cho một rạp chiếu phim như Nova sống tốt, sống khỏe. Sự ghẻ lạnh của khán giả với Đông Tà Tây Độc, với The Fountain là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó. Trong hoàn cảnh ấy, câu hỏi còn lại, “Ai chiếu?”, có lẽ còn khó trả lời hơn rất nhiều.

Ai chiếu?

Có một điều chắc chắn: không phải những nhà nhập khẩu phim hiện nay. Khi thị trường phim giải trí đầy tiềm năng vẫn chưa được khai thác hết – Hà Nội mới chỉ có duy nhất một cineplex và đang rất quá tải; Huế thậm chí còn chưa có cụm rạp tiêu chuẩn quốc tế nào – họ khó có thể mạo hiểm bước vào một thị trường hẹp và đầy rủi ro như thế. Thất bại của Đông Tà Tây ĐộcThe Fountain đã là quá đủ. Có lẽ chính các nhà nhập khẩu khi đó cũng không biết đây là phim nghệ thuật. Đông Tà Tây Độc được nhập về nhiều khả năng là vì tiếng tăm của dàn sao tham gia nó, và vì thể loại kiếm hiệp vốn hấp dẫn khán giả Việt Nam. Người ta kỳ vọng nó sẽ là một Anh hùng hay Thập diện mai phục khác, chứ không ngờ rằng nó là một phim thuần arthouse và rất Vương Gia Vệ.

Ở thời điểm hiện tại, những tổ chức văn hóa như Viện Goethe, British Council, và L’Espace có lẽ là nguồn phim nghệ thuật chính thức duy nhất ở Việt Nam. Ngoài ra còn có những chương trình giao lưu văn hóa như LHP ASEM, Tuần phim châu Âu, v.v… Những sự kiện này tuy rất giá trị nhưng chỉ mang tính mùa vụ, không thể là nguồn cung cấp phim thường xuyên, đều đặn cho khán giả. Cuối 2008, khi Viện Goethe giới thiệu đạo diễn người Đức gốc Thổ Fatih Akin, mỗi phim chỉ có hai ba suất chiếu. Nghĩa là chỉ có chừng ba trăm khán giả có may mắn được xem Edge of Heaven hay Head on ở Hà Nội, và chừng ấy nữa ở Sài Gòn. Một con số quá ít ỏi, nếu so với lượng khán giả trung bình của một bộ phim giải trí ngoài rạp.

Nói đi nói lại, câu hỏi của người viết có lẽ vẫn là: bao giờ Việt Nam có một Nova? Hà Nội từng có một Fansland. Giờ thì có Cinemathèque (22A Hai Bà Trưng), hoạt động từ 2004 dưới hình thức câu lạc bộ phi lợi nhuận. Nhưng 89 ghế là quá ít cho một thành phố sáu triệu dân, và mô hình của Cinemathèque tồn tại thì được song muốn mở rộng thì có lẽ không khả thi. Nói cho cùng, để phát triển mô hình chiếu phim nghệ thuật, không thể thiếu sự tham gia của nhà nước cũng như các tổ chức xã hội. Khi khả năng thu lợi nhuận không cao, nguồn tài trợ của chính phủ và các Mạnh Thường Quân là một nhân tố quan trọng giúp các rạp chiếu phim arthouse tồn tại và phát triển. Hơn nữa, trong điều kiện Việt Nam, nhân tố nhà nước là sự bảo đảm pháp lý cần thiết cho hoạt động của rạp. Vì, khác với phim giải trí, phim nghệ thuật luôn tiềm ẩn những sự nhạy cảm nhất định cả về đề tài lẫn nội dung.

Một hướng đi khác, dễ triển khai hơn và ít tốn kém hơn, là một chương trình giới thiệu phim nghệ thuật trên truyền hình. Cách đây vài năm, VTV2 đã từng có một chương trình tương tự dành cho phim kinh điển, nhưng cuối cùng không rõ vì lý do gì đã ngừng phát sóng. Khán giả Việt Nam bây giờ đã no nê với phim Mỹ qua những kênh truyền hình cáp như Star Movies, HBO, Cinemax. Cái mà họ thiếu là phim của những nền điện ảnh khác, như Tây Ban Nha, Ý, Israel, hay Thổ Nhĩ Kỳ. Cái mà họ thiếu là một thế giới quan phi-Hollywood chỉ có ở những bộ phim như Children of Heaven (Iran) hay The Band’s Visit (Ai Cập). Truyền hình chính là kênh rộng nhất và nhanh nhất đưa chúng đến với khán giả. Đấy là chưa kể, bản quyền truyền hình chắc chắn sẽ rẻ hơn nhiều so với phim Hollywood.

Nhưng, nói cho cùng, cái chúng ta đang thiếu có lẽ không phải là tiền. Tiền nhà nước cho điện ảnh ở ta hình như chưa bao giờ thiếu – cứ nhìn những dự án hàng trăm tỷ như phim Lý Công Uẩn là biết. Cái chúng ta đang thiếu, là một tầm nhìn. Nếu những người chịu trách nhiệm về sự phát triển của điện ảnh Việt Nam thực sự quan tâm tới lĩnh vực này, phim nghệ thuật sẽ có đất sống ở đây. Bằng không, Nova sẽ mãi vẫn chỉ là một giấc mơ.

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa cuối tuần ra ngày 07/08/2009

 
5 Comments

Posted by on 10/08/2009 in Features

 

Ponyo on the Cliff by the Sea – Lần cuối cùng ma thuật của Miyazaki làm mê đắm tâm hồn chúng ta

Một năm trước, khi bộ phim Ponyo on the cliff by the sea của Hayao Miyazaki được chính thức công chiếu tại Nhật Bản, cá nhân tôi đã có dịp được tổng kết lại sự nghiệp của nhà làm phim lão thành này qua một bài viết ngắn (đã đăng trên filmcriticvn.orgđây). Dành cho những ai chưa biết thì, sở dĩ gọi là tổng kết, là vì như chính Hayao Miyazaki đã tuyên bố, Ponyo là bộ phim cuối cùng của ông. Và vì thế, hàng triệu người hâm mộ hoạt hình đã nín thở để chờ đợi xem bài ca tiễn biệt của người khổng lồ đã đứng trên đỉnh cao của hoạt hình Nhật Bản hơn 30 năm này ra sao, một số đã có những thất vọng nho nhỏ, nhưng tất thảy đều hạnh phúc. Với cá nhân tôi, đó còn hơn cả hạnh phúc.

Poster của Ponyo

Sự thật là Ponyo đã thành công rực rỡ về mọi mặt tại quê nhà Nhật Bản. Về tài chính, các con số về doanh thu của Ponyo không hề thua kém với bộ phim kinh điển Spirited Away và tổng cộng đã thu về 15 tỷ Yên (khoảng 131 triệu USD). Về sự đón nhận của công chúng, Studio Ghibli của Miyazaki không có gì phải phàn nàn khi Ponyo được bầu chọn là Phim hoạt hình của năm 2008 tại hội chợ Tokyo Anime Fair và xếp thứ 2 tại danh sách Các sản phẩm thành công trong năm của tập đoàn quảng cáo Dentsu, chỉ sau chiếc máy chơi game Wii. Ponyo được chiếu mở màn cho LHP Venice lần thứ 65 và được giới phê bình tán thưởng nhiệt liệt. Cuối cùng thì Ponyo đã giành 5 giải quan trọng nhất tại giả thưởng Tokyo Anime Awards lần thứ 8, bao gồm Phim hoạt hình của năm, Phim trong nước hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất dành cho nhà làm phim lão thành đã tuyên bố nghỉ hưu Hayao Miyazaki.

Những thông tin trên rất ấn tượng, nhưng có lẽ với bản thân Miyazaki chúng không còn thực sự có ý nghĩa bằng niềm vui mà khán giả có được khi xem Ponyo. Sau một Howl’s moving castle – bộ phim duy nhất với kịch bản không phải do ông sáng tác và vốn được giao cho đạo diễn khác  – phần nào đó gây thất vọng cho những fan kỳ cựu của ông vì bộ phim mà ông buộc phải làm đạo diễn “chữa cháy” đó thiếu hẳn cái chất siêu thực mộng mị của riêng Miyazaki (thế nhưng nó vẫn đủ ấn tượng đến nỗi khiến ông có thêm nhiều fan hâm mộ mới), nhiều người , trong đó có tôi, chờ đợi một bộ phim mà chỉ có Miyazaki mới có thể nghĩ ra, giống như My neighbor Totoro, Porco Rosso , giống như Spirited Away… Và Ponyo là tất cả những gì mà Howl’s moving castle còn thiếu. Đây mới chính là Hayao Miyazaki đích thực ! Thế nhưng vẫn có một số ít người tỏ ra thất vọng, vì sao vậy ?

Họ nhận xét rằng Ponyo quá trẻ con và không có được sự phức tạp như Princess Mononoke, Spirited away, hay thậm chí là Howl’s moving castle, điều đó khiến họ không cho Ponyo điểm tuyệt đối. Thế nhưng, những nhận xét đó chỉ chứng tỏ rằng họ xem phim của Hayao chưa đủ. Sự phức tạp của ông chỉ có trong các chi tiết, còn bản thân cốt truyện lại luôn rất ngắn gọn và giản đơn. Xem phim của Hayao Mizayaki, chúng ta đều sẽ biết trước là sẽ chẳng có kẻ xấu nào và cũng sẽ chẳng có gì đáng sợ sẽ xảy ra với nhân vật chính hết (hãy tạm đặt riêng Princess Mononoke sang một bên, đó là bộ phim duy nhất của ông có – rất ít – cảnh đầu rơi máu chảy). Miyazaki thực chất là một người kể chuyện hết sức tự do, ông luôn biết tạo ra những câu chuyện đẹp một cách phi công thức. “Phát triển tính cách nhân vật” ư ? “Cao trào kịch tính ” ư ? Đó không hẳn là Miyazaki. Ông có sử dụng những lý thuyết kịch bản đó ,nhưng ma thuật là ở chỗ, ông làm cho những điều đó trở nên vô cùng tinh tế, nhẹ nhàng như một cánh hoa. Mỗi câu chuyện có con đường riêng của nó, thật ngốc nghếch khi bắt câu chuyện này phải có cái gì đó giống với câu chuyện kia. Nhất là khi thưởng thức một bộ phim của Miyazaki, theo dõi điều gì xảy ra tiếp theo thường là lại không quan trọng bằng sự chờ đợi xem thế giới mộng ảo mà trí tưởng tượng siêu phàm của ông tạo ra sẽ mở rộng đến đâu. Và theo khía cạnh đó, Ponyo phải là một đỉnh cao, vì sự huyền ảo đầy ma thuật của nó dường như là bất tận.


Phép thuật trong phim của Miyazaki thường là có giới hạn, trong Ponyo thì phép thuật lại có sức mạnh vô biên. Cô bé cá Ponyo muốn thành biến thành người đề sống với cậu bé Sosuke, 5 tuổi, người đã cứu cô; điều đó vô tình tạo ra một sức mạnh ma thuật lớn đến nỗi khiến cả đại dương náo động, những cơn sóng khổng lồ có hình con cá (cá thực sự, chúng biết chớp mắt), kéo cả mặt trăng lại gần trái đất đến nỗi tạo ra thuỷ triều lên cao ngập tràn mặt đất và cũng đẩy thế giới đến sự huỷ diệt. Nhưng thú vị nhất là Ponyo khiến cho cả biển khơi tràn ngập những sinh vật cổ đại từ kỷ Devon, chỉ có những cái đầu như Hayao Miyazaki mới nghĩ ra được cách kết hợp giữa huyền ảo với khoa học mượt mà, đầy thích thú đến thế. Rồi  thì xe hơi chạy giữa những cơn sóng hình cá, một “thành phố” của những con thuyền trôi dạt, những con người bất chợt hiện ra sau cơn thuỷ triều .v.v… có cái gì đó thật  mơ màng, khiến ta tự hỏi liệu có phải các nhân vật đang tưởng tượng ra hay không ? Có thể khẳng định rằng chưa bao giờ Miyazaki lại siêu thực , lại mênh mang đến thế !!!   Thế giới siêu thực đó được thể hiện trên chất liệu màu nước, nhìn thoáng qua dường như Ponyo thiếu sự huy hoàng choáng ngợp về chất lượng mỹ thuật như các bộ phim Ghibli khác vốn vẽ bằng màu dầu, nhưng nếu để ý kỹ chúng ta sẽ thấy rõ phong cách tạo hình rất gần gũi với trẻ em của nó có vẻ đẹp tinh tế riêng. Và quan trọng nhất là vẫn có đây, những chuyển động phức tạp của những vật thể nhỏ nhất, như là một giọt nước chẳng hạn. Điều đó lại càng khiến ta khâm phục hơn khi Ponyo được tập thể các hoạ sĩ Ghibli vẽ hoàn toàn bằng tay theo phương pháp làm phim hoạt hoạ truyền thống, không có bất kỳ một sự trợ giúp nhỏ nào của máy vi tính.

http://www.wired.com/images_blogs/underwire/2009/08/ponyo.jpg

Ponyo sẽ luôn được so sánh với My neighbor Totoro bởi vì cả hai đều được Hayao Miyazaki làm dành cho những khán giả ở lứa tuổi nhỏ nhất.  Tuy nhiên, nếu như My neighbor Totoro là một câu chuyện theo Chủ nghĩa Tối thiểu (Minimalism) thì Ponyo ngược lại, đầy vẻ phóng đại, khoa trương đúng kiểu trẻ thơ. Ở trong đó, thế giới tuyệt đẹp, mọi việc đều diễn ra đúng như ta mong muốn, chỉ có toàn những con người tốt bụng, vui tính, yêu thương trẻ con, ngay cả cô bé Ponyo chỉ vì sự ích kỷ rất trẻ con của mình mà gây ra tai hoạ  lớn cũng chẳng bị người lớn nào trách nặng nửa lời. Bạn sẽ thấy người lớn chúng ta, dẫu không phải là nhân vật trong phim, cũng sẽ làm theo ý đồ đạo diễn của Miyazaki, chúng ta cũng sẽ không trách Ponyo lấy nửa lời đâu. Ngược lại là khác, chúng ta sẽ cám ơn cô bé vì đã cho chúng ta sống lại làm trẻ thơ một lần nữa, trong một giấc mơ tuyệt vời kéo dài 100 phút. Còn đối với những em nhỏ, hẳn các em đã hiểu là cần phải sống yêu thương cha me, bạn bè và mọi người xung quanh, cần phải sống hoà hợp với thiên nhiên , mà chẳng cần ông cụ Hayao phải đứng lên đọc một bài văn luân lý dài dòng. Tất cả là một niềm vui trẻ thơ trong vắt !

Chấm điểm ư? Với một tuyệt tác hoàn hảo như thế này, việc đó thật vô nghĩa.  14 tháng 8 tới đây, Ponyo sẽ được công chiếu tại Bắc Mỹ, đây sẽ là môt ứng cử viên sáng giá cho giải Oscar 2009. Chúc bộ phim đạt thêm nhiều thành công  và ước gì Hayao Miyazaki sẽ tiếp tục làm thêm nhiều bộ phim tuyệt vời khác nữa !

 
15 Comments

Posted by on 05/08/2009 in Reviews

 

Tags:

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers