
Hirokazu Koreeda trở thành đạo diễn Nhật Bản nổi tiếng nổi tiếng khắp thế giới với Nobody knows – tác phẩm mang lại cho ông đề cử cành cọ vàng và giải thưởng nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại liên hoan phim Cannes cho cậu bé mười bốn tuổi Yūya Yagira. Tuy nhiên, bốn năm sau đó chính Cannes đã từ chối bộ phim truyện của ông Still Walking. Lời từ chối của Cannes có thể khiến nhiều người đánh giá bộ phim như bước lùi của Hirokazu Koreeda. Nhưng, không phải vậy, giải thưởng điện ảnh danh giá đôi khi chỉ là một danh hiệu, một tấm áo đẹp khoác lên mỗi tác phẩm, không cần một đề cử tại Cannes, Still walking của Hirokazu vẫn mang lại cho mọi khán giả những xúc cảm trái chiều mà không phải tác phẩm điện ảnh nào cũng làm được.
Still Walking đưa người xem theo chân Ryota Yokoyama – một người làm nghề phục chế tác phẩm hội họa – về với quê nhà ở khu dân cư thanh bình ngay cạnh biển. Anh mang theo người vợ Yukari và đứa con riêng của cô về nhà họp mặt để tưởng nhớ người anh đã qua đời mười lăm năm trước trong khi nhảy xuống biển cứu bạn. Ký ức và nỗi đau về đứa con đã chết vẫn đè nặng lên trái tim cha mẹ Ryota, họ không ngừng so sánh người đã khuất với người còn sống và không dấu diếm nỗi uất ức đầy bế tắc về chuyện buồn xảy ra với con trai họ. Thời gian hơn một ngày trong ngôi nhà gỗ đối với Ryota và vợ con anh vừa là gánh nặng, vừa là những giây phút đầu tiên họ thấu hiểu rõ nhất về tấm lòng cha mẹ và vòng quay tuần hòan của cuộc đời.

Cũng giống như đa số phim của Hirokazu Koreeda, Still walking khước từ thế giới rộng lớn và hướng tới không gian nhỏ bé của một căn nhà, một gia đình. Trong phim, người ta thấy lại căn nhà của Nhật Bản truyền thống với những cánh cửa gỗ, một phòng khách nho nhỏ hướng ra vườn, vòng hương xua muỗi đêm hè và căn bếp cũ… Bối cảnh căn nhà cũ kỹ được lựa chọn cho phim vừa là ẩn dụ cho những nỗi đau khổ đã và đang đè nặng lên trái tim của cha mẹ Ryota, vừa như chiếc ngăn kéo giản dị lưu giữ lại những ký ức tươi đẹp về một gia đình từng đầm ấm và đông đủ. Mái nhà cũ kỹ từ chối thay đổi cùng thời gian, cũng như những thói quen của người cha và người mẹ. Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh đó tưởng chừng như một bài ca buồn tẻ lặp đi lặp lại: người cha già vốn từng là một bác sỹ lặng lẽ lẩn tránh những đứa con, người mẹ liên tục nhắc lại những kỷ niệm về đứa con quá cố, Ryota đang thấy mình bị đày ải… Thế nhưng, giữa cảm giác u buồn nặng nề mà đạo diễn đã cố tình để cho khán giả bị lây lan từ nhân vật đó bỗng có những chi tiết khiến người ta thấy được sự chuyển động của cuộc đời: một người giao hàng khiêm tốn vốn từng là đứa trẻ hư hỏng xuất hiện, người bạn đã đổi mạng cho con trai họ khi xưa đã tìm thấy việc làm sau nhiều ngày lận đận… Ngay cả người chị gái của Ryota cũng đã xoay xở để vượt qua nỗi đau khổ của gia đình, tìm được cuộc sống hạnh phúc. Và rồi chính Ryota cũng ra đi, để lại cha mẹ và mái nhà xưa cũ. Những chi tiết xáo trộn dù bé nhỏ hay lớn lao trong quãng thời gian ngắn ngủ Ryota ngụ lại nhà đều cho thấy sự tinh tế của đạo diễn khi kín đáo thể hiện ngụ ý về một cuộc sống vẫn tiếp tục chảy trôi, những điều cũ qua đi, những điều mới rồi lại trở thành xưa cũ, và đó chính là lý lẽ của cuộc đời.
Tác phẩm của Hirokazu Koreeda gợi nhắc lại cho người xem bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Yasujiro Ozu Tokyo Story. Cũng là câu chuyện về họp mặt gia đình, nhưng Ozu để cho bố mẹ lên Tokyo gặp con để thấy những đổi thay còn Koreeda đưa những đứa con trở về nhà và nhận thấy mọi điều ở đó dường như không có gì thay đổi. Bộ phim của Koreeda là một sự hoán vị đảo ngược so với tác phẩm kinh điển của Ozu. Người mẹ trong phim của Ozu chấp nhận sự thật về cái chết của một người con trai trong chiến tranh và khuyến khích cô con dâu tái giá, trong khi đó người mẹ trong Still Walking lại cương quyết giữ chặt lấy nỗi đớn đau về đứa con đã qua đời. Sự dịu ngọt, đầm ấm trong bộ phim kinh điển của Yasujiro Ozu được thay thế bằng cảm giác bất lực, chua xót và có phần nghiệt ngã.
Cảm xúc từ Still Walking tô đậm dấu ấn phong cách của Hirokazu Koreeda bởi đây không phải là lần đầu tiên xây dựng một câu chuyện cay đắng về gia đình. Tác phẩm mang lại danh tiếng cho ông Nobody Knows đã từng kể lại cuộc sống đói nghèo và bơ vơ giữa Tokyo giàu có của bốn đứa trẻ bị người mẹ vô tâm bỏ mặc. Bộ phim từng được đề cử cành cọ vàng này không dấu diếm cái nhìn đầy chua xót về một nền tảng gia đình và sự bao bọc lẫn nhau đã bị phá vỡ hoàn toàn bởi những nhu cầu cá thể và sự ích kỷ của mỗi con người. So sánh với bộ phim trước, người ta lại nhận thấy rằng thực chất Still Walking là một sự thay đổi tích cực trong quan niệm của đạo diễn. Bởi lẽ, dù từng nhân vật trong bộ phim đều phải đối mặt với áp lực và cảm giác gượng gạo, bất an nhưng tình cảm gia đình vẫn bàng bạc bao phủ lên toàn bộ câu chuyện. Những hành động đôi khi là cay nghiệt của người mẹ, sự thờ ơ và trốn tránh của người cha và cảm giác lạc lõng của đứa con riêng của Yukari được bù đắp những lời truyện trò, san sẻ khi họ được đối diện từng người một với nhau và được thể hiện nỗi lòng sâu xa nhất của mình. Dù cả hai bộ phim đều có những chi tiết nói về nỗi cô đơn của từng thành viên trong gia đình, nhưng Still Walking không nhấn mạnh sự đổ vỡ của những giấc mơ hạnh phúc như Nobody Knows, thay vào đó, Koreeda đưa người xem lên chuyến xe bus đi tới sự thay đổi và quá khứ trở thành cánh bướm vàng mỏng manh bay về.
Để thể hiện ý tưởng cho Still Walking, Koreeda một lần nữa tiếp tục thể hiện cách làm phim chậm rãi, giản dị và khác biệt vốn đã trở thành đặc trưng của ông, thể hiện thống nhất từ các tác phẩm đầu tay, qua bộ phim nổi tiếng nhất Nobody Knows và tiếp tục với các tác phẩm sau đó.
Still Walking được thực hiện với đa số là cảnh quay nội với cỡ hình trung và cận cảnh tạo cảm giác ngột ngạt nặng nề và bỗng bất chợt, chỉ một đôi lúc – không gian được mở tung ra trên con đường, trên bờ biển để rồi lại quay về những căn phòng chật chội đó. Mọi nhân vật tồn tại trong một bối cảnh nhỏ hẹp như vậy, họ vẫn cố để không va chạm vào nhau nhưng rồi nhanh chóng nhận ra đó là điều không thể. Họ ở đó, mỗi người đeo đuổi một nỗi niềm riêng, lảng tránh nhau nhưng sự chật hẹp buộc họ phải giao tiếp và cởi mở tấm lòng mình để tới cuối bộ phim – khoảng cách giữa con người được co hẹp lại, cho dù những đứa con đã rời đi. Cuối cùng, hai nhân vật cha và mẹ cũng đã xuất hiện cùng nhau trong một không gian ngoại, toàn cảnh khi họ bước lên những bậc thang đá rêu phong và cùng nói về những ký ức tươi đẹp nhất. Sự dịch chuyển của không gian và sự mở rộng cỡ hình mang lại xúc cảm của hi vọng và sự ấm áp dù mong manh nhưng hiện hữu.
Ánh sáng trong phim cũng mang ý nghĩa ẩn dụ khi Hirokazu Koreeda cố tình tạo nên sự tương phản giữa ánh sáng bên ngoài và bên trong ngôi nhà. Cùng một màu sắc đơn giản kết hợp giữa nâu, xanh và xám, nhưng với không gian ngoại cảnh, những khuôn hình tràn ngập ánh sáng toát lên cảm giác trong sáng, rộng mở và đầy hi vọng, trong khi đó không gian bên trong căn nhà dường như luôn thiếu sáng, luôn như đang cầu viện một cánh cửa nào đó mở toang để nó được rộng thêm, rộng hơn nữa. Chính vì vậy, sự gia tăng của các cảnh quay ngoại và không gian phủ đầy ánh sáng khi phim đi tới những phút cuối cùng mang lại cảm giác của hi vọng và bình yên, dù cái kết của phim không hẳn là một dấu chấm trọn vẹn.
Still Walking đồng thời có thêm một yếu tố nghệ thuật gợi nhắc về đạo diễn tiền bối Yasujiro Ozu: góc quay thấp và khuôn hình tĩnh. Khi Ozu sáng tạo nên nghệ thuật quay này, ông đã thực sự đưa điện ảnh từ Âu Mỹ về với Nhật Bản, góc quay tương đương với tầm mắt của người Nhật đang ngồi quỳ và sự yên tĩnh tuyệt đối của máy quay như cảm giác yên ả của những khu vườn truyền thống. Giờ đây, Koreeda sử dụng lại phong cách đó như hoài niệm về những ngày đã qua nhưng cũng để đối lập giữa vẻ ngoài yên tĩnh của một ngôi nhà đã cũ kỹ và thế giới nội tâm đầy đớn đau và dậy sóng của những nhân vật. Cách quay phim này được sử dụng triệt để khi các nhân vật ngồi lại cạnh nhau, trước chiếc bàn thấp và trên lớp chiếu tatami quen thuộc, đó là cách đạo diễn nhân vật trở về với cuộc sống truyền thống và một hình ảnh gia đình mẫu mực, bất kể sự xung quanh chiếc bàn đó, mỗi con người đều ôm ấp nỗi niềm riêng và không mong chờ được cảm thông.
Tác phẩm của Koreeda kết thúc bằng một cảnh quay như lặp lại sự kiện cũ. Ryota lại đưa vợ con anh trở về quê – khi cha mẹ anh đã qua đời, và họ đứng trước mộ, làm lại những nghi thức mà người mẹ trước đây đã làm với nấm mộ của người con trai đoản mệnh. Không còn mái nhà xưa chật hẹp, không gian trong cảnh cuối phim là thế giới bên ngoài được mở rộng tới mức tối đa, cả bầu trời, bờ biển, khu dân cư và cả nghĩa địa nơi những người đã chết yên nghỉ. Cậu bé ngày xưa đã lớn lên, một đứa trẻ khác đã ra đời và chúng lại nhìn thấy con bướm vàng như biểu tượng của linh hồn người thân quay trở lại. Các nhân vật đi xuống con đường vòng như ẩn dụ cho vòng quay cuộc đời sẽ tiếp tục, sẽ thay đổi và sẽ lặp lại. Bộ phim của Koreeda khép lại nhưng mở ra, bởi những mái nhà bảo bọc cho các gia đình vẫn êm đềm bên bờ biển dậy sóng và cuộc sống kia vẫn tiếp tục chảy trôi.
(Bài đã đăng trên báo SVVN, bản này đầy đủ hơn bản đã được đăng).

Fan of Moonie
17/11/2009 at 4:36 PM
Vỗ tay, vỗ tay!
Fan of Fan of Moonie
18/11/2009 at 10:41 PM
Hoan hô hoan hô hoan hô
VWC
18/11/2009 at 12:59 AM
Bài hay quá. Cảm ơn Moonie Mun.
Still Walking thực sự là một bộ phim thiền, sâu sắc và gợi suy nghĩ vô cùng trong cái vỏ ngoài chậm rãi và giản dị.
hhnd2002
21/02/2011 at 9:23 AM
Rất vui khi đọc được bài viết về Koreeda trên filmcriticvn ^^ Koreeda là đạo diễn mà mình hâm mộ nhất, đề tài và cách quay có phần giống Ozu, nhưng cảm xúc của mình khi xem phim của Koreeda còn có phần mãnh liệt hơn khi xem phim của Ozu vì mình cảm thấy Koreeda đặt vào nhân vật của ông rất nhiều tình cảm. Dù là anh con không làm nên được sự nghiệp lớn Ryota, ông bố ra vẻ thích nhạc cổ điển để ra dáng “bác sĩ”, bà mẹ chẳng nói gì nhưng biết hết tất cả, tới thằng bé con của cô vợ mới cưới, tất cả đều rất đặc biệt và đáng nhớ.
Hi vọng sẽ được đọc thêm những bài review phim khác của Koreeda của filmcriticvn ^^