RSS

Monthly Archives: December 2009

Bản nhạc cho tuổi trẻ

“Với tôi, chỉ Lily là có thật.”

Nhưng trong suốt bộ phim mang tên chính cô gái ấy, All about Lily Chou Chou – người ta chưa bao giờ được nhìn thấy cô một cách rõ ràng, đây không phải là bộ phim về cô. Đây là bộ phim về về những tâm hồn lạc lối bị cầm tù trong nỗi đau. Và Lily Chou Chou mơ hồ hiện lên đâu đó, như một con đường giải thoát hiện hữu mà vô thực.


Nhân vật chính của All about Lily Chou Chou là đôi bạn thân sống ở một vùng tỉnh lẻ của Nhật Bản Yuichi Hasumi và Shusuke Hoshino. Hoshino được biết tới học sinh giỏi nhất của trường, xuất sắc trong môn kiếm đạo. Một mùa hè, hai người cùng một nhóm bạn tình cờ vớ được một món tiền và đi tới Okinawa du lịch. Ở đó, Hoshino suýt chết hai lần và chứng kiến một người khác bị tai nạn thảm khốc. Sau đó, cậu thay đổi – từ một nam sinh ngoan ngoãn, thầm lặng và chịu đựng Hoshino trở thành kẻ đứng đầu nhóm đầu gấu trong trường. Băng của Hoshino bắt các bạn trai, bao gồm cả Yuichi đi ăn trộm tại các cửa hàng, đánh bẫy rồi ép các nữ sinh trở thành gái gọi.

Bị cưỡng chế bốn bề, Yuichi tìm tới âm nhạc của Lily Chou Chou như một nguồn an ủi và giải thoát, cậu lập ra một diễn đàn trên mạng cho những người hâm mộ cô, nơi những linh hồn đau khổ tìm tới để sẻ chia. Sự chịu đựng của Yuichi với nỗi đày đọa tưởng chừng như có thể kéo dài mãi mãi cho tới khi cậu chứng kiến một cô bé sẵn sàng cạo trọc đầu để không phải trở thành gái gọi, một cô bé khác tự tử vì không tìm ra được lối thoát, và đỉnh điểm – Hoshino xé nát tấm vé buổi diễn của Lily Chou Chou mà cậu từng mong đợi. Khi đó, Yuichi biết rằng, cả Lily cũng không thể cứu được mình và cậu quyết định hành động.

All about Lily Chou Chou của đạo diễn Shunji Iwai dài tới 157 phút – đây là một lượng thời gian hiếm gặp và thách thức rạp chiếu, cộng với một câu chuyện buồn nhiều hơn vui, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc và một lối làm phim không nhằm “đãi mắt” khán giả. Khó ai có thể tưởng tượng được sẽ có nhiều khán giả mua vé xem phim. Nhưng, đáng kinh ngạc thay, đây là một trong ba bộ phim thu hút khán giả nhất năm 2001 tại Nhật Bản (cùng với Spirited away lừng danh của Hayao Miyazaki và Visitor Q của Takashi Miike). Sự thành công này chẳng có cách giải thích nào khác hơn ở chính cái nhìn trần trụi, cay đắng mà đầy cảm thông của bộ phim về cuộc sống của nhiều người ở độ tuổi mới lớn tại Nhật Bản. Trước khi thực hiện bộ phim, Shunji Iwai đã đăng lên mạng một cuốn tiểu thuyết do anh viết chỉ bao gồm những lời trò chuyện của nhiều nhân vật. Độc giả của cuốn tiểu thuyết này được phép tham gia đăng tải những thông điệp chen lẫn vào những dòng do Iwai viết. Và như vậy, những ý tưởng All about Lily Chou Chou đã thành hình trọn vẹn – từ chính nỗi niềm của rất nhiều thanh niên Nhật vô danh đã đồng sáng tác cùng đạo diễn. Tám tháng sau đó, bộ phim được bấm máy.

Bộ phim đề cập tới rất nhiều vấn đề của tuổi mới lớn Nhật Bản, những bi kịch mà cho tới tận ngày nay vẫn khiến người dân Nhật trăn trở, day dứt: nạo bạo hành học đường, những cô gái điếm trong bộ đồng phục nữ sinh, tự tử… Tuy nhiên, đó không phải là điều duy nhất khiến hàng triệu người Nhật đi xem bộ phim này, điều quan trọng hơn là đạo diễn Shunji Iwai đã cố tìm ra một cách giải thích, một cách giải thích công bằng, khách quan mà vẫn thấm đẫm đớn đau chua chát về những linh hồn tuổi trẻ bị thương tổn. Gia đình và nhà trường trở thành những hình bóng mờ nhạt trong phim của Shunji Iwai. Cha mẹ, thầy cô chỉ làm bổn phận của họ, khuyên răn đạo đức và hỏi han những lời bâng quơ – họ không thể nào chạm được tới thế giới thực sự của con cái, học trò.

Theo một cách hiển nhiên tới cay đắng, những đứa trẻ đã lớn lên với nỗi cô đơn, đương đầu với tất cả hiểm họa từ mọi phía cả theo nghĩa thể xác và tinh thần mà không người lớn nào nhận ra. Nạn nhân lớn nhất của điều này, nhưng cũng là kẻ tội đồ lớn nhất trong bộ phim chính là Hoshino. Bằng cách xáo trộn trật tự thời gian, bộ phim tô đậm vào sự tương phản giữa Hoshino từng tốt đẹp và khi cậu đã trở thành quái vật. Trong quá khứ cậu nhẫn nhục và hiền hòa bao nhiêu thì hiện tại cậu càng tàn nhẫn, bạo lực bấy nhiêu. Nhưng, có một điều không thay đổi trong Hoshino, đó là nỗi cô độc và khao khát có một người thấu hiểu. Âm nhạc của Lily Chou Chou có thể đi vào trái tim Hoshino, nhưng thế giới ether của cô không đủ mạnh để kéo cậu khỏi những tội ác. Và Yuichi, cậu bé có trái tim trong sáng trước sau không đổi đã một mình chấp nhận sự tra tấn của bạn bè, không đủ sức để kháng cự lại mệnh lệnh đưa Yoko Kuno – cô bé cậu yêu thầm – vào cạm bẫy. Cậu chưa bao giờ dám chống đối một điều gì cho tới cuối bộ phim, cậu chỉ cắn răng chịu đựng – đi ăn trộm, quản lí cô bé bị ép làm gái gọi. Âm nhạc có thể đóng vai trò như thế nào với những người như Yuichi? Đáng tiếc thay, đó chỉ là một lối thoát tạm thời, một cách để họ giữ lại thế giới tinh thần của mình trong khi con người xã hội bị xô xuống đáy.

Hơn thế  nữa, câu chuyện trong All about Lily Chou Chou thể hiện qua những khung hình chênh chao, rung lắc được thực hiện bởi máy quay cầm tay. Bộ phim có thể khiến cho nhiều người có cảm giác việc quay phim quá cẩu thả: ống kính nghiêng ngả (thậm chí có những đoạn phim được thực hiện bằng máy quay du lịch bỏ túi), màn hình đầy muỗi. Shunji Iwai đôi khi còn không cầu viện tới việc chiếu sáng trong những cảnh quay đêm tối. Tất cả chỉ là một vệt sáng mờ mờ, xanh tái chiếu lên khuôn mặt các nhân vật. Cách quay đó tạo nên một hiệu quả thẩm mỹ xuất sắc, khán giả càng cảm thấy bức bối, ức chế khi phải nhìn vào một khuôn hình thiếu ổn định thì họ càng dễ dàng thấu hiểu được cảm giác bất lực, bi quan và tuyệt vọng của những đứa trẻ mới lớn. Đó là ngôn ngữ hiệu quả của điện ảnh mà không cuốn sách, bản nhạc hay bức hình nào có thể thực hiện được, bởi thế bộ phim đã tới thẳng trái tim khán giả Nhật Bản.

Và bất chợt, đôi khi giữa trạng thái nôn nao và u tối  đấy, không gian trong phim đột ngột mở ra với cánh đồng lúa xanh bất tận, với những cánh diều bay trên trời cao, với ánh sáng tràn qua khung cửa khi cô bé Kuno chơi đàn… Đó là những lúc âm nhạc của Lily Chou Chou vang lên như bài cầu siêu cho những điều đã chết đi quá sớm, và đó là thế giới có thực trong tâm hồn của Hoshino, Yuichi… của tất cả người trẻ bị thương tổn.

Bộ phim kết thúc với một hành động táo bạo của Yuichi, sau khi cậu phải đứng bên ngoài cánh cửa, và bên trong kia thần tượng của cậu đang cất tiếng hát về  nỗi đớn đau, về sự tinh khiết và giải thoát… Cậu cầm trên tay một trái táo xanh, và khi cậu quyết định ra tay chấm dứt nỗi khổ ải bao nhiêu năm, trái táo ấy đã bị đâm thủng và lấm máu – như trái tim trong sáng của cậu sẽ không bao giờ có thể lành lặn, không bao giờ còn vẹn nguyên. Chỉ còn lại Lily Chou Chou và âm nhạc dù tuyệt vọng vẫn trong lành của cô – dù có thể từ đó, Yuichi không còn cần cô nữa.

Bài đã đăng trên SVVN, đây là bản chưa edit.

 
1 Comment

Posted by on 31/12/2009 in Reviews

 

Lục Xuyên: âm thanh bất khuất

Trung tuần tháng 12, BusinessWeek đăng một phóng sự ảnh bầu chọn 40 nhân vật “quyền lực nhất” Trung Quốc năm 2009. Bên cạnh những gương mặt quen thuộc như Hồ Cẩm Đào, Yao Ming hay Chương Tử Di, có một cái tên chắc hẳn sẽ khá lạ lẫm với phần lớn độc giả của một tờ tuần báo chuyên về kinh tế: Lục Xuyên.

Bức ảnh Lục Xuyên trên BusinessWeek là cảnh một trí thức trẻ trắng trẻo đeo kính cận đứng cạnh chiếc máy quay đen trắng góc rộng, phía sau lố nhố những người lính Nhật, còn hậu cảnh là một thành phố hoang tàn. Đó là Lục Xuyên trên phim trường của Nam Kinh! Nam Kinh!, bộ phim đã làm chấn động cả Trung Quốc khi công chiếu hồi tháng ba năm nay vì đề tài đặc biệt nhạy cảm của nó: vụ thảm sát Nam Kinh năm 1937.

Đối với không ít độc giả của BusinessWeek, có lẽ đó là lần đầu tiên họ nghe đến cái tên Lục Xuyên. Nhưng với những người yêu điện ảnh thì không cần phải đợi đến Nam Kinh. Từ bảy năm trước, khi The Missing Gun ra đời, Lục Xuyên đã được biết đến như một tiếng nói mới mẻ của những đạo diễn thế hệ thứ sáu, và từ bốn năm trước, khi Khả Khả Tây Lý giành trọn cả giải Kim Kê và Kim Mã, anh đã được xem như một tiếng nói quan trọng của điện ảnh Trung Quốc đương đại.

Một cảnh phim đầy ấn tượng của Khả Khả Tây Lý

Sinh ra trong một gia đình trí thức (cha anh, Lục Thiên Minh, là một nhà văn nổi tiếng), Lục Xuyên đã có một lựa chọn khá đặc biệt khi thi vào một trường đại học quân sự; và chỉ chút nữa anh đã theo đường binh nghiệp (anh đã làm thư ký cho một vị tướng hai năm) nếu như không có những bộ phim của Bergman, Coppola và Jarmusch mà anh mượn từ thư viện trường, điều đã đốt lên ngọn lửa thôi thúc anh thi vào Học viện Điện ảnh Bắc Kinh năm 1996.

Sau mười năm theo nghiệp điện ảnh, Lục Xuyên mới có trong tay ba bộ phim, và cả ba đều xuất sắc theo cách riêng của mình, đa dạng về thể loại và đề tài, nhưng lại nhất quán về phong cách. Nếu như The Missing Gun là một bộ phim hài châm biếm có kinh phí thấp thì Khả Khả Tây Lý là một phim mang phong cách nửa-tài-liệu khai thác đề tài bảo vệ môi trường, trong khi Nam Kinh! với ngân sách hơn 20 triệu USD lại là một tác phẩm sử thi bi tráng về chiến tranh và lịch sử. Khác nhau là thế, nhưng ở cả ba đứa con tinh thần của Lục Xuyên, người ta đều thấy hiển lộ một cá tính gai góc và ngang ngạnh. Nhân vật của anh hình như luôn mang trong mình bóng dáng của người lính – một điều hẳn đã “cảm nhiễm” vào anh sau tám năm sống giữa môi trường quân đội. Dù là một tay cảnh sát làng như Mã Sơn của The Missing Gun, một cựu chiến binh như Ritai ở Khả Khả Tây Lý, hay một sĩ quan Quốc dân đảng như Lục Kiếm Hùng ở Nam Kinh!, nhân vật của Lục Xuyên luôn luôn ương bướng như thế, cố chấp như thế, và, đẹp đẽ thay, bất khuất như thế.

Từ bộ phim đầu tay năm 2002 cho đến tác phẩm thứ ba vào 2009, Lục Xuyên vẫn luôn nói một thứ ngôn ngữ điện ảnh đơn giản và thuần phác. Có thể The Missing Gun vẫn còn chút phô phang vụng về của một đạo diễn mới vào nghề, song sang đến Khả Khả Tây LýNam Kinh! nó đã nhường chỗ cho một vẻ trầm tĩnh đầy trải nghiệm. Cùng là những cú máy góc rộng quay cận, nhưng điều hiện lên sau ống kính của The Missing Gun là chất kịch tính bi hài của chốn thôn quê, còn với Nam Kinh lại là hiện thực tàn nhẫn đến rợn người của chiến tranh.

Có thể Nam Kinh! là bộ phim quy mô lớn nhất và kỳ công nhất (bốn năm) của Lục Xuyên; có thể nó đã gây tiếng vang rất lớn cả ở Đại lục lẫn trên thế giới; có thể đó là nguyên nhân khiến tên anh xuất hiện trong danh sách của BusinessWeek, nhưng với rất nhiều khán giả, Khả Khả Tây Lý đến nay vẫn là kiệt tác của chàng đạo diễn ba mươi sáu tuổi quê đất Tân Cương này.

Khả Khả Tây Lý mê hoặc khán giả, làm họ choáng váng, khiến họ bùi ngùi và buộc họ rơi nước mắt vì duy nhất một điều: tính chân thực đầy nguyên sơ của nó. Đó là câu chuyện có thật về một đội kiểm lâm tình nguyện đã dấn thân vào một cuộc chiến âm thầm và khốc liệt chống lại những kẻ săn trộm linh dương Tây Tạng.

Bộ phim – hay đúng hơn là một thiên phóng sự – được kể lại qua góc nhìn của Ca Ngọc, một phóng viên đến từ Bắc Kinh, về công việc của những người bảo vệ bầy linh dương, về cách họ sống và họ chết – cả hai đều đơn giản như nhau. Điều làm Khả Khả Tây Lý vượt ra khỏi khuôn mẫu một bộ phim tuyên truyền về bảo vệ môi trường, một thiên anh hùng ca, và một phóng sự tài liệu là việc Lục Xuyên không giảng đạo lý, không tô hồng nhân vật, và càng không triển lãm Tây Tạng như một xứ sở huyền bí hòng thỏa mãn cái khoái cảm tò mò nơi khán giả thành thị. Ngược lại, anh để những thước phim tự nhiên, thô ráp tự nói lên tất cả; anh cho nhân vật sống đúng với bản ngã của mình – có ham muốn, có bất lực, có sợ hãi và có thỏa hiệp; sau hết, anh biến bình nguyên Tây Tạng hùng vĩ thành một người bạn đồng hành, đôi lúc êm đềm, thường xuyên khắc nghiệt, song luôn hiện hữu suốt chiều dài bộ phim (một điều khó có thể thực hiện được nếu thiếu đi ống kính khoát đạt của Tào Úc, quay phim chính của Lục Xuyên ở cả Khả Khả Tây Lý lẫn Nam Kinh!).

Khách quan nhưng không hề bàng quan, Lục Xuyên khắc họa hai tuyến nhân vật trong Khả Khả Tây Lý – kiểm lâm và săn trộm – qua cùng một lăng kính điềm đạm và đầy chất nhân văn. Sự cân bằng và toàn diện này đã không dừng lại ở Khả Khả Tây Lý, mà còn được Lục Xuyên đem đến cho Nam Kinh, và chính điều đó đã góp phần đáng kể vào thành công của cả hai bộ phim.

Trong Khả Khả Tây Lý, ranh giới giữa đúng và sai dường như trở nên quá đỗi mơ hồ ở độ cao 4700 mét, nơi chạy bộ chỉ vài trăm mét cũng đủ trào máu mũi, nơi cát lún có thể lấy đi sinh mạng con người một cách âm thầm, không tiếng không hơi. Trong khung cảnh ấy, những màu mè hoa dạng của cuộc sống không còn nơi bấu víu và bị rũ bỏ không thương tiếc. Những con người sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ linh dương cũng lại sẵn sàng phó thác sự sống chết của tù nhân cho sa mạc. Những tên tội phạm ngoan cố cũng là những con người sẵn lòng giúp đỡ kẻ bắt giữ mình. Chất hào sảng không câu thúc đạo lý của miền sa mạc ấy có chút gì phảng phất gợi cho ta nhớ đến những cuốn phim Viễn Tây lừng lẫy một thời của Sergio Leone. Chỉ có điều tiếng súng ở đây không đanh gọn chát chúa như miền Tây nước Mỹ, mà bị nhận chìm và bóp nghẹt trong bầu không khí loãng của cao nguyên – cũng như những vai diễn của con người trong phim, dù có xuất sắc đến đâu, cũng vẫn bị lu mờ trước một diễn viên luôn đứng ở hậu cảnh: thiên nhiên.

Thoáng nhìn qua, Khả Khả Tây Lý dường như là câu chuyện giữa người với người – giữa kiểm lâm và săn trộm. Kỳ thực, đi đến tận cùng, đó là câu chuyện giữa con người với thiên nhiên. Có lẽ vì vậy mà lời thoại của phim đã trở thành tối giản để nhường chỗ cho hình ảnh. Và, có lẽ, những hình ảnh rung động nhất của Khả Khả Tây Lý không phải những giây phút đầm ấm hay tàn nhẫn giữa người với người, mà lại là những thời khắc con người hiện lên thật nhỏ bé trước thiên nhiên, hoặc thật độc ác với thiên nhiên. Từ nghi lễ thiên táng của người Tây Tạng đến cái chết lặng lẽ của Lưu Đồng, từ ngôi nhà lẻ loi trên bình nguyên đến cái đêm dựng trại dưới trời sao, mối liên hệ ràng rịt giữa thiên nhiên và con người luôn hiện ra, như một mặt hồ cho lòng ta tĩnh lặng, và như một tấm gương để ta soi lại chính mình.

Bài đã đăng trên SVVN, đây là bản đầy đủ hơn.

 
4 Comments

Posted by on 29/12/2009 in Features

 

Ảo thuật hiện thực của Isao Takahata

Nhắc đến Studio Ghibli, cái tên đầu tiên nảy ra trong óc khán giả hẳn sẽ là Hayao Miyazaki. Nhưng, bên cạnh hào quang của Hayao, còn có một nguồn sáng khác lặng lẽ mà lan tỏa, êm dịu mà sâu lắng, và không hề bị lu mờ dưới sự rực rỡ của những Totoro Spirited Away. Đó là “ánh sáng đom đóm” của Isao Takahata.

Khác với Hayao, một họa sĩ tài năng, người ở tuổi 67 vẫn tự mình vẽ những con sóng của Ponyo, Isao, khai quốc công thần của Ghibli, chưa một lần chạm tay vào cây bút vẽ. Thế nhưng, nhắc đến Isao, không ai có thể phủ nhận được ông là một trong những đạo diễn tài năng nhất của vương quốc anime. Ông chính là minh chứng rõ nét nhất cho chân lý: bậc đại tướng không nhất thiết phải biết cầm kiếm ra trận. Nhiệm vụ ấy, ông dành cho các họa sĩ của Ghibli. Với một nhãn quan độc đáo và trí tưởng tượng bất phàm, ông đã định hình cho những đứa con tinh thần của mình một phong cách không lẫn vào đâu được, vừa đa dạng vừa thống nhất: một phong cách rất Isao.

Only Yesterday

Chính phong cách này (chứ không phải việc ông chưa từng là họa sĩ) đã biến ông thành vị đạo diễn “khác thường” nhất trong giới anime. Phim của Isao khác hoàn toàn với “phần còn lại” của làng hoạt hình Nhật Bản. Ưu thế tự nhiên của thể loại hoạt hình là ma thuật của sự kỳ ảo (mà Hayao là bậc thầy về khả năng thao túng sự kỳ ảo ấy), nhưng Isao lại chọn cho mình một cách tiếp cận hoàn toàn khác: chủ nghĩa hiện thực.

Đi con đường hầu như chưa ai khai phá ấy, ông đã phải lặn lội suốt ba mươi năm và nếm trải không ít ghẻ lạnh trước khi thực sự thành danh. Tốt nghiệp văn khoa năm 1959(!), chín năm liền ông phải làm đủ thứ công việc ở Toei Animation trước khi có cơ hội đạo diễn tác phẩm đầu tay Hols: Prince of the Sun. Mặc dù thất bại về doanh thu, bộ phim lại rất được khen ngợi về mặt nghệ thuật, và đã có những nét đầu tiên định hình phong cách của Isao. Không nản chí, ông tiếp tục thử nghiệm, và đôi khi khiến đồng nghiệp (trong đó có ông bạn già Hayao) phát bực vì những nỗ lực đem chủ nghĩa hiện thực vào thế giới của anime.

Năm 1982, Isao cho ra đời Gauche the Cellist, câu chuyện về một nghệ sĩ cello được sự giúp đỡ của các loài vật để tìm đến sự thăng hoa trong âm nhạc. Bộ phim, mặc dù rất bay bổng trong cốt truyện, nhưng lại chứa đựng một sự nghiêm túc rất đặc biệt trong cách tiếp cận và thể hiện. Ngộ nghĩnh nhưng vẫn sâu sắc và trầm lắng, sự thăng hoa của chàng cellist trong phim đã báo hiệu sự thăng hoa của chính Isao chỉ vài năm sau đó.

Năm 1985 đánh dấu cột mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp của Isao, khi ông cùng Hayao Miyazaki lập ra Studio Ghibli. Không còn bị những studio nơi ông làm thuê bó buộc, óc sáng tạo của Isao thỏa sức tung hoành và lập tức đơm hoa kết trái. Grave of the Fireflies ra đời năm 1988, trở thành một trong những kiệt tác của Ghibli. Trong mười năm sau đó, Only Yesterday, Pom Poko, rồi My Neighbors the Yamadas lần lượt ra đời.

Cho đến nay, Isao chỉ làm cho Ghibli vỏn vẹn bốn phim, nhưng cả bốn đều đem đến cho khán giả sự ngạc nhiên vì tính đa dạng trong đề tài và thể loại. Grave of the Fireflies là sự kết hợp đầy bất ngờ của “hoạt hình + bi kịch”, kể về cuộc tranh đấu để sinh tồn của hai đứa trẻ mồ côi ở Tokyo sau Thế chiến thứ hai với một sự thẳng thắn đến mức gần như tàn nhẫn và khiến người xem phải đau lòng. Grave of the Fireflies chẳng hề né tránh những vấn đề gai góc và nhạy cảm như cái chết, chiến tranh, nỗi cô đơn, cảnh cùng quẫn, hay sự thờ ơ và bạc bẽo của con người. Trong khi đó, Only Yesterday lại khám phá một đề tài tưởng như nằm ngoài lãnh địa của anime: nội tâm và hồi ức của một người phụ nữ. Hai nếp nhăn trên má Taeko hai mươi bảy tuổi và sự bối rối về kinh nguyệt của Taeko mười tuổi phản ánh một cái nhìn trực diện chưa từng có tiền lệ mà Isao đã đem đến cho thế giới anime. Pom Poko có chủ đề bảo vệ môi trường, ngộ nghĩnh nhưng vẫn đậm màu sắc phúng dụ. Còn My Neighbors the Yamadas, thuộc kiểu comic strips (một chùm chuyện ngắn) theo phong cách tối giản, lại là bức tranh hài hước nhưng  sâu sắc và rất ấm lòng của một gia đình Nhật Bản hiện đại điển hình.

Có thể nói chủ nghĩa hiện thực trong phim của Isao đã xóa nhòa đi cái ranh giới rõ ràng giữa hoạt hình và điện ảnh. Có không ít người quan niệm hoạt hình chỉ dành cho trẻ con, chỉ khai thác những đề tài trẻ con. Phim của Isao, nhất là Only Yesterday Grave of the Fireflies, khiến họ phải giật mình và buộc họ phải nhìn nhận lại suy nghĩ sai lầm này. Chịu ảnh hưởng rất mạnh của chủ nghĩa tân hiện thực Ý, Isao rất ưa thích khắc họa cuộc sống bình dị của những con người bình dị, như nhà Yamada và gia đình những người nông dân Yamagata. Và ông làm điều này một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc đến mức nó trở thành một đặc trưng của phong cách Isao. Quả thực, hiếm có đạo diễn nào lại chăm chút từng chi tiết dù là nhỏ nhặt nhất trong những cảnh phim bình thường nhất như Isao. Sự cẩn mật ấy khiến phim của ông sở hữu một tính chân xác có sức lay động mãnh liệt, đến mức có lúc người xem quên mất là mình đang xem một bộ phim hoạt hình.

Mặc dù vậy, chủ nghĩa hiện thực không hề lấn át và thay thế tuyệt đối sự huyền ảo tự thân của anime trong phim của Isao. Ngược lại, ông đã khéo léo kết hợp cái hiện thực đầy chi tiết ấy với sự bay bổng của chủ nghĩa biểu hiện. Từ Gauche the Cellist đến Only Yesterday, từ Pom Poko đến Yamadas, Isao đều không thiếu những giây phút thả cho đôi cánh của trí tưởng tượng tung bay và làm người xem phải há hốc mồm vì kinh ngạc. Ông cho phép mình tự do đi về giữa hai thế giới thực và ảo, khai thác triệt để tính ảo của anime như một bảng màu để tô điểm cho cái thực. Không phải ngẫu nhiên mà Yasuo Otsuka, thầy của cả Isao và Hayao, từng nói rằng ý thức về trách nhiệm xã hội trong phim của Miyazaki chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Takahata.

Xem và chờ đợi phim của Isao luôn là một điều thú vị bởi sự đa dạng của chủ đề và thể loại. Đã mười năm kể từ khi My Neighbors the Yamadas, bộ phim cuối cùng của Isao ra mắt, đồng nghĩa với việc người hâm mộ đã khắc khoải chờ đợi mười năm. Taketori Monogatari (Nàng tiên trong ống tre), bộ phim thứ năm của Isao tại Ghibli, đang trong quá trình sản xuất và dự kiến sẽ khởi chiếu trong năm 2010. Có lẽ đây là sự tái xuất được mong chờ nhất của Ghibli, hơn cả Ponyo on a cliff by the sea của người khổng lồ tóc bạc. Tin rằng, Isao, cũng như Hayao với Ponyo, sẽ không làm chúng ta thất vọng.

Bài đã đăng trên SVVN, đây là bản đầy đủ.

 
7 Comments

Posted by on 25/12/2009 in Features

 

Hoạt hình Việt Nam qua Bông Sen Vàng 16

Chỉ kịp đi xem một nửa trong số những phim hoạt hình tham dự Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 16 , nên thật khó để tôi có thể đánh giá một cách toàn cảnh chất lượng phim của Giải Bông Sen lần này, cũng như cả nền điện ảnh hoạt hình của chúng ta . Ngay một số phim mà tôi không xem kịp cũng có những hìnhảnh nhìn rất hay, cũng có thể đây là phim tốt nhưng không dám chắc.  Dưới đây chỉ xin trình bày một vài suy nghĩ riêng. Trước hết là một số hình ảnh lấy từ trang web của LHP để tham khảo những phim tôi chưa kịp thưởng thức :

http://photos-b.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc3/hs066.snc3/13338_370512855316_845580316_10240686_1528035_n.jpg

Chiếc đèn đẹp nhất – Trung tâm sản xuất phimTruyền hình-Đài TH Việt Nam

http://photos-b.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc3/hs066.snc3/13338_370514185316_845580316_10240699_5528337_n.jpg

Có một chú cóc con – Hãng phim hoạt hình Việt Nam

http://photos-h.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc3/hs066.snc3/13338_370517320316_845580316_10240721_5461746_n.jpg

Dưới một mái nhà – Hãng phim hoạt hình Việt Nam

http://photos-b.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc3/hs066.snc3/13338_370520175316_845580316_10240734_2840918_n.jpg

Cồ và Chíp – Hãng phim hoạt hình Việt Nam


Read the rest of this entry »

 
5 Comments

Posted by on 22/12/2009 in Features

 

Avatar – Cú kết hoành tráng của mùa phim 2009

Tháng 12 năm nay, quả bom tấn 3-D Avatar của đạo diễn kì cựu James Cameron, người từng gây tiếng vang với hàng loạt các bộ phim ăn khách như  Terminator, Alien,  True Lies hay Titanic… sẽ chính thức ra mắt trong niềm hân hoan của hàng triệu người hâm mộ điện ảnh trên toàn thế giới.

http://img.2sao.vietnamnet.vn/2009/10/27/13/31/091027avatar1.jpg

Tham vọng ấp ủ mười bốn năm

Ý tưởng về một bộ phim khoa học giả tưởng kể về cuộc tranh chấp giữa cư dân địa cầu và người ngoài hành tinh bắt đầu được hình thành trong đầu vị đạo diễn tài danh từ năm 1994. Khi ấy, bản thảo kịch bản thô sơ của James Cameron đã lên đến 80 trang. Cameron cho biết, ông lấy cảm hứng viết Avatar từ tất cả những cuốn sách khoa học giả tưởng từng đọc được từ thuở ấu thơ và câu chuyện có thật về huyền thoại Pocahontas xưa kia. Năm 1996, James tuyên bố sẽ bắt tay thực hiện Avatar sau khi hoàn thành Titanic. Theo dự kiến của ông, Avatar lẽ ra đã phải được thực hiện trong mùa hè 1997 để trình chiếu vào hai năm sau đó. Thế nhưng số tiền dự kiến đổ vào Avatar lại lên đến 400 triệu USD, một con số quá khủng khiếp! Quan trọng hơn, thế giới trong tưởng tượng của James Cameron quá hoành tráng và phức tạp để kiến tạo, đến mức công nghệ tiên tiến nhất vào thời điểm ấy cũng chưa đủ thỏa mãn. Thế nên, Cameron rốt cuộc đành phải ngậm ngùi gác lại tham vọng lớn của mình cho tương lai. Chỉ đến khi chứng kiến những gì Peter Jackson làm được với nhân vật Gollum trong series The Lord of the Rings và siêu phẩm King Kong hồi 2005, James Cameron mới bắt đầu tin tưởng vào tính khả thi của dự án Avatar. Và thế là đầu năm 2006, James bắt tay vào xây dựng kịch bản hoàn chỉnh cho dự án mà ông tin sẽ trở thành “kiệt tác của đời mình.”

Nội dung Avatar xoay quanh một cựu sĩ quan thủy quân lục chiến có tên Jake Sully. Sau một trận chiến, Jake không may bị liệt phần thân dưới và được chọn tham gia vào một chương trình cấy ghép gen để trở thành “Avatar” – một dạng cơ thể hiện thân lai giữa người Trái Đất và người Na’vi, cư dân hành tinh Pandora xa xôi. Sở dĩ có chương trình kì lạ trên là do người Trái Đất quyết định đổ bộ vào Pandora để đem khoáng sản quý từ nơi này về cứu trái đất trong cơn khủng hoảng năng lượng. Kế hoạch này mắc phải một khó khăn là không khí trên Pandora khác hẳn với không khí địa cầu, nên chỉ những “Avatar” như Jake mới có thể hít thở không khí nơi đây. Sau khi được cấy ghép gen, Jake trong cơ thể lành lặn của một Avatar xâm nhập vào hành tinh xa lạ. Tại đây, anh bắt đầu khám phá thế giới kì ảo của Pandora, kết bạn với cư dân Na’vi và gặp gỡ người con gái anh yêu – công chúa Neytiri của tộc người Na’vi. Từ đó trong lòng Jake Sully bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn lớn. Đứng giữa hai bờ chiến tuyến, anh buộc phải lựa chọn một trong hai con đường: hoặc thi hành nghĩa vụ của một công dân địa cầu, hoặc chung vai sát cánh bên dân tộc Na’vi bảo vệ quê hương tươi đẹp của người thương.

Một thế giới hoàn toàn mới lạ

Với một siêu phẩm như Avatar, chỉ riêng tên tuổi của James Cameron cũng đủ lôi kéo một lượng khán giả khổng lồ tới rạp, chưa kể đến những chiến dịch marketing rầm rộ. Thế nhưng sức hút lớn nhất của Avatar có lẽ chính là thế giới mới lạ mà bộ phim hứa hẹn sẽ mở ra. Bối cảnh của Avatar là hành tinh Pandora xanh rờn cây cối, cách trái đất 4,4 năm ánh sáng. Pandora là một miền đất hoang sơ như một cánh rừng ngập mặn cổ xưa. Nơi đây cư ngụ nhiều loại sinh vật ăn thịt đáng sợ và dân tộc Na’vi, giống người sở hữu chiều cao ba mét vượt trội, có đuôi và làn da màn xanh. Đối với người trái đất, dân Na’vi chỉ giống như một tộc người nguyên thủy dữ dằn, nhưng thực ra họ tiến bộ và khôn ngoan hơn con người rất nhiều.

Để dựng nên một thế giới khác biệt, kì ảo, mà sống động như thật – thế giới của người Na’vi, James Cameron đã phải nhờ đến những kĩ xảo điện ảnh tiên tiến vào bậc nhất, thậm chí đi trước thời đại. Ông còn quyết định tạo ra hẳn một nền văn hóa và ngôn ngữ riêng cho dân tộc Na’vi tưởng tượng. Để làm được điều này, Cameron đã phải nhờ đến một chuyên gia ngôn ngữ hàng đầu của trường đại học USC xây dựng cả một hệ ngôn ngữ mới dành riêng cho dân tộc Na’vi. Khâu âm nhạc của Avatar cũng được chăm sóc kĩ lưỡng, khi nhà soạn nhạc cho bộ phim phải cộng tác với một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc để soạn ra thứ âm nhạc dành riêng cho cư dân Pandora.

Một Titanic thứ hai?

So với Titanic, siêu phẩm ăn khách nhất mọi thời đại của chính James Cameron, quả bom tấn Avatar có khá nhiều nét tương đồng. Trước hết là sự trở lại của nhà sản xuất Jon Laudau, người từng tham gia sản xuất Titanic năm xưa. Kế đến là sự tham gia của James Horner, nhà soạn nhạc lừng danh từng làm mê đắm hàng triệu con tim với ca khúc My Heart will Go on ngày nào. Song điểm tương đồng đáng kể nhất giữa hai bộ phim nằm ở ngay chính chủ đề phim. Giống như Titanic, Avatar cũng là một siêu phẩm khai thác đề tài tình yêu bị cấm đoán (forbidden love). Nếu như tình yêu giữa chàng Jack lãng tử và nàng tiểu thư Rose dòng dõi quý tộc của Titanic bị ngăn trở trở bởi địa vị xã hội cách biệt thì Jake và Neytiri trong Avatar lại khó lòng đến được với nhau do sự khác biệt về chủng tộc và bổn phận của mỗi người đối với quê hương.

Các diễn viên của Avatar được James Cameron tuyển chọn hết sức kĩ càng. Để tiết kiệm tối đa kinh phí, James không viện đến những tên tuổi lớn mà quyết định chọn những gương mặt không quen thuộc nhưng đầy triển vọng. Vai công chúa Neytiri của tộc người Na’vi được giao cho diễn viên Zoe Saldana, nàng Uhura quyến rũ của phiên bản Star Trek 2009. Với Zoe, đây là một thử thách không hề đơn giản, bởi nếu như Kate Winslet của Titanic từng phải lặn lội ngày đêm trong nuớc lạnh giữa tiết trời rét mướt, thì Zoe Saldana cũng không tránh khỏi “trầy vi tróc vẩy” do phải luyện võ, học cưỡi ngựa, bắn cung, cử tạ để vào vai công chúa Neytiri. Zoe cũng tiết lộ, các diễn viên của Avatar còn được yêu cầu phải “quên mình là người” để vào vai thật “ngọt”.

Vai chính của Avatar, Jake Sully thuộc về diễn viên Sam Worthington, chàng Marcus Wright của Terminator Salvation. James Cameron tiết lộ Sam Worthington được lựa chọn từ khá sớm, và trong số hàng loạt các diễn viên triển vọng khác cùng thử vai, anh không hề có đối thủ! Khi quyết định chọn Worthington, Cameron tin rằng anh sẽ cố gắng hết sức mình để chứng tỏ bản thân, vì Worthington chưa bao giờ được giao phó một vai diễn nào thực sự lớn cả. Là một đạo diễn cầu toàn, Cameron đưa ra một yêu cầu không hề dễ dàng đối với Worthington, đó là phải thổi lửa vào nhân vật, đem đến cho Jake Sully “phẩm chất của một thủ lĩnh có thể làm thay đổi cả thế giới.

Tất cả những nỗ lực trên của đoàn phim, theo lời James Cameron, là để tạo ra một tác phẩm điện ảnh “hòa trộn giữa hành động và phiêu lưu”, cống hiến cho người xem một màn trình diễn tuyệt vời làm lay động con tim, đồng thời cũng khiến họ phải “suy ngẫm đôi chút về lối cư xử của mình đối với đồng loại và thiên nhiên”. Lạc quan là thế về thành công của Avatar, James Cameron cũng không hề úp mở dự định thực hiện hai phần tiếp theo của siêu phẩm con cưng trong tương lai. Đây có lẽ không chỉ là lời nói suông, vì hai diễn viên chính của Avatar, Sam Worthington và Zoe Saldana thậm chí đã ký hợp đồng đóng các phần tiếp theo của Avatar (nếu có).

Được nhào nặn dưới bàn tay của một đạo diễn hàng đầu Hollywood, với kịch bản lôi cuốn, ấn tượng, cùng kĩ xảo hoành tráng hứa hẹn làm nức lòng đông đảo fan hâm mộ, thành công của Avatar dường như là điều có thể tiên liệu trước. Câu hỏi được đặt ra là, liệu Avatar có thể trở thành một Titanic thứ hai, thậm chí đánh đổ vị trí của bộ phim huyền thoại năm xưa để trở thành siêu phẩm hốt bạc nhất mọi thời đại hay không? Câu trả lời sẽ chỉ được hé mở sau 18/12, ngày công chiếu Avatar trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam!!!

(Bản rút gọn được đăng trên 2! Đẹp, số tháng 1/2009)

 
4 Comments

Posted by on 07/12/2009 in On Screen, Preview

 

Những đạo diễn lừng danh của hoạt hình Nhật Bản

Nhật Bản, xứ sở truyện tranh, là nơi hàng năm sản xuất rất nhiều bộ phim hoạt hình làm mê đắm khán giả yêu phim trên toàn thế giới. Giới ghiền phim hoạt hình hẳn không còn xa lạ với các tác phẩm nổi tiếng như My Neighbor Totoro, Spirited Away, hay Grave of the Fireflies, nhưng ít ai nhớ mặt thuộc tên các đạo diễn phim hoạt hình nổi tiếng nhất Nhật Bản. Kì này, xin giới thiệu với các bạn một số đại diện tiêu biểu nhất của hoạt hình Nhật Bản.

Anh 1 spirited-away- Hayao Miyazaki

Một cảnh trong Spirited Away, kiệt tác của Hayao Miyazaki

1. Hayao Miyazaki:

Nhắc đến hoạt hình Nhật, ta không thể không nhắc đến Hayao Miyazaki – một trong những “tượng đài” của ngành sản xuất phim hoạt hình thế giới. Các tác phẩm của Miyazaki “mê hoặc” người xem không chỉ bởi những nét vẽ bằng tay tuyệt đẹp do chính ông kì công thể hiện, mà còn vì nội dung mang tính nhân văn sâu sắc và cách thể hiện độc đáo. Tất cả những phim hoạt hình dài do Miyazaki đạo diễn từ thập kỷ 80 cho đến nay đều thành công và đem về cho ông vô số giải thưởng danh giá. Nổi tiếng nhất trong số đó có thể kể đến: Castle in the Sky (1986), My Neighbor Totoro (1988), Princess Mononoke (1997), và Spirited Away (2001). Đặc biệt, Spirited Away, bộ phim được coi là kiệt tác của Miyazaki còn giành giải Oscar cho phim hoạt hình xuất sắc nhất và giải Gấu vàng LHP Berlin 2002. Thành công mới nhất của Miyazaki là Ponyo on the Cliff by the Sea ra mắt năm 2008, kể về một “nàng tiên cá” nhí mơ ước khám phá thế giới loài người. Tác phẩm hoạt hình trong sáng, đáng yêu này hứa hẹn sẽ là một ứng cử viên nặng kí cho giải Oscar 2010 sắp tới.

Năm 2005, Miyazaki được tạp chí Time bình chọn là một trong 100 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới.

Một cảnh trong Grave of the Fireflies, tác phẩm được coi là kiệt tác của Isao Takahata

Một cảnh trong Grave of the Fireflies, tác phẩm được coi là kiệt tác của Isao Takahata

2. Isao Takahata:

Isao Takahata, bạn chí cốt của Hayao Miyazaki cũng là một đạo diễn nổi danh không kém gì người đồng nghiệp tài năng của ông tại Nhật. Cùng với Miyazaki, Takahata sáng lập ra Ghibli, hãng phim hoạt hình hàng đầu Nhật Bản.

Giống như trường hợp Hayao Miyazaki, hầu hết các bộ phim do Takahata đạo diễn đều được khán giả ủng hộ nhiệt liệt và các nhà phê bình phim khen ngợi nức lời.. Phim của Takahata được đánh giá cao nhờ cách thể hiện độc đáo, sự chăm chút đến từng chi tiết, và nội dung ý nghĩa. Đáng chú ý là những phim hoạt hình dài mà Takahata đạo diễn cho Ghibli lại mang những đề tài rất khác nhau. Nếu như Grave of the Fireflies (1988), tác phẩm được coi là kiệt tác để đời của Isao Takahata là một phim chiến tranh điển hình miêu tả những đau thương, mất mát trong chiến tranh và tình anh em thắm thiết, thì Only Yesterday (1991) lại thuộc dòng phim tình cảm nhẹ nhàng, trong sáng. Porn Poko ra mắt năm 1994 là câu chuyện phiêu lưu mang chủ đề bảo vệ môi trường, còn My neighbours the Yamadas (1999) lại là một phim hài ngộ nghĩnh, đáng yêu. Sự đa dạng đó phần nào thể hiện khả năng sáng tạo đáng nể và nỗ lực không mệt mỏi của Takahata trong việc tự làm mới mình.

Dù đã bước vào tuổi xế bóng (Takahata sinh năm 1935), người đạo diễn tài danh này vẫn tiếp tục làm việc không biết mệt với những dự án phim mới. Hiện Takahata đang dạo diễn bộ phim hoạt hình The Tale of Bamboo Cutter chuyển thể từ một câu chuyện dân gian lâu đời của Nhật Bản.

Perfect Blue của Satoshi Kon
Perfect Blue của Satoshi Kon

3. Satoshi Kon:

Satoshi Kon, người sáng lập Hội các nhà làm phim hoạt hình Nhật Bản (JAniCA) đồng thời là giám đốc hãng phim hoạt hình Madhouse lừng danh luôn được xếp vào hàng ngũ các đạo diễn tài năng nhất xứ Phù Tang. Tác phẩm đầu tay của ông, Perfect Blue, ra mắt năm 1997, được coi là một hiện tượng của hoạt hình Nhật Bản vì nội dung và cách thể hiện ấn tượng, độc đáo. Bộ phim kịch tính mang yếu tố tâm lý và kinh dị này được cho là chịu ảnh hưởng từ phong cách của hai đạo diễn Mỹ kỳ tài là Alfred Hitchcock và David Lynch.

Nối tiếp thành công của Perfect Blue, Millennium Actresss của Satoshi Kon trình chiếu năm 2001 cũng được giới phê bình phim khen ngợi. Khác với Perfect Blue, Millennium Actress lại là một phim lãng mạn, đượm buồn và sâu lắng. Tokyo Godfathers (2003), phim kế tiếp do Kon đạo diễn, kể về hành trình tìm gia đình cho một em bé của ba người bạn vô gia cư cũng được đánh giá khá tốt. Tác phẩm gần đây nhất của Satoshi Kon, Paprika, bộ phim khoa học giả tưởng ra mắt năm 2006 cũng gây được tiếng vang và nhận được một đề cử cho giải Sư tử Vàng tại LHP Venice 2006.

Akira của Katsuhito Otomo
Akira của Katsuhito Otomo

4. Katsuhiro Otomo:

Katsuhiro Otomo sinh năm 1954, là một tác giả truyện tranh, đồng thời là đạo diễn, nhà viết kịch bản phim hoạt hình. Otomo gây tiếng vang lớn với bộ truyện tranh Akira do chính ông sáng tác và chuyển thể thành phim năm 1988. Cho đến nay, bộ phim khoa học giả tưởng độc đáo này vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm hoạt hình Nhật xuất sắc nhất mọi thời đại. Ngoài Akira, Otomo còn nổi tiếng với Steamboy, tác phẩm khoa học giả tưởng – hành động được liệt vào danh sách các phim hoạt hình Nhật tốn kém nhất từ trước tới nay. Tuy vậy, Steamboy không thu được thành công lớn về mặt doanh thu, dù được giới phê bình phim Nhật Bản đánh giá khá tốt.

Poster phim Ghost in the Shell 2: Innocence do Mamoru Oshii đạo diễn
Poster phim Ghost in the Shell 2: Innocence do Mamoru Oshii đạo diễn

5. Mamoru Oshii

Mamoru Oshii có lẽ là đạo diễn đa tài nhất trong giới làm phim hoạt hình Nhật Bản vì không chỉ đạo diễn phim hoạt hình, ông còn đạo diễn các thể loại phim khác, sáng tác truyện tranh, viết kịch bản phim và tiểu thuyết.

Nổi tiếng là một đạo diễn có phong cách nghệ thuật độc đáo, Oshii quan niệm làm phim là phải tạo ra những thế giới khác biệt với thế giới ngoài đời. Ông còn cho rằng đối với phim hoạt hình, yếu tố quan trọng nhất là hình ảnh, sau đó mới đến nội dung và cuối cùng là nhân vật. Oshii gây tiếng vang với hai tác phẩm hoạt hình ít nhiều mang tính chính trị là Patlabor phần 1 và phần 2, cùng loạt phim Ghost in the Shell phần 1 và 2 được chuyển thể từ một bộ truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng cùng tên. Năm 2004, Ghost in the Shell 2 (hay còn gọi là Innocence) được đề cử giải Cành cọ vàng tại liên hoan phim Cannes. Tác phẩm hoạt hình gần đây nhất của Oshii, The Sky Crawlers, cũng khá thành công khi giành được một số giải thưởng nhỏ tại các liên hoan phim quốc tế.

Một cảnh trong 5 Centimeters per Second của Makoto Shinkai.
Một cảnh trong 5 Centimeters per Second của Makoto Shinkai.

6. Makoto Shinkai:

Đạo diễn Makoto Shinkai, sinh năm 1973, là một đại diện tiêu biểu cho thế hệ làm phim hoạt hình trẻ của xứ sở mặt trời mọc. Sau một số tác phẩm hoạt hình đáng chú ý, Shinkai thậm chí còn được báo chi Nhật Bản mệnh danh là “Miyazaki mới”. Phim của Shinkai thường mang hơi hướm lãng mạn, có hình ảnh tuyệt đẹp. Shinkai gây tiếng vang với tác phẩm The Place Promised in Our Early Days (2004) và gần đây nhất là bộ phim tình cảm 5 Centimenters per Second  (2007) rất được giới học sinh, sinh viên châu Á ưa chuộng.

Mặc dù được đông đảo khán giả Nhật hoan nghênh, Makoto Shinkai vẫn tỏ ra hết sức khiêm tốn. Anh cho rằng báo chí đã cường điệu khi gọi anh là “Miyazaki” mới của Nhật Bản, và luôn luôn bày tỏ niềm tôn kính dành cho vị đạo diễn bậc thầy mà anh rất mực ngưỡng mộ.

(Đã đăng trên TGĐA)

 
1 Comment

Posted by on 02/12/2009 in Features, Preview

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 55 other followers