RSS

Monthly Archives: March 2010

Theo Angelopoulos: Người lữ hành vĩnh cửu

Nếu điện ảnh thế giới có một Homer, thì đó sẽ là Theodoros Angelopoulos. Thật vậy! Ông là người kể chuyện , là nhà thơ của điện ảnh Hi Lạp. Và nửa thế kỷ đeo đuổi nghiệp đạo diễn của Theo cũng là năm mươi năm nhân vật của ông lang bạt kỳ hồ trong một nỗi cô đơn đầy khắc khoải, năm mươi năm ông miệt mài chậm bước trên cuộc lữ hành vô định đến những miền xa xăm nhất  của môn nghệ thuật thứ bảy.

Trong Eternity and a day, bộ phim đã đem về cho ông giải Cành cọ vàng 1998, ba chữ cậu bé mồ côi người Albani thốt lên, như một định mệnh hồn nhiên, đã làm nhà thơ già “giác ngộ”. Chữ đầu tiên, korfulamu, một âm vang thanh thoát gợi lên hình ảnh một nụ hoa. Chữ thứ hai, xenitis, là nỗi niềm “đất lạ lẻ loi lòng khách lạ” của những tâm hồn lữ thứ. Chữ thứ ba, argathini, đêm sâu, là một ẩn dụ về hoàng hôn trên cuộc đời mỗi con người. Không hề ngẫu nhiên, ba chữ này tượng trưng cho những gì luôn ám ảnh Theo suốt cuộc đời đằng sau ống kính: linh hồn của “ngôi làng” Hy Lạp, nỗi bi ai của những kiếp lưu đày vĩnh viễn, và cái chết mòn của một nền văn hóa.

Sinh năm 1935 trong một gia đình trung lưu, Theo đã có may mắn (và cũng là bất hạnh) được chứng kiến những thập niên đầy tang thương và biến động trong lịch sử Hy Lạp, và phải gánh chịu những tai ương riêng mà lịch sử đã gieo xuống đầu gia đình ông trong thời ly loạn ấy. Ông tự nhận mình là một “đứa con của chiến tranh”; và ký ức đau thương của ông – về những tháng năm khốn khó, về người cha bị bắt đi trong một đêm Giáng sinh, về cái chết của cô em gái mười một tuổi – cũng đồng thời là dĩ vãng đau thương của cả một dân tộc. Những gì đôi mắt và trái tim ông lưu giữ về những ngày tang tóc ấy đã lần lượt được phản ánh trong những bộ phim của ông sau này, từ Days of ’36 đến Travelling Players, từ Voyage to Cythera đến Ulysses’s Gaze, và chính điều đó đã khiến chất tự sự sâu lắng trở thành một bản sắc đặc trưng của Theo Angelopoulos.

Sau khi cha bị bắt, cậu bé mười một tuổi Angelopoulos bắt đầu tìm đến với thơ. Như một sự giải tỏa, như một niềm an ủi. Và có lẽ chính lối thoát tâm linh này đã ảnh hưởng sâu sắc lên phong cách của Theo, khiến sau này mỗi bộ phim của ông đều là một bài thơ của hình ảnh với những ẩn dụ thầm lặng, những khuôn hình uyển chuyển, và những âm thanh da diết đến nao lòng. Dấu ấn tuổi thơ ấy không những không nhạt nhòa đi trong thời thanh niên, mà còn được nuôi dưỡng và bổ sung thêm bằng một thế giới quan đậm màu huyền sử khi Theo rời Athens đến Paris và trở thành học trò của một tâm hồn vĩ đại khác – Claude Levi-Strauss.

Phim của Theo luôn là một sự thách thức với những khán giả thiếu kiên nhẫn, vì chúng thường rất dài – Weeping Meadow 185, Ulysses’s Gaze 176, một phim tạm coi là “ngắn” như Landscape of the Mist cũng 127 phút – và tiết tấu rất chậm. Dài như thế và chậm như thế, nhưng phim của ông hầu như không có cái gọi là “kết cục”. Đó là sự thiếu vắng của chữ HẾT quen thuộc, là cái cảm giác mơ hồ lơ lửng ông gieo vào lòng khán giả sau mỗi bộ phim, nhưng đồng thời cũng là mối dây liên lạc đầy riêng tư giữa chúng. Theo nổi tiếng với những “bộ ba” (trilogy): bộ ba về Lịch sử, bộ ba về Im lặng, bộ ba về Biên giới, và bộ ba về Tình yêu (phần hai, Dust of Time, vừa ra mắt năm nay). Có lẽ cả sự nghiệp điện ảnh của Theo là một khúc Odyssey, còn mỗi bộ phim, như chính ông đã từng thừa nhận, chỉ là một chương, một hồi trong đó.

Trong những chương bi ca của cuộc lữ hành năm mươi năm ấy, Eternity and a day có lẽ là chặng lưu ly giới hạn nhất của Theo. Giới hạn về không gian, nếu sánh với chuyến phiêu lưu của người đạo diễn già đi tìm hồn nguyên của cái nhìn điện ảnh trên khắp bán đảo Balkan trong Ulysses’s Gaze. Giới hạn về thời gian, nếu so với Weaping Meadow trải dài suốt lịch sử Hy Lạp ba mươi năm đầu thế kỷ (hành trình của nhà thơ già Alexander vỏn vẹn một ngày). Thế nhưng, đó lại là một ngày dài hơn vĩnh cửu khi linh hồn cô đơn ấy đồng thời đắm chìm trong quá khứ, đối mặt với thực tại và lòng đầy khắc khoải khi nghĩ đến ngày mai.

Bởi đó là một ngày mai không bao giờ đến. Hôm nay, với nhà thơ già, là ngày cuối cùng. Bởi kể từ mai, ông sẽ nhập viện, sẽ kết thúc cuộc sống bằng cách đợi chờ cái chết. Trong ngày cuối đời ấy, ông tìm đến cô con gái đã đi lấy chồng chỉ để thảng thốt nhận ra rằng mình cô độc – cô đơn trong gia đình và đơn độc giữa thế gian. Ông hoài nhớ người vợ qua đời nhiều năm trước, trong nỗi day dứt đã bỏ lỡ tình yêu. Và vì thế, ông đuổi theo cậu bé mồ côi người Albani mà ông tình cờ gặp trên phố, để tìm kiếm một sự cứu rỗi cho bản thân mình.

Những tao ngộ tàn nhẫn của Alexander khi đồng hành với cậu bé không chỉ làm nảy nở giữa họ một tình bằng hữu làm ấm lòng ông, một sợi dây cảm thông níu giữ ông với cuộc đời, mà còn giúp ông soi vào sâu thẳm cuộc lưu đày của nội tâm mình. Giúp ông hoàn thành bài thơ dở dang ông hằng đeo đuổi, cậu bé đồng thời giúp ông rũ bỏ nỗi ám ảnh quá khứ, chấp nhận hiện tại, và bình thản đối diện với tương lai.

http://amyking.files.wordpress.com/2008/08/eternity-and-a-day-film-by-theo-angelopoulos.jpg?w=434&h=431

Theo có thói quen chọn diễn viên nước ngoài vào vai chính (Marcelo Mastroianni trong Beekeeper hay Harvey Keitel trong Ulysses’ Gaze). Bruno Ganz cũng không là ngoại lệ. Cái dáng cao lớn mà lầm lũi, những cử chỉ chậm rãi mà lặng lẽ của nhà thơ già, qua góc máy chân dung ưa thích của Theo (quay từ sau lại), đã đem đến cho Eternitiy and a day một âm hưởng trầm buồn và ưu uất trên nền nhạc thê thiết của Eleni Karaindrou, người đã cộng tác cùng Theo hai mươi năm có lẻ.

Đã nói đến Eleni thì không thể không nhắc tới Giorgos Arvanitis. Những cú máy dài với bố cục phức tạp và đa tầng lớp đã trở thành thương hiệu của Theo, những khung hình chuyển động êm ái và mượt mà như một cái nhìn dịu dàng nâng niu những cảnh phim trong Eternity and a day sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu vắng tay máy điêu luyện của nhà quay phim sáu mươi chín tuổi này. Tiết tấu của Eternity chậm và tĩnh nhưng không hề bất động, từng khung hình đều có hơi thở và sức hút của riêng nó. Bởi thế cho nên với những khán giả không quen, Eternity sẽ nhàm chán đến mức buồn ngủ; nhưng với người cảm được chất thơ của những khuôn hình ký tên Theo, một lúc nào đó họ sẽ chợt nhận ra mình đang hòa chung nhịp thở với con người đứng đằng sau ống kính.

Có thể nói, Eternity là một kiệt tác duy mỹ của những sự tương phản. Mâu thuẫn giữa quá khứ và hiện tại trong Eternity được Giorgos thể hiện đầy tinh tế bằng sự tương phản của màu sắc: nếu những cảnh phim của hiện tại chìm trong tông màu lạnh lẽo và tăm tối thì những hồi ức (hay chỉ là ảo tưởng?) của Alexander lại tươi sáng và rực rỡ đến không ngờ. Là thi sĩ, Theo hiểu hơn ai hết sự diễm lệ của ngôn từ, nhưng ông cũng đặc biệt trân trọng vẻ đẹp của im lặng, và đây chính là sự tương phản thứ hai của Eternity: nếu lời thoại (dù là độc thoại hay đối thoại) đẹp như thơ (và thật sự là thơ), thì những cảnh phim vô thanh như khi Alexander đối mặt với những kẻ buôn người cũng gây ra một ấn tượng không kém phần mãnh liệt lên khán giả.

Sự tương phản thứ ba (và nổi bật nhất) nằm trong cách Theo dung hòa chủ nghĩa hiện thực và siêu thực. Bi kịch của đứa trẻ mồ côi chân thực bao nhiêu thì bi kịch của những bóng người dật dờ lơ lửng trên hàng rào thép gai tại biên giới Hy Lạp – Albani và sự xuất hiện của nhà thơ Hy Lạp tha hương siêu thực bấy nhiêu. Ánh đèn đường thành phố về đêm ảm đạm bao nhiêu thì những gì xảy ra trên chuyến xe buýt cuối ngày kỳ ảo bấy nhiêu. Theo lấy siêu thực làm phương tiện thể hiện và truyền tải, nhưng những gì ông truyền tải và thể hiện lại chân thực tột cùng. Alexander bước vào hoài niệm trong hình hài một ông lão bảy mươi, sánh vai với người vợ hừng hực tuổi xuân và trò chuyện với bà mẹ trẻ hơn mình tự nhiên như thể đó là tất yếu. Và trong những cảnh thực nhất – một đám cưới theo phong tục cổ truyền – ta vẫn có cảm giác mọi thứ rất hoang đường, bởi đó dường như chỉ là huyễn tưởng của nỗi nhớ tiếc một nền văn hóa đang dần mai một. Siêu thực hình ảnh, với Theo, là biểu hiện của hiện thực nội tâm, và ông đã thị giác hóa điều đó bằng những thủ pháp mượt mà, đơn giản chỉ có ở một bậc thầy.

Khi mục tiêu truyền thống của điện ảnh đương đại là làm khán giả bội thực với những cảm xúc dễ dàng và biến trải nghiệm trong rạp chiếu bóng thành một dịch vụ giải trí đơn thuần, Theo khước từ con đường ấy. Phim của ông là những cuộc leo núi đầy lao khổ, cho bản thân ông và cho cả người xem. Nhưng cảm giác thỏa mãn khi lên đỉnh, thì có lẽ không gì sánh nổi.

 
1 Comment

Posted by on 25/03/2010 in Features

 

Làm thế nào để review một bộ phim?

Các bạn thân mến,

Từ khi ra đời đến nay, VFCC đã có hơn một trăm bài viết, trong đó một bộ phận khá lớn là review. Bình luận điện ảnh là một công việc không hề dễ dàng, đặc biệt là với những bộ phim nghệ thuật, vốn được chúng tôi dành cho một sự ưu tiên đáng kể. Bởi vậy, trong khi chúng tôi bình luận phim, cũng đã có những độc giả tâm huyết có nhã ý bình luận những bài bình luận của chúng tôi. Vừa qua, VFCC nhận được email của một độc giả, đặt ra một vấn đề khá thú vị liên quan đến công việc của những cây viết trên VFCC. Bởi vậy, sau khi tham khảo và nhận được sự đồng ý của người viết, chúng tôi mạn phép đăng lại nguyên văn bức thư để bạn Dạ Hương, các thành viên của VFCC và những người yêu điện ảnh nói chung có cơ hội trao đổi về một đề tài, theo chúng tôi, rất đáng để trao đổi. Sau đây là ý kiến của bạn Dạ Hương:

Chào các bạn,

Trước hết xin cảm ơn blog của các bạn đã có nhiều bài review hay, thú vị.

Tuy nhiên có một điều mình nhận thấy hầu hết các bài review đăng ở đây đều hơi… phong cách quá, tức là dường như có vẻ rập khuôn theo một lối bình luận phim nào đó kiểu phương Tây, đọc nhiều cảm thấy nhàm, bài nào cũng từa tựa như bài nào cả về cấu trúc lẫn hành văn, cả về góc nhìn và ý tưởng, v.v.  Theo mình biết, có rất nhiều dạng thức bình luận phim khác nhau chứ không chỉ có một kiểu loại duy nhất.  Một điểm nữa mình nhận thấy là hầu hết các bài bình luận đều khá xa cách đời sống Việt Nam, hay nói một cách khác, đọc lên hoàn toàn có thể nghĩ người bình luận viết từ bất cứ một nước nào, cho bất kỳ một giới khán giả nào mà không nhất thiết, không phản ánh hơi thở đời sống nghệ thuật và cuộc sống thường nhật ở Việt Nam, những lăng kính và quan niệm Việt Nam (bản thân Việt Nam cũng rất đa dạng, không nhất thiết chỉ có một Việt Nam).  Nói gọn lại, mình có cảm giác những nhà bình luận ở đây đang tìm cách vươn ra thế giới, học cách bình luận phim quốc tế một cách bài bản, có học, mà dường như quên mất bình luận cho ai và để làm gì, hay chỉ đơn giản bình luận để bình luận là đủ.  Tất nhiên các bạn có thể tranh luận là một khi đã tự coi mình là một khán giả toàn cầu thì bình luận cũng phải toàn cầu, và hơi thở và lăng kính ở đâu, viết cho ai và để làm gì, không còn quan trọng nữa.

Hy vọng vài lời góp ý chân thành không làm các bạn phật lòng.

Mình gửi các bạn một phần trích đoạn bài viết của mình, không hẳn là bình luận phim, mà là suy ngẫm về một cuốn phim từ lăng kính cá nhân, chỉ là một ví dụ rất nhỏ về một trong vô vàn cách bình luận khác.

Thân mến,
Dạ Hương.

 
6 Comments

Posted by on 15/03/2010 in Interviews

 

The White Ribbon – Hồi chuông cảnh tỉnh

Michael Haneke không phải là một  tên tuổi xa lạ với các liên hoan phim và giải thưởng điện ảnh uy tín. Ông từng gây tiếng vang tại LHP Cannes với những Funny Games (đề cử giải Cành cọ vàng), The Piano Teacher (giải thưởng của hội đồng giám khảo Cannes, hai giải cho diễn viên nam và nữ xuất sắc nhất), hay Caché (giải đạo diễn xuất sắc nhất của Cannes và giải thưởng phim châu Âu). Thế nhưng, bộ phim đem lại cho Haneke nhiều thành công nhất có lẽ là tác phẩm mới nhất của ông, The White Ribbon (Dải ruy băng trắng). Bộ phim giải thích căn nguyên hình thành chủ nghĩa Phát-xit này đã giành giải Cành cọ vàng của LHP Cannes 2009 và mới đây, vào ngày 17 tháng 1 năm 2010, đoạt giải Quả Cầu Vàng cho bộ phim không nói tiếng Anh xuất sắc nhất. Giới phê bình phim dự đoán, The White Ribbon là một ứng cử viên nặng ký trong cuộc đua Oscar sắp tới.

Bạo lực tràn lan

Giống như nhiều phim trước của Michael Haneke, The White Ribbon tiếp tục khai thác đề tài về cội rễ và bản chất của bạo lực. Tuy thế lần này, Haneke tỏ ra tham vọng hơn khi làm việc với một số lượng diễn viên khá lớn và triển khai các ý tưởng trên diện rộng. Bối cảnh của The White Ribbon là một ngôi làng nhỏ tại Đức, nơi hàng loạt sự cố và tai nạn nghiêm trọng liên tiếp xảy ra với người dân trước thềm Thế chiến thứ nhất.

Trong The White Ribbon, Michael Haneke mô tả sự phân tầng rõ rệt và những giá trị đạo đức chi phối một cộng đồng. Trong ngôi làng nhỏ, Nam tước thống trị về kinh tế, vì có đến một nửa dân làng làm việc cho hắn. Trong khi đó, nhà thờ gây ảnh hưởng lớn về tinh thần, với đại diện là nhân vật mục sư khắc kỷ luôn phát biểu những bài diễn văn thống thiết nhưng giả tạo.

Bạo lực và xung đột lan tràn trong The White Ribbon. Mở đầu phim là cảnh một bác sĩ bị thương vì ngựa của ông vấp phải một đoạn dây thép do ai đó chăng ra từ trước. Sau “tai nạn” trên, một loạt sự cố tồi tệ liên tiếp xảy ra: con vẹt của viên mục sư bị giết; vợ một nông dân chết do tai nạn trong xưởng cưa; một cánh đồng bắp cải bị thiêu rụi, con trai Nam tước bị đánh đập trọng thương; một cậu bé thiểu năng trí tuệ bị hành hung dã man đến mức có nguy cơ bị mù… Bên cạnh những sự kiện bí ẩn đó là hàng loạt thước phim mô tả mối quan hệ đầy xung đột và căng thẳng giữa những thành viên trong nội bộ các gia đình: một người đàn ông khước từ người tình bằng lời lẽ tàn tệ, một người phụ nữ tuyên bố bỏ chồng, một cảnh sát điều tra hét vào mặt một bé gái hòng ép buộc cô bé khai báo sự thật, những người cha mắng mỏ, đánh đập con cái, thậm chí lạm dụng con để thoả mãn nhu cầu tinh dục. Những sự cố kì lạ xảy ra trong ngôi làng nhỏ để lại trong lòng khán giả nhiều cảm xúc lẫn lộn: băn khoăn, bàng hoàng, kinh ngạc pha lẫn ghê sợ…

Câu hỏi không lời đáp

Giống như trường hợp của Caché, khán giả không ngừng tìm kiếm lời giải đáp cho những câu hỏi đặt ra trong The White Ribbon. Người ta thắc mắc về kẻ đứng sau hàng loạt sự cố kỳ lạ xảy trong ngôi làng. Thế nhưng tới cuối phim, những câu hỏi vẫn chưa hoàn toàn được giải đáp. Thực chất, đạo diễn cố ý kể một câu chuyện bí ẩn để nêu ra những vấn đề nghiêm trọng hơn liên quan tới quyền lực và sự lạm dụng quyền lực, kỷ luật cứng nhắc và cái giá phải trả cho sự khắc kỉ. Haneke từ chối đưa ra một câu trả lời dễ dãi mà để khán giả tự suy ngẫm, tìm kiếm câu trả lời cho riêng mình.

Để thực hiện ý đồ, Haneke cố ý trình bày sự việc một cách thật từ tốn. Vì lẽ đó, The White Ribbon được kể theo dòng hồi tưởng của một người đàn ông luống tuổi vốn là giáo viên tại ngôi làng kể trên. Lời kể chuyện trong phim có gì đó giống như lời khai của một nhân chứng trước toà. Là kẻ ngoài cuộc, người kể thuật lại câu chuyện của nhiều năm về trước một cách rành mạch, chi tiết, phần nào chậm rãi. Thay vì sử dụng âm nhạc có tiết tấu nhanh, tạo cảm giác kịch tính, điều thường thấy trong các bộ phim “thriller”, Haneke chỉ dùng đến âm thanh tự nhiên. Cách làm đó của ông tạo nên những khoảng lặng hiệu quả cho bộ phim, giúp người xem cảm nhận không khí căng thẳng trong các cuộc đối thoại, lắng nghe tiếng các nhân vật mỗi khi họ hít thở mạnh hoặc nức nở khóc. Ông cũng cố tình thực hiện những cảnh quay kéo dài, tạo cho khán giả cảm giác như họ đang ở trong cùng một căn phòng với nhân vật.

Sự từ  tốn ấy tỏ ra khá hiệu quả. Khán giả  không bao giờ biết chính xác lúc nào mình sẽ lại chứng kiến điều tồi tệ xảy ra. Không có âm nhạc báo trước cho họ hay bất cứ dấu hiệu cảnh báo rõ ràng nào. Tuy thế, luôn luôn có một điều gì đó đang, hoặc sắp xảy ra, khiến người ta phải ngỡ ngàng, kinh hãi. Không phải ngẫu nhiên mà Haneke chỉ chọn duy nhất hai màu đen trắng cho bộ phim của mình. Những thước phim hai màu chân phương không chỉ gợi lên cảm giác tăm tối, phù hợp với một cốt truyện đầy ắp bí ẩn, mà còn gây ấn tuợng về một thế giới tối tăm, u ám.

Hồi chuông cảnh tỉnh

Với  cách thể hiện giản dị, tinh tế mà chân thực đến rợn người, The White Ribbon đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với xã hội hiện đại vô cảm. Không chỉ nói đến sự hình thành của chủ nghĩa Phát-xít Đức, The White Ribbon còn đề cập tới một đề tài bao quát, thời sự hơn rất nhiều. Đó là sự phát triển ngày một mạnh mẽ của chủ nghĩa khủng bố. Thực chất, những gì từng xảy ra với nước Đức xưa kia đã, đang diễn ra và có thể sẽ xảy đến với bất cứ quốc gia, vùng đất nào trên thế giới. Đau khổ chẳng bao giờ kết thúc một khi tội ác vẫn còn được dung túng, những âm mưu hiểm độc vẫn không được ngăn chặn, bạo lực còn tiếp diễn. Và tương lai của thế giới sẽ ra sao, khi nhiều em nhỏ vẫn phải sống trong những môi trường đầy xung đột và bạo lực, thiếu vắng tình yêu thương và sự chở che của người lớn? Sớm muộn gì, các em nhỏ đó cũng sẽ hình thành tính cách bất thường, nổi loạn, không kiểm soát được bản thân như trong The White Ribbon. Và vẻ ngoài trong sáng của các em, có thể sẽ trở thành một thứ gì đó vô nghĩa và lừa mị, như màu trắng của dải ruy băng mà tên mục sư ép con trai mình đeo ở một bên cánh tay để gợi nhớ sự thuần khiết ngây thơ.

Tội  ác không có lãnh thổ, đôi khi không có cả  nguyên nhân hợp lý và không thể dự đoán. Ác tâm và thù hận chẳng khác nào một dịch bệnh tàn ác len lỏi khắp nơi khắp chốn, đầu độc tâm hồn con người. Căn bệnh đó chính là nguồn cơn dẫn dến sự phát triển của chủ nghia Phát-xít, biến một đất nước văn minh tiến bộ vào bậc nhất trở thành một dân tộc lạnh lùng, tàn nhẫn. Đúng như Michael Haneke từng phát biểu, căn bệnh của ngôi làng trong phim chính là căn bệnh của nước Đức, và rộng hơn, căn bệnh của xã hội loài người.

(Đã đăng trên Sinh Viên Việt Nam, số 9, 2010)

.

 
Leave a comment

Posted by on 06/03/2010 in Reviews

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers