NHỮNG LÀN SÓNG CỦA THẾ GIỚI
Dù khái niệm phim ‘độc lập’ là riêng có của nước Mỹ, song có thể nhận thấy những nền điện ảnh khác trên thế giới cũng xảy ra tương tự, dĩ nhiên khác biệt về quy mô và mức độ. Phim độc lập thế giới có thể được hiểu đơn giản theo hai khía cạnh: độc lập về ý tưởng và độc lập về tài chính. Đây là hai mối quan hệ có sự liên quan chặt chẽ với nhau và ‘độc lập’ sẽ luôn là một danh xưng để thể hiện cái tôi phản kháng của các nhà làm phim toàn cầu.

Show Me Love (đạo diễn: Lukas Moodyson)
Tại lễ trao giải Oscar năm 1998, đạo diễn James Cameron tự hào tuyên bố mình là ‘Vua của thế giới’, Bộ phim Titanic của ông, với kinh phí 200 triệu USD, đắt nhất khi đó, không chỉ phá vỡ kỉ lục doanh thu tại Mỹ mà còn trở thành ‘thần tài’ ở các rạp chiếu trên toàn thế giới. Titanic nhanh chóng trở thành biểu tượng cho sự thống trị của Hollywood ở thị trường giải trí toàn cầu. Thế nhưng, chỉ thời gian ngắn sau đó, những bộ phim như Spirited Away (2001), Show Me Love (1998), hay Shiri (1999) của những nhà làm phim Nhật Bản, Thụy Điển và Hàn Quốc đã xô đổ kỉ lục doanh thu của Titanic tại thị trường những nước này. Thậm chí, ở Ấn Độ – nền điện ảnh ‘mắn đẻ’ nhất thế giới, Titanic chỉ tạo nên ‘gợn sóng lăn tăn đầy thất vọng… trước khi chìm mất tăm’.
Thoát khỏi cái bóng của Hollywood
Hollywood không phải là hình mẫu duy nhất cho điện ảnh thế giới. Hollywood có thể được coi là nền điện ảnh mang nhiều tính giải trí, với những đặc trưng như lối tự sự theo tuyến tính với diễn biến nhanh, các nhân vật có mục đích rõ ràng, những minh tinh màn bạc, kinh phí lớn, kĩ xảo và những cảnh hành động hoành tráng. Nhìn chung, phim Hollywood thường sử dụng nhiều kĩ thuật dàn dựng để tạo ra một ‘ảo ảnh’ của hiện thực và để khán giả dễ dàng theo dõi câu chuyện. Tuy nhiên, có nhiều ý niệm về chủ nghĩa hiện thực (realism) khác cũng rất phổ biến trên thế giới.

Rome Open City (đạo diễn: Roberto Rossellini)
Đặc biệt ở châu Âu, nơi có truyền thống gắn kết nhất song cũng luôn tìm cách tự tách biệt mình với Hollywood nhất. Chẳng hạn như trào lưu Tân hiện thực (neorealism), trào lưu làm phim ở Ý những năm 1940, thường quay ngoại cảnh, sử dụng diễn xuất tự nhiên, với diễn viên vô danh hoặc nghiệp dư, và tạo ra những hình ảnh ai cũng biết là kinh phí thấp để nhấn mạnh tới sự ‘thực’ của cảnh tượng. Một số ‘chủ nghĩa hiện thực’ tương tự cũng có thể được nhận thấy ở Điện ảnh Iran mới và ‘Điện ảnh song song’ của Ấn Độ. Thậm chí, người ta nhận thấy rất rõ dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực trong tuyên ngôn ‘về nguồn’ của trào lưu Dogme 1995 ở Bắc Âu (tuyên ngôn của các nhà làm phim muốn tối giản tối đa các kỹ thuật, sử dụng hoàn toàn máy quay cầm tay để diễn tả tính hiện thực của câu chuyện).

Jules and Jim (đạo diễn: Francois Truffaut)
Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi trào lưu Tân hiện thực và được cách điệu mạnh mẽ, những bộ phim thuộc Làn sóng mới (New Wave) của các ‘tác giả’ (auteur) ở Pháp trong thập niên 1950 và 1960 đã tập trung vào cách tiếp cận ‘lát cắt cuộc sống’ trong khi làm phim và trở thành nguồn cảm hứng lớn cho một loạt Làn sóng mới khác ở châu Âu, và đặc biệt tại Nhật Bản, trong thập niên 1960. Chủ nghĩa hiện thực ngày nay tiếp tục được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như những bộ phim siêu hiện thực như Trainspotting (1996 của Danny Boyle) hay của trào lưu cinema de look ở Pháp hiện tại. Trong khi đó, chủ nghĩa siêu thực cũng vẫn là một lực đẩy sáng tạo mạnh mẽ ở nhiều nơi tại châu Âu, đặc biệt là Tây Ban Nha và CH Séc. Trong khi đó, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cũng là một dòng chảy mạnh mẽ khác nữa ở các nước Mỹ Latinh.
Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện thực cũng chỉ là một thủ pháp trong điện ảnh và chủ nghĩa hiện thực phương Tây ‘cũng chỉ là một dải trong lớp quang phổ mĩ học rộng lớn hơn’. Ở châu Á và Trung Đông, những hình thức phổ biến nhất của điện ảnh bản xứ lại có khuynh hướng phản hiện thực, fantasy và mang nặng tính giải trí, chẳng hạn như điện ảnh đại chúng ở Ấn Độ, các bộ phim ‘chưởng’ phổ biến ở Trung Quốc và Hong Kong, hay phim hoạt hình ở Nhật Bản. Xu hướng chung ở điện ảnh châu Á là chối bỏ sự bắt chước thực tại thuần túy, và thông qua nhiều hình thức để biểu hiện rằng thời gian mang tính tuần hoàn hơn là tuyến tính.
Độc lập để phát triển

Pigs Battleships (đạo diễn: Shohei Imamura)
Có lẽ ngoài Hollywood, các nền điện ảnh châu Á cũng bị ‘kìm kẹp’ nặng nề nhất bởi hệ thống studio. Tuy nhiên, khác với người Mỹ, các xuởng phim tại Nhật lại cho phép đạo diễn và biên kịch nhiều quyền kiểm soát hơn. Chính điều này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của Làn sóng mới của điện ảnh Nhật Bản thập niên 1960, với những tên tuổi như Nagisa Oshima hay Shohei Imamura. Trong thập niên 1970, khi không thể cạnh tranh nổi với các bộ phim Hollywood Mới (áp dụng nhiều thủ pháp làm phim độc lập và phong cách nghệ thuật của điện ảnh thế giới), nhiều studio ở Nhật quyết tâm giành lại khán giả bằng mọi cách, kể cả sản xuất phim khiêu dâm. Nhiều đạo diễn độc lập nổi tiếng nhất nước Nhật ngày nay, như Kiyoshi Kurosawa, cũng từng tham gia làm nhiều bộ phim B như thế. Đơn giản là bởi, dù với điều kiện phải có ít nhất 6 cảnh… sex và thực hiện trong một thời gian ngắn ngủi với số tiền ít ỏi, họ được toàn quyền tự do sáng tạo nên 1 bộ phim.

Crazy Stone (đạo diễn: Ning Hao)
Tại Trung Quốc Đại lục, người hâm mộ điện ảnh nước này đón chào thế hệ đạo diễn thứ 6 cùng nhiều nhà làm phim trẻ khác như Vương Tiểu Soái, Giả Chương Kha, Lâu Diệp đã bước vào ‘độ chín’ trong sự nghiệp. Giờ đây điện ảnh Trung Quốc đã xuất hiện những bộ phim ngầm (underground) với kinh phí cực thấp, được sản xuất bên ngoài hệ thống studio chính thức. Đặc biệt trong một thập kỉ qua, những bộ phim thực hiện bằng máy quay kĩ thuật số như của Vương Binh đã tạo nên cả một Trào lưu Phim tài liệu mới cực kỳ nổi bật và ấn tượng ở Trung Quốc. Trong khi đó, ở điện ảnh Hoa ngữ, những Làn sóng mới ở Đài Loan và Hong Kong cũng mang lại cho người xem những bộ phim có phong vị khác hẳn với thể loại phim hài, võ thuật và xã hội đen đậm tính thương mại khác. Những cái tên như Thái Minh Lượng, Dương Đức Xương, Hầu Hiếu Hiền… đều đã được coi như những nhà làm phim bậc thầy của thế giới.

Life Is Cool ( đạo diễn: Choi Equan & Choe Seung-won), bộ phim hoạt hình Hàn Quốc làm theo kỹ thuật Rotoscope - vẽ trên phim quay người thật
Điện ảnh Hàn Quốc phát triển rực rỡ trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, học tập theo nước Mỹ, phim của quốc gia này nhiều về cả số lượng lẫn thể loại, với chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật rất cao. Tuy các nhà kinh doanh điện ảnh xứ Kim chi rất chú trọng vào việc hút khách, nhưng họ cũng dành ra một khoảng không gian rất rộng cho các tài năng trẻ và các đạo diễn thành danh được làm những bộ phim nghệ thuật đặc sắc. Có thể nói khuynh hướng phim độc lập ở Hàn Quốc là rất rõ nét. Tuy vậy, giữa phim độc lập và phim thương mại có sự giao thoa về nhân sự, thậm chí cả nhà sản xuất, cho nên có thể nói hai dòng phim này gắn bó khăng khít như hai bàn tay đan vào nhau vậy.

Pather Panchali (đạo diễn: Satyajit Ray)
Với hơn 900 bộ phim được sản xuất mỗi năm, với khoảng ¼ trong số này được sản xuất tại Bollywood, có lẽ Ấn Độ là nền điện ảnh năng suất nhất thế giới. Vấp phải ít sự cạnh tranh nhất từ Hollywood, những bộ phim Bollywood mang tính thương mại rất rõ, với motif đơn giản lặp đi lặp lại hết phim này đến phim khác. Chính vì thế, nó lại càng làm nổi bật những bộ phim của ‘điện ảnh song song’ nghệ thuật và ‘auteur’ hơn nhiều hơn của điện ảnh tiếng Bengal hay Malayama, với những cây đại thụ như Satyajit Ray, Ritwik Ghatak, Mrinal Sen, John Abraham…
Nền điện ảnh thứ ba
Chỉ trích phong cách làm phim thuần túy giải trí moi tiền khán giả của Hollywood (Nền điện ảnh thứ nhất) lẫn điện ảnh nghệ thuật xuất phát từ Âu-Mỹ (Nền điện ảnh thứ hai) là quá tập trung vào những biểu hiện cá nhân của đạo diễn-‘tác giả’, trào lưu ‘Nền điện ảnh thứ ba’ xuất hiện mạnh mẽ tại Mỹ Latinh thập niên 1960-1970 qua bản tuyên ngôn đanh thép ‘Hướng đến một nền điện ảnh thứ ba’.

El Viaje (đạo diễn: Fernando Solanas)
Trong bản tuyên ngôn này, hai đạo diễn người Argentina, Fernando Solanas và Octavio Getino đã đưa ra những khái niệm phân biệt Nền điện ảnh thứ nhất (điện ảnh thương mại, của các studio dựa theo hình mẫu Hollywood), Nền điện ảnh thứ hai (điện ảnh nghệ thuật châu Âu và điện ảnh tác giả), và Nền điện ảnh thứ ba. Ở đây, Nền điện ảnh thứ ba bác bỏ quan điểm coi điện ảnh là một phương tiện bày tỏ quan điểm cá nhân, mà thay vào đó, đạo diễn chỉ là một phần của tập thể, và tính chiến đấu mạnh mẽ trong phim đóng vai trò tối quan trọng. Chủ lực của ‘Nền điện ảnh thứ ba’ là các nhóm làm phim Grupo Cine Liberación ở Argentina, Cine de la Base của Raymundo Gleyzer, Cinema Nôvo ở Brazil, điện ảnh cách mạng Cuba và đạo diễn Bolivia Jorge Sanjinés.
Bất chấp việc suy tàn của các nền điện ảnh chính trị hóa trong thập niên 1970, ý niệm về Nền điện ảnh thứ ba vẫn là nguồn cảm hứng lớn cho nhiều trào lưu làm phim đương đại. Và với tư cách là một hình thức làm phim xuyên quốc gia, Nền điện ảnh thứ ba dứt khoát đã đặt một nền móng quan trọng cho ‘điện ảnh thế giới’.
Đào Diệu