RSS

Category Archives: Features

10 bộ phim hành động hấp dẫn đang được thực hiện

1. The Cold Light of Day

Ngôi sao hành động: Bruce Willis và Henry Cavill
Khởi chiếu
: Tháng 4/2012

Martin (Bruce Willis) cùng Will Shaw (‘Siêu Nhân mới’ Henry Cavill) rủ nhau đi du lịch ở Tây Ban Nha. Tại nơi đây, gia đình của Shaw bị bắt cóc và bản thân anh bị vu khống và kết án oan. Tất cả chỉ vì một chiếc vali bí ẩn nào đó. Không còn lựa chọn, Shaw đành phải trốn chạy cùng một cô em gái ruột mà trước đó anh chưa-từng-biết-đến. Và cuối cùng: Sigourney Weaver sẽ thủ vai phản diện chính!

2. Bullet to the Head Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 14/02/2012 in Features

 

Tags: , , , , , , , , , , , , ,

Mùa phim Tết 2012 – Nhiều món liệu có ngon mâm?

Điện ảnh Việt Nam đang có những biến chuyển tích cực về lượng theo từng năm, và điều đó càng được chứng tỏ khi trong mùa Tết nguyên đán năm nay, sẽ có ít nhất 6 bộ phim Việt ra mắt công chúng…

Kinh dị kỳ bí – khoe “dự án” từ sớm

Những bộ phim được gọi là kinh dị của mùa phim Tết năm nay đã được công bố từ khá lâu và có lộ trình được lên lịch khá kỹ càng để kích thích sự tò mò của đông đảo khán giả. Lời nguyền huyết ngải (tên ban đầu là RH108) đã được rục rịch chuẩn bị từ cuối năm ngoái. Tiến trình casting, quay phim, làm hậu kỳ cũng được nhà sản xuất cập nhật liên tục. Phim cũng vừa mới tung trailer và ngay lập tức thu hút được sự chú ý của đông đảo khán giả, dù không ít người đã bày tỏ thắc mắc sao… chẳng thấy kinh dị gì cả. Nhưng bấy nhiêu đó cũng đã đủ khiến những người thực hiện hài lòng vì chính đạo diễn cũng chỉ muốn kể chuyện người là chính – khi âm mưu tội ác con người còn đáng sợ hơn ma quỷ.

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 20/12/2011 in Features, Preview, Vietnamese Cinema

 

Tags: , , , , , , ,

Điểm mặt Hollywood mùa phim cuối năm

Như thường lệ, cuộc chiến giữa nghệ thuật và giải trí bom tấn sẽ diễn ra ác liệt tại Hollywood trong cuối năm nay, mở đường cho cuộc chạy đua tới những giải thưởng lớn đầu năm sau…

BOM TẤN CUỐI NĂM

Nếu phim hành động từng là “đặc sản” của mùa hè vào thập niên 90, thì vài năm trở lại đây, dòng phim này đã bị các siêu anh hùng truyện tranh và phim hoạt hình hạ bệ, “đánh dạt” về cuối năm. Chính vì thế, khán giả sẽ được no nê với thể loại hành động trong mùa Thu-Đông, ít nhất là với ba phim “đinh”: Drive, Mission: Impossible – Ghost ProtocolSherlock Holmes: A Game of Shadows.

Mission: Impossible - Ghost Protocol

Read the rest of this entry »

 
3 Comments

Posted by on 08/09/2011 in Features

 

Tags: , , , , , , , , , , , , ,

Làm mới ngôn ngữ điện ảnh Việt Nam – Một vài dẫn dụ & cảm nhận

Đây là bài viết đã có gần 1 năm tuổi đời và xuất hiện trên nhiều diễn đàn điện ảnh. Tuy nhiên, ngày hôm nay, bạn Mai Anh Tuấn muốn chia sẻ nó với VFFC cùng độc giả thêm một lần nữa, với phiên bản đầy đủ nhất. Xin cảm ơn bạn.

1. Khẩu hiệu thời thượng của Ezra Pound, nhà thơ Mỹ, “làm cho mới” (make it new) gần như tổng quát cái đặc trưng cơ bản mà nghệ thuật nửa đầu thế kỉ XX có được: cái mới và yêu cầu nước rút của nó, chạy đua tìm cái mới. Nghệ thuật hiện đại thường gắn liền với cái đuôi “ism” mà vũ  khí của nó không gì hơn, với cả thái độ cực đoan và ảo tưởng đáng yêu kèm theo, chính là thực nghiệm cái mới, cho cái mới đánh trận tiền phong. Nhưng thực sự thì, một vài cái đuôi “ism” đã tắt lịm bởi các biến cố xẩy ra đằng sau nó mà nguyên nhân cũng chỉ qui về việc cái mới đã… hết mới, chấm dứt vai trò quyến rũ và dẫn đường của nó, lập tức bị thu vé khứ hồi vào tương lai.

Thực tế đó cũng có thể tìm thấy những dẫn chứng sinh động trong nghệ thuật điện ảnh. Thông thường, khi nhắc đến nền nghệ thuật điện ảnh của một quốc gia nào đó, người ta vin vào lịch sử của những thành công, những tên tuổi diễn viên lẫn đạo diễn, những giải thưởng tầm quốc tế, thậm chí, vin cả đến quá trình sản xuất – phát hành – trình chiếu vốn thuộc về công nghiệp điện ảnh. Tuy nhiên, việc một tác phẩm điện ảnh trụ vững với thời gian không hẳn phụ thuộc vào doanh thu hay giải thưởng, mà chủ yếu nhờ vào căn cước nội tại của nó: làm mới ngôn ngữ. Dù rằng việc làm mới này chưa thể được giải mã và chấp nhận ngay, càng khó gặt hái vinh quang tức thì, nhưng những tài năng thực sự bao giờ cũng nuôi tham vọng sáng tạo cái mới nhằm xác lập mã vạch nghệ thuật cá nhân, coi đó là cơ hội để chuyển tải quan niệm thẩm mĩ và tư tưởng của mình. Đơn độc và bị lãng quên, không màng tới lời dị nghị và sự dè bỉu của phái thủ cựu hay sự xuýt xoa của kẻ thức thời, bị khán giả làm ngơ và ban giám khảo lắc đầu; luôn khiêu khích và chống lại những mĩ cảm quen thuộc, bày đặt thách đố tiếp nhận và không ngại chịu tiếng là kẻ phá hoại…, đó là thân phận, bản lĩnh của hành trình độc sáng mà những Yasujiro Ozu, Thái Minh Lượng, Vương Gia Vệ, Kim Ki-duk, Hầu Hiếu Hiền… ít nhiều đã chạm tới, làm nên ví dụ huy hoàng. Tác phẩm của họ, vì sức dự phóng của cái mới, đứng tách biệt như trường hợp ngoại lệ, tránh được những bế tắc, đơn điệu mà số đông đang tạo ra, đi tới.

3-Iron - Một bộ phim của Kim Ki-duk

Read the rest of this entry »

 
 

Giải mã thành công từ Glee

Là thương hiệu có trị giá lên đến gần nửa tỷ USD, Glee đã trở thành chương trình truyền hình ăn khách đứng thử 2 tại Bắc Mỹ, chỉ sau mỗi American Idol. Tuy chỉ đạt lượng người xem trung bình 14 triệu (kém 10 triệu so với AI) nhưng Glee đang dần tiến tới vị trí số một. Họ đã làm như thế nào vậy?

Mô hình kinh doanh sáng tạo

Có một thực tế là lợi nhuận quảng cáo đang dần chảy sang túi các nhà sản xuất của Glee, trong khi tỷ lệ xếp hạng của American Idol được công bố vào cuối tháng 1 vừa qua cho thấy lượng người xem đã giảm đi 13% so với năm trước. Nói một cách nào đó thì đây giống như một sự chuyển dịch mang tính hình tượng: nếu American Idol giống như một diễn viên Vegas đã hơi đuối sức và đang cần tô thêm một lớp son mới thì Glee vẫn còn căng đầy sự tươi trẻ ở năm thứ hai. Tỷ lệ bình chọn và lợi nhuận của Glee vẫn không ngừng tăng lên trong khi đối tượng khán giả (có độ tuổi trung bình là 34) phần lớn là các khán giả mới.

Glee trong The Simpsons

Read the rest of this entry »

 
1 Comment

Posted by on 25/06/2011 in Features

 

Tags: ,

Mãi mãi viễn Tây

Ngày 29/3/1993 ở rạp hát Dorothy Chandler, Los Angeles, một người đàn ông tóc bạc, mắt vẫn rất sắc và lưng vẫn rất thẳng dù đã ở tuổi 64, đứng trên sân khấu, trên tay là hai bức tượng vàng của Unforgiven, bộ phim Viễn Tây thứ ba đoạt giải Phim hay nhất trong lịch sử Oscar. Đó là Clint Eastwood, huyền thoại sống của Viễn Tây, dòng phim làm mưa làm gió ở Hollywood những năm 50 và 60 trước khi dần đi vào quên lãng.

Eastwood nói, ông làm Unforgiven để chôn cất thể loại Viễn Tây. Gã cao bồi vô danh một thuở của Sergio Leone nghĩ rằng Viễn Tây đã chết, và thắng lợi của bộ phim cũng không cứu vãn được điều này. Đó chỉ là vũ khúc sau cùng của con thiên nga mà thôi.

Thế nhưng những gì xảy ra vài năm trở lại đây hẳn đã khiến Eastwood mỉm cười rút lại suy nghĩ ấy. Có thể với Unforgiven, ông đã chôn Viễn Tây xuống thật. Nhưng, từ đó, một hạt giống mới đã nảy mầm…

Read the rest of this entry »

 
4 Comments

Posted by on 10/06/2011 in Features

 

Tags: , , , , , , , , , , ,

Còn lại gì sau thất bại?

Ngày nay, thành công (nghệ thuật + thương mại) của một bộ phim là sự tổng hòa của rất nhiều yếu tố. Sự xuất sắc tự thân của tác phẩm, tất nhiên. Chỉ có điều, như vậy là chưa đủ. Để thành công trong thời đại toàn cầu hóa, bộ phim phải có một mạng lưới phân phối rộng khắp, một chiến lược PR hiệu quả và sự hậu thuẫn của giới phê bình. Nhiều tác phẩm vì thiếu vắng một, hai, hoặc cả ba yếu tố ấy nên đã không có được vị trí xứng đáng trong lịch sử điện ảnh khi ra mắt. Và, có lẽ không phải tình cờ, không ít trong số đó là những bộ phim viễn tưởng.

Năm 1997, Paul Verhoeven, đạo diễn của Robocop lừng danh và Basic Instinct đình đám, cho ra mắt bộ phim viễn tưởng Starship Troopers với kinh phí 105 triệu USD. Bộ phim gây chia rẽ sâu sắc trong giới phê bình và là một thất bại thương mại lớn của Verhoeven. Năm năm sau, tới lượt một bộ phim viễn tưởng khác, Equilibrium của Kurt Wimmer, ra đời, bị giới phê bình chê bai thậm tệ và thất bại thảm hại về doanh thu. Thời điểm bài viết này ra mắt điểm của Troopers trên trang web IMDB là 7.1/10. Equilibrium còn ấn tượng hơn khi đạt 7.7. (English Patient, phim đoạt giải Oscar 1996, chỉ được 7.3). Những thống kê này, dù chỉ mang tính tương đối, cũng đặt ra cho ta một câu hỏi: có thật là hai bộ phim này dở như chúng đã từng bị chê bai không tiếc lời vào thời điểm ra mắt hay không?

Read the rest of this entry »

 
3 Comments

Posted by on 27/05/2011 in Features

 

Tags: , , , , , ,

Vẽ chân dung buồn về đàn ông Việt

Thời gian qua, có ba bộ phim nghệ thuật Việt Nam gây ra khá nhiều tranh cãi gồm Chơi vơi, Trăng nơi đáy giếng và mới đây nhất là Bi, đừng sợ. Ba bộ phim đến từ ba nam đạo diễn tên tuổi, nhưng chân dung của những người đàn ông hiện lên trong các bộ phim ấy lại đều thiếu đi sự mạnh mẽ cần phải có của một nhân cách đàn ông hiện đại. Có lẽ bởi…

Đàn ông luôn đi tìm cái mình không thể có…

Trong Chơi vơi của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, ngoài hai nhân vật nữ chính có xu hướng đồng tính, người ta thấy đâu đó những gương mặt đàn ông khác nhau đi tìm kiếm những thứ ít ai ngờ tới. Hải, vị hôn phu của Duyên bỏ mặc người vợ trẻ mới cưới với những khát khao chính đáng, tìm niềm vui thú trong những trò trẻ con như đá bóng, đá cầu hay những cuộc trò chuyện vô thưởng vô phạt với cô hàng xóm. Thổ, người đàn ông nam tính có vẻ ngoài thô ráp luôn thừa thãi đàn bà lại thích tìm kiếm những người phụ nữ mà anh không thể chạm tới. Rồi cả ông bố của cô bé Miên hàng xóm, cũng vùi đầu vào những trận chọi gà để thấy mình… có ích hơn. Dù ở đầu này hay đầu kia của sự trưởng thành, những người đàn ông trong Chơi vơi đều hoang mang, tiêu tốn ngày dài để tìm kiếm những thứ vốn không (nên) thuộc về mình.

Thổ (Johnny Trí Nguyễn) trong phim Chơi vơi

Read the rest of this entry »

 
12 Comments

Posted by on 13/05/2011 in Features, Vietnamese Cinema

 

Tags: , , , , , , , , ,

Mỏ vàng của Hollywood

Ngày xửa ngày xưa…

Ernest Hemingway từng có một châm ngôn khi bàn về cách ứng xử với Hollywood: hãy lái xe tới ranh giới với California và quăng cuốn sách của bạn qua hàng rào. Khi nhà sản xuất tung tiền lại cho bạn, hãy chộp lấy và phóng đi ngay lập tức. Đó là quan điểm đầy hoài nghi của một tác giả chưa từng thấy tác phẩm chuyển thể từ sách nào của mình gặt hái thành công (ngoại trừ truyện ngắn The Killers). Nhưng đồng thời, nó cũng minh họa cho một thực tế khác: các nhà sản xuất ở Hollywood đã cộng tác với các nhà xuất bản, đại diện và các tác giả lâu tới nỗi không ai còn buồn nhớ tới nữa rồi!

Thực sự, nếu coi bộ phim Alice in Wonderland của Cecil Hepworth và Percy Stow vào năm 1903 là một ví dụ đáng xem xét, thì việc chuyển thể từ sách thành phim đã có tuổi đời ngang bằng ngành điện ảnh. Nhìn vào danh sách những bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại, thì 9 trong số 20 phim đứng đầu (nhờ J.K. Rowling và J.R.R. Tolkien) là dựa theo các cuốn sách. Mà đó là còn chưa kể tới những The Dark Knight hay Spider-Man 3, vốn dựa trên những nhân vật lấy từ truyện tranh.

Alice in Wonderland 2010 của Tim Burton

Vậy tại sao Hollywood luôn tìm tới văn chương? “Câu trả lời ngắn gọn là, vẫn còn nhiều sách quanh đây lắm”, tổng biên tập của tờ The Book Seller Neill Denny nói. “Chỉ riêng ở London, hơn 100,000 cuốn sách vẫn được xuất bản hàng năm. Vì vậy nếu bạn tính thêm ở New York, trung tâm xuất bản lớn nhất của Mỹ, bạn có thể thấy tới 300,000 tác phẩm mới được ra mắt mỗi năm. Vậy thì với quy luật trung bình, bạn sẽ tạo ra được bốn hay năm bộ phim bom tấn một năm từ kho sách đó mà chẳng phải đổ chút mồ hôi nào.

Số lượng xuất bản đó hẳn là một mỏ vàng thực sự cho các hãng phim Hollywood. Bởi, “Mọi thứ đang trở nên càng lúc càng chông chênh mạo hiểm, vậy nên chuyển thể một cuốn sách là một phương án an toàn,” nhà sản xuất Ken Marshall, người hiện đang thực hiện dự án chuyển thể cuốn tiểu thuyết Filth của Irvine Welsh nói. “Nhưng bạn không thể cứ thế chọn một kịch bản vô danh nào đó, bỏ hàng triệu đô-la vào nó và chờ xem có hiệu quả không,” giám đốc nội dung của nhà xuất bản Viking, ông Joel Rickett bổ sung. Một cuốn sách nổi tiếng lại hoàn toàn khác. “Nó đã có sẵn thành công rồi,” ông nói. “Nó đã có sẵn một lượng khán giả. Nó đã chứng minh được khả năng thu hút đám đông.

Muôn ngả rẽ gian nan…

Nhưng đó không phải là một lộ trình tự động tới thành công – với lực lượng fan thường điên cuồng bảo vệ những bộ sách họ yêu thích. Hãy cứ hỏi Robert Pattinson của Twilight mà xem. Khi một diễn viên gần như vô danh được chọn đóng Edward Cullen, các fan đã gửi đi cả thuyền thư phản đối. Nhưng điều này cũng chẳng có gì mới mẻ. Khi diễn viên người Anh Vivien Leigh được chọn đóng vai Scarlett O’Hara trong Gone with the Wind, nhà báo chuyên mục hậu trường Hedda Hopper từng bừng bừng thịnh nộ: “Cả triệu phụ nữ Mỹ ở đây mà [nhà sản xuất David O.] Selznick không thể tìm thấy ai vừa ý ông ấy sao?

Gone with the Wind (1939)

Thậm chí, một nhà văn cũng có có thể tham gia vào quá trình làm phim. Ban đầu, Anne Rice từng chọn River Phoenix đóng vai Lestat cho bộ phim chuyển thể Interview with the Vampire của Neil Jordan. Tuy nhiên, Phoenix đã qua đời 4 tuần trước khi phim khởi quay, để lại vai diễn này cho tài tử Tom Cruise. Việc lựa chọn diễn viên sai có thể hủy hoại bất cứ bộ phim nào, nhưng đặc biệt là với những bộ phim chuyển thể. Bởi các độc giả thường đã mang sẵn những ý tưởng cụ thể về chuyện ai nên đóng nhân vật văn học mà họ yêu thích. Hãy lấy ví dụ bộ phim dựa trên tiểu thuyết của Phillip Roth có tên The Human Stain của Robert Benton năm 2003. Với câu chuyện tình ái giữa một giáo sư có nguồn gốc nửa Do Thái, nửa Mỹ gốc Phi, sở hữu một màu da sáng, đã luống tuổi với một nữ phục vụ mù chữ luộm thuộm. Vậy điều gì đã khiến họ chọn Anthony Hopkins và Nicole Kidman? Chẳng cần phải nói thêm, các nhà phê bình đã lột da sống bộ phim đó!

Rồi lại có một số bộ phim chuyển thể gặp vấn đề bởi ngôn ngữ văn chương của tác giả không thể nào chuyền tải vào phim. Phiên bản The Bonfire of Vanities từ tác phẩm của Tom Wolfe nhằm vẽ nên chân dung trào phúng về nền chính trị tại New York năm 1990 do Brian De Palma thực hiện là một khẩu súng tịt ngòi khủng khiếp, khi kịch bản đã hoàn toàn bế tắc trong việc chuyển tải lại được giọng điệu hoang dã của Wolfe. Tương tự, bất cứ tác phẩm điện ảnh nào chuyển thể từ tiểu thuyết của Martin Amis – The Rachel Papers, Dead BabiesMoneyđều thất bại trong việc mô tả lại những luồng suy nghĩ chồng chéo và những lời văn ngoài mạch truyện của tác giả. Thậm chí, cả những đạo diễn đình đám như David Cronenberg hay Michael Winterbottom đều buộc phải thừa nhận là chịu bó tay trong việc chuyển thể tác phẩm thành công nhất của Amis, London Fields.

On the Road cuối cùng cũng "lên đường"

Điều này dẫn tới một vấn đề khác được gọi là những tiểu thuyết ‘không thể chuyển thành phim’. Chẳng hạn như On the Road của Jack Kerouac. Với sự thật là cuốn kinh thánh của thế hệ Beat được viết ra chỉ trong ba tuần thỉ quả là mỉa mai khi người ta phải mất tới 30 năm để đưa nó lên màn ảnh rộng. Sau khi Francis Ford Coppola mua bản quyền cuốn sách vào năm 1979, hàng loạt nhà biên kịch – Michael Herr, Barry Gifford, Russell Banks và thậm chí bản thân Coppola – đều đã thử và thất bại trong việc chuyển thể nó. Như Banks mô tả, chuyển tải toàn bộ câu chuyện hậu chiến tranh thế giới thứ II của Kerouac như đánh lừa khán giả hiện đại. “Anh sẽ chẳng bao giờ có được sự trong sáng mà On the Road đã mô tả.

Chỉ cho tới nay, với Walter Salles đứng ra đạo diễn cùng một dàn diễn viên bao gồm Kirsten Dunst, Viggo Mortensen, Amy Adams, Kristen Stewart… thì On the Road mới thực sự “lên đường”. Tất nhiên, việc chinh phục một cuốn tiểu thuyết không thể quay thành phim là một phần quyến rũ của công việc. Lý An hiện đang làm việc với cuốn Life of Pi của Yann Martel, câu chuyện về cậu con trai của một chủ sở thú bị kẹt lại trên thuyền với một con hổ. Đạo diễn của Amélia, Jean-Pierre Jeunet từng bỏ ra nhiều năm cho dự án này trước khi từ bỏ. “Bộ phim này là một cơn ác mộng về kỹ thuật. Tất cả các cảnh quay đều cần tới kỹ xảo. Có con hổ, đứa trẻ, đại dương – ba yếu tố kinh khủng nhất cho một bộ phim!” Ông không dành nhiều hi vọng lắm cho Lý An… “Tôi nghĩ trong mười năm nữa chúng ta sẽ tiếp tục nói về dự án này.

“Chỉ có thắng mà thôi”…

Khi các dự án chuyển thể gặt hái được thành quả, tiếng tăm sẽ vang lừng – đặc biệt với Viện hàn lâm, những người có vẻ như khá ưu ái các bộ phim chuyển thể từ các tác phẩm văn học. Hơn hai thập kỷ qua, 10 trong số 20 bộ phim đoạt giải Oscar cho hạng mục Phim truyện xuất sắc nhất đều có nguồn gốc từ những cuốn sách đã được xuất bản. Đến mức mà lúc này, mọi người có vẻ như quá hăm hở khi đi kiếm tìm một món hời từ văn chương. Nếu như may mắn chọn được một cuốn sách nằm trong danh sách bán chạy nhất, đó là một lợi thế lớn lao khi bước vào quá trình thực hiện, không chỉ ở chuyện kiếm được kinh phí, mà cả ở khâu tuyển chọn diễn viên và cuối cùng là giới thiệu và quảng bá cho nó.

Điều đó giải thích cho việc tại sao quyền làm phim của nhiều cuốn sách đã được chộp lấy theo lối ‘bắt từ trứng nước’, tức là từ trước khi chúng thậm chí được xuất bản. Hầu hết việc thỏa thuận được thực hiện tại các hội chợ sách – London, Frankfurt và New York. Những người tìm kiếm của các hãng và các nhà sản xuất phim độc lập đều giữ kín những sự kiện này, “để tìm kiếm ý tưởng và tóm lấy chúng ngay”, như Denny nhận định. Rồi lại có đại diện cho các tác giả, những người thường tìm cách bán đi quyền làm phim từ sách mà khách hàng của họ viết. Như Denny giải thích, “Lĩnh vực điện ảnh ăn theo lĩnh vực văn chương là một điều quá rõ ràng.

The Girl with Dragon Tattoo (2009)

Những ký kết trước khi thông qua hãng phim này đã phần nào khiến cho ngày càng nhiều các nhà sản xuất tại Hollywood không thể có được thỏa thuận phát triển với các hãng phim, không còn được lựa chọn mọi thứ theo ý riêng của họ nữa. Trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay, các hãng phim càng trở nên thận trọng. Theo như dữ liệu của của Publishers Marketplace, 205 hợp đồng chuyển thể tại Hollywood đã được ký từ ngày 1/6/2008 tới 1/6/2009. Nhưng con số đó giảm xuống còn có 190 trong cùng khoảng thời gian từ 2009 tới 2010, với sự sụt giảm lớn nhất đối với riêng dòng sách cao cấp. Thực sự là, phải có một có hit tầm cỡ toàn cầu như bộ ba Millenium của Stieg Larsson mới dụ được Columbia Pictures bỏ tiền ra để làm lại bộ phim dựa theo cuốn sách đầu tiên trong series, The Girl with the Dragon Tattoo.

Tất nhiên, đối với các nhà xuất bản, đó là một “tình huống chỉ có thắng mà thôi”, Rickett nói. Ngày nay, các nhà xuất bản thậm chí còn tìm kiếm sự hợp tác trực tiếp với các nhà làm phim. Trong năm 2005, Random House kết hợp với Focus Features để đồng sản xuất hai trong số ba bộ phim trong năm dựa theo các tác phẩm chưa xuất bản của họ. “Đó thực sự là một kiểu làm việc thú vị,” Rickett phát biểu. “Nhưng tôi nghĩ điều khó khăn là, phim thì quá thiếu sự liên tục, đầy ngẫu nhiên và hay thay đổi tới nỗi việc tạo ra được một cấu trúc cố định cho nó là quá khó. Bạn không thể cứ thế ép khuôn nó theo lối đó. Bạn không thể nói, ‘Vâng, chúng tôi sẽ có ba cuốn sách một năm.’ Bạn có thể sẽ không có được ba cuốn sách như bạn muốn.

Vậy chuyện gì đang chờ đợi những cuốn sách trên màn ảnh? Có lẽ cái thời mà những cuốn tiểu thuyết lừng danh gây nên cuộc chiến đấu giá giữa các hãng phim đã qua, nhưng với sự xuất hiện của Harry PotterTwilight, lãnh đạo của các hãng đại diện cho tác giả và các hãng phim giờ đã quay về phía các đám khán giả dưới 18 tuổi. “Sách dành cho tuổi teen quả thực đã rất phát triển trong các năm gần đây,” Denny nhận định. Sản phẩm cho tuổi mới lớn – thường dựa trên thực tế nhưng đi kèm với những khía cạnh siêu nhiên – giờ đã bùng nổ. Hãy thử nhìn vào I Am Number Four – bộ phim của D.J Caruso dựa theo tiểu thuyết của Pittacus Lore (bút danh của James Frey và Jobie Hughes) do Alex Pettyfer đóng vai một người ngoài hành tinh ngụy trang dưới vẻ ngoài của một nam sinh trung học. Cũng có khả năng Warner Bros. sẽ đưa loạt truyện Septimus Heap của Angie Sage lên màn ảnh. Bởi vì trong một thế giới chao đảo như lúc này, điều mà các hãng phim cần là một loạt phim nào đó tương tự như Harry Potter

Theo James Mottram – Tạp chí Total Film số 4/2011

 
Leave a comment

Posted by on 01/05/2011 in Features

 

Tags:

Chuyên đề: Phim độc lập [Bài 3]

 

NHỮNG LÀN SÓNG CỦA THẾ GIỚI

 

Dù khái niệm phim ‘độc lập’ là riêng có của nước Mỹ, song có thể nhận thấy những nền điện ảnh khác trên thế giới cũng xảy ra tương tự, dĩ nhiên khác biệt về quy mô và mức độ. Phim độc lập thế giới có thể được hiểu đơn giản theo hai khía cạnh: độc lập về ý tưởng và độc lập về tài chính. Đây là hai mối quan hệ có sự liên quan chặt chẽ với nhau và ‘độc lập’ sẽ luôn là một danh xưng để thể hiện cái tôi phản kháng của các nhà làm phim toàn cầu.

Show Me Love (đạo diễn: Lukas Moodyson)

Show Me Love (đạo diễn: Lukas Moodyson)

Tại lễ trao giải Oscar năm 1998, đạo diễn James Cameron tự hào tuyên bố mình là ‘Vua của thế giới’, Bộ phim Titanic của ông, với kinh phí 200 triệu USD, đắt nhất khi đó, không chỉ phá vỡ kỉ lục doanh thu tại Mỹ mà còn trở thành ‘thần tài’ ở các rạp chiếu trên toàn thế giới. Titanic nhanh chóng trở thành biểu tượng cho sự thống trị của Hollywood ở thị trường giải trí toàn cầu. Thế nhưng, chỉ thời gian ngắn sau đó, những bộ phim như Spirited Away (2001), Show Me Love (1998), hay Shiri (1999) của những nhà làm phim Nhật Bản, Thụy Điển và Hàn Quốc đã xô đổ kỉ lục doanh thu của Titanic tại thị trường những nước này. Thậm chí, ở Ấn Độ – nền điện ảnh ‘mắn đẻ’ nhất thế giới, Titanic chỉ tạo nên ‘gợn sóng lăn tăn đầy thất vọng… trước khi chìm mất tăm’.

Thoát khỏi cái bóng của Hollywood

Hollywood không phải là hình mẫu duy nhất cho điện ảnh thế giới. Hollywood có thể được coi là nền điện ảnh mang nhiều tính giải trí, với những đặc trưng như lối tự sự theo tuyến tính với diễn biến nhanh, các nhân vật có mục đích rõ ràng, những minh tinh màn bạc, kinh phí lớn, kĩ xảo và những cảnh hành động hoành tráng. Nhìn chung, phim Hollywood thường sử dụng nhiều kĩ thuật dàn dựng để tạo ra một ‘ảo ảnh’ của hiện thực và để khán giả dễ dàng theo dõi câu chuyện. Tuy nhiên, có nhiều ý niệm về chủ nghĩa hiện thực (realism) khác cũng rất phổ biến trên thế giới.

Rome Open City (đạo diễn: Roberto Rossellini)

Rome Open City (đạo diễn: Roberto Rossellini)

Đặc biệt ở châu Âu, nơi có truyền thống gắn kết nhất song cũng luôn tìm cách tự tách biệt mình với Hollywood nhất. Chẳng hạn như trào lưu Tân hiện thực (neorealism), trào lưu làm phim ở Ý những năm 1940, thường quay ngoại cảnh, sử dụng diễn xuất tự nhiên, với diễn viên vô danh hoặc nghiệp dư, và tạo ra những hình ảnh ai cũng biết là kinh phí thấp để nhấn mạnh tới sự ‘thực’ của cảnh tượng. Một số ‘chủ nghĩa hiện thực’ tương tự cũng có thể được nhận thấy ở Điện ảnh Iran mới và ‘Điện ảnh song song’ của Ấn Độ. Thậm chí, người ta nhận thấy rất rõ dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực trong tuyên ngôn ‘về nguồn’ của trào lưu Dogme 1995 ở Bắc Âu (tuyên ngôn của các nhà làm phim muốn tối giản tối đa các kỹ thuật, sử dụng hoàn toàn máy quay cầm tay để diễn tả tính hiện thực của câu chuyện).

Jules and Jim (đạo diễn: Francois Truffaut)

Jules and Jim (đạo diễn: Francois Truffaut)

Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi trào lưu Tân hiện thực và được cách điệu mạnh mẽ, những bộ phim thuộc Làn sóng mới (New Wave) của các ‘tác giả’ (auteur) ở Pháp trong thập niên 1950 và 1960 đã tập trung vào cách tiếp cận ‘lát cắt cuộc sống’ trong khi làm phim và trở thành nguồn cảm hứng lớn cho một loạt Làn sóng mới khác ở châu Âu, và đặc biệt tại Nhật Bản, trong thập niên 1960. Chủ nghĩa hiện thực ngày nay tiếp tục được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như những bộ phim siêu hiện thực như Trainspotting (1996 của Danny Boyle) hay của trào lưu cinema de look ở Pháp hiện tại. Trong khi đó, chủ nghĩa siêu thực cũng vẫn là một lực đẩy sáng tạo mạnh mẽ ở nhiều nơi tại châu Âu, đặc biệt là Tây Ban Nha và CH Séc. Trong khi đó, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cũng là một dòng chảy mạnh mẽ khác nữa ở các nước Mỹ Latinh.

Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện thực cũng chỉ là một thủ pháp trong điện ảnh và chủ nghĩa hiện thực phương Tây ‘cũng chỉ là một dải trong lớp quang phổ mĩ học rộng lớn hơn’. Ở châu Á và Trung Đông, những hình thức phổ biến nhất của điện ảnh bản xứ lại có khuynh hướng phản hiện thực, fantasy và mang nặng tính giải trí, chẳng hạn như điện ảnh đại chúng ở Ấn Độ, các bộ phim ‘chưởng’ phổ biến ở Trung Quốc và Hong Kong, hay phim hoạt hình ở Nhật Bản. Xu hướng chung ở điện ảnh châu Á là chối bỏ sự bắt chước thực tại thuần túy, và thông qua nhiều hình thức để biểu hiện rằng thời gian mang tính tuần hoàn hơn là tuyến tính.

 

Độc lập để phát triển

Pigs Battleships (đạo diễn: Shohei Imamura)

Pigs Battleships (đạo diễn: Shohei Imamura)

Có lẽ ngoài Hollywood, các nền điện ảnh châu Á cũng bị ‘kìm kẹp’ nặng nề nhất bởi hệ thống studio. Tuy nhiên, khác với người Mỹ, các xuởng phim tại Nhật lại cho phép đạo diễn và biên kịch nhiều quyền kiểm soát hơn. Chính điều này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của Làn sóng mới của điện ảnh Nhật Bản thập niên 1960, với những tên tuổi như Nagisa Oshima hay Shohei Imamura. Trong thập niên 1970, khi không thể cạnh tranh nổi với các bộ phim Hollywood Mới (áp dụng nhiều thủ pháp làm phim độc lập và phong cách nghệ thuật của điện ảnh thế giới), nhiều studio ở Nhật quyết tâm giành lại khán giả bằng mọi cách, kể cả sản xuất phim khiêu dâm. Nhiều đạo diễn độc lập nổi tiếng nhất nước Nhật ngày nay, như Kiyoshi Kurosawa, cũng từng tham gia làm nhiều bộ phim B như thế. Đơn giản là bởi, dù với điều kiện phải có ít nhất 6 cảnh… sex và thực hiện trong một thời gian ngắn ngủi với số tiền ít ỏi, họ được toàn quyền tự do sáng tạo nên 1 bộ phim.

Crazy Stone (đạo diễn: Ning Hao)

Crazy Stone (đạo diễn: Ning Hao)

Tại Trung Quốc Đại lục, người hâm mộ điện ảnh nước này đón chào thế hệ đạo diễn thứ 6 cùng nhiều nhà làm phim trẻ khác như Vương Tiểu Soái, Giả Chương Kha, Lâu Diệp đã bước vào ‘độ chín’ trong sự nghiệp. Giờ đây điện ảnh Trung Quốc đã xuất hiện những bộ phim ngầm (underground) với kinh phí cực thấp, được sản xuất bên ngoài hệ thống studio chính thức. Đặc biệt trong một thập kỉ qua, những bộ phim thực hiện bằng máy quay kĩ thuật số như của Vương Binh đã tạo nên cả một Trào lưu Phim tài liệu mới cực kỳ nổi bật và ấn tượng ở Trung Quốc. Trong khi đó, ở điện ảnh Hoa ngữ, những Làn sóng mới ở Đài Loan và Hong Kong cũng mang lại cho người xem những bộ phim có phong vị khác hẳn với thể loại phim hài, võ thuật và xã hội đen đậm tính thương mại khác. Những cái tên như Thái Minh Lượng, Dương Đức Xương, Hầu Hiếu Hiền… đều đã được coi như những nhà làm phim bậc thầy của thế giới.

Life Is Cool ( đạo diễn: Choi Equan & Choe Seung-won), bộ phim hoạt hình Hàn Quốc làm theo kỹ thuật Rotoscope - vẽ trên phim quay người thật

Life Is Cool ( đạo diễn: Choi Equan & Choe Seung-won), bộ phim hoạt hình Hàn Quốc làm theo kỹ thuật Rotoscope - vẽ trên phim quay người thật

Điện ảnh Hàn Quốc phát triển rực rỡ trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, học tập theo nước Mỹ, phim của quốc gia này nhiều về cả số lượng lẫn thể loại, với chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật rất cao. Tuy các nhà kinh doanh điện ảnh xứ Kim chi rất chú trọng vào việc hút khách, nhưng họ cũng dành ra một khoảng không gian rất rộng cho các tài năng trẻ và các đạo diễn thành danh được làm những bộ phim nghệ thuật đặc sắc. Có thể nói khuynh hướng phim độc lập ở Hàn Quốc là rất rõ nét. Tuy vậy, giữa phim độc lập và phim thương mại có sự giao thoa về nhân sự, thậm chí cả nhà sản xuất, cho nên có thể nói hai dòng phim này gắn bó khăng khít như hai bàn tay đan vào nhau vậy.

Pather Panchali (đạo diễn: Satyajit Ray)

Pather Panchali (đạo diễn: Satyajit Ray)

Với hơn 900 bộ phim được sản xuất mỗi năm, với khoảng ¼ trong số này được sản xuất tại Bollywood, có lẽ Ấn Độ là nền điện ảnh năng suất nhất thế giới. Vấp phải ít sự cạnh tranh nhất từ Hollywood, những bộ phim Bollywood mang tính thương mại rất rõ, với motif đơn giản lặp đi lặp lại hết phim này đến phim khác. Chính vì thế, nó lại càng làm nổi bật những bộ phim của ‘điện ảnh song song’ nghệ thuật và ‘auteur’ hơn nhiều hơn của điện ảnh tiếng Bengal hay Malayama, với những cây đại thụ như Satyajit Ray, Ritwik Ghatak, Mrinal Sen, John Abraham…

Nền điện ảnh thứ ba

Chỉ trích phong cách làm phim thuần túy giải trí moi tiền khán giả của Hollywood (Nền điện ảnh thứ nhất) lẫn điện ảnh nghệ thuật xuất phát từ Âu-Mỹ (Nền điện ảnh thứ hai) là quá tập trung vào những biểu hiện cá nhân của đạo diễn-‘tác giả’, trào lưu ‘Nền điện ảnh thứ ba’ xuất hiện mạnh mẽ tại Mỹ Latinh thập niên 1960-1970 qua bản tuyên ngôn đanh thép ‘Hướng đến một nền điện ảnh thứ ba’.

El Viaje (đạo diễn: Fernando Solanas)

El Viaje (đạo diễn: Fernando Solanas)

Trong bản tuyên ngôn này, hai đạo diễn người Argentina, Fernando Solanas và Octavio Getino đã đưa ra những khái niệm phân biệt Nền điện ảnh thứ nhất (điện ảnh thương mại, của các studio dựa theo hình mẫu Hollywood), Nền điện ảnh thứ hai (điện ảnh nghệ thuật châu Âu và điện ảnh tác giả), và Nền điện ảnh thứ ba. Ở đây, Nền điện ảnh thứ ba bác bỏ quan điểm coi điện ảnh là một phương tiện bày tỏ quan điểm cá nhân, mà thay vào đó, đạo diễn chỉ là một phần của tập thể, và tính chiến đấu mạnh mẽ trong phim đóng vai trò tối quan trọng. Chủ lực của ‘Nền điện ảnh thứ ba’ là các nhóm làm phim Grupo Cine Liberación ở Argentina, Cine de la Base của Raymundo Gleyzer, Cinema Nôvo ở Brazil, điện ảnh cách mạng Cuba và đạo diễn Bolivia Jorge Sanjinés.

Bất chấp việc suy tàn của các nền điện ảnh chính trị hóa trong thập niên 1970, ý niệm về Nền điện ảnh thứ ba vẫn là nguồn cảm hứng lớn cho nhiều trào lưu làm phim đương đại. Và với tư cách là một hình thức làm phim xuyên quốc gia, Nền điện ảnh thứ ba dứt khoát đã đặt một nền móng quan trọng cho ‘điện ảnh thế giới’.

 

Đào Diệu

 
4 Comments

Posted by on 15/02/2011 in Features

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 45 other followers