RSS

Category Archives: On Screen

Long Môn phi giáp (2011) – Khẳng định vị thế Nhất đại tông sư

Thể loại: Hành động / Võ thuật
Đạo diễn
: Từ Khắc
Diễn viên chính
: Lý Liên Kiệt, Châu Tấn, Trần Khôn

Trong số các đạo diễn tên tuổi của điện ảnh Hoa ngữ, có lẽ Từ Khắc là người bị nhìn nhận “bất công” nhất trên thước đo nghệ thuật, ít ra là ở Việt Nam. Người mê Vương Gia Vệ, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca thì nhiều; chứ thích, yêu, và trân trọng Từ thì tôi hiếm thấy có mấy ai. Con đường Từ chọn khiến ông dễ chịu thiệt thòi, và lần này cũng vậy.

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 04/01/2012 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , , ,

Tối nay 8 giờ! (2011) – Bình mới, rượu cũ

Thể loại: Hài hước / Lãng mạn
Đạo diễn
: Lê Hoàng
Diễn viên chính
: Hoàng Phi, Miu Lê, Tùng Lâm

Lê Hoàng là một trường hợp khá đặc biệt trong ngành giải trí Việt Nam. Được biết đến với vai trò đạo diễn nhưng 10 năm trở lại đây, ông lại nổi tiếng hơn với việc viết báo, tham dự các sự kiện tại Sài Gòn và trở thành một giám khảo đắt show của các chương trình truyền hình ăn khách. Giáng sinh năm nay, đông đảo người hâm mộ ông đã trông chờ vào Tối nay 8 giờ! – bộ phim hài có Miu Lê – nàng thơ mới tham gia diễn xuất. Và chỉ sau vài ngày trình chiếu tại hệ thống rạp trên toàn quốc, ấn tượng của bộ phim đã trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết…

Read the rest of this entry »

 
 

Tags: , , , , ,

Hotboy nổi loạn lạc lối trong thiên đường…

Thể loại: Tâm lý
Đạo diễn: Vũ Ngọc Đãng
Diễn viên chính: Hồ Vĩnh Khoa, Lương Mạnh Hải, Phương Thanh, Hiếu Hiền, Linh Sơn

Không phải bộ phim Việt Nam nào cũng được vinh dự mời tham dự một liên hoan phim tầm cỡ như Toronto và trở thành bộ phim đầu tiên từ mảnh đất hình chữ S được một công ty danh tiếng như Fortissimo Films phát hành như Hotboy nổi loạn và câu chuyện về thằng Cười, cô gái điếm và con vịt (viết tắt: HBNL). Chỉ chừng đó cũng đủ khiến những người hâm mộ điện ảnh Việt Nam háo hức; chưa kể cái tên người đạo diễn – Vũ Ngọc Đãng – đã trở nên quá quen thuộc đối với khán giả đại chúng. Tuy còn đôi chút nghi ngờ vì bộ phim được thực hiện khá gấp gáp (không kể thời gian tiền kỳ), hầu hết ai cũng hi vọng vào một bộ phim Việt Nam chất lượng tương đương thế giới, một tinh thần độc lập, một giá ­trị thương hiệu trong một năm mà nổi bật nhất chỉ là các dự án thương mại thắng lớn và các “thảm họa.”

Read the rest of this entry »

 

Tags: , , , , , , ,

X-Men: First Class (2011) – Tham vọng và thất bại

Thể loại: Phiêu lưu / Hành động / Khoa học viễn tưởng
Đạo diễn
: Matthew Vaughn
Diễn viên chính
: James McAvoy, Michael Fassbender, Jennifer Lawrence, Kevin Bacon

(Xin lưu ý: bài viết này có kể một số tình tiết chính của bộ phim)

X-men: First Class (tạm dịch: X-Men: Lứa Đầu), dùng tựa để đặt tiền đề về nội dung: rằng đây sẽ là một “hồi trước”, là thời khởi đầu, là thời của đấu tranh nội tại và trưởng thành, là thời của mông muội và nhận thức, là thời ẩn chứa câu trả lời cho những bí ẩn phía trước. Rõ ràng, tích hợp được tất cả những điều hấp dẫn trên, thì quả là tham vọng và cũng thật tài tình. Tuy nhiên, thật đáng tiếc khi chỉ có tham vọng mà chưa thật tài tình, vì những gì xuất hiện trên màn ảnh quả đã không còn hấp dẫn như ta nghĩ nữa.

Sebastian Shaw

Ngày xưa, trên gót chân, Asin dũng mãnh xông pha trận mạc, thế rồi cũng vì gót chân mà Asin bị giết chết. Ở đây, dàn nhân vật Dị Nhân trong phim, chính là “gót chân Asin”, là công cụ đẩy câu chuyện diễn tiến, cũng là tử huyệt của bộ phim.

Read the rest of this entry »

 
15 Comments

Posted by on 29/06/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , , , ,

True Grit (2010) – Viễn Tây là thế

Thể loại: Tâm lý / Viễn Tây
Đạo diễn
: Ethan Coen, Joel Coen
Diễn viên chính
: Jeff Bridges, Hailee Steinfeld, Matt Damon, Josh Brolin

Mở đầu bằng câu tục ngữ, “Kẻ xấu bỏ chạy ngay cả khi không có ai đuổi theo”, True Grit kéo người xem đi thẳng vào câu chuyện của cô bé gái 14 tuổi Mattie Ross tìm cách báo thù cho cha sau khi ông bị Tom Chaney, kẻ mà ông đã thuê để giúp gây giống ngựa, bắn chết. Hắn “cướp đi mạng sống của ông, cướp đi con ngựa của ông và cả hai miếng vàng California ông mang trong túi quần”. Trong cuộc hành trình rong ruổi truy tìm kẻ sát nhân đó, Mattie còn có hai người bạn đồng hành là cảnh sát trưởng Rooster Cogburn dày dặn kinh nghiệm và chàng kị binh Laboeuf trẻ tuổi đến từ vùng Texas.

Không dài dòng lôi thôi, anh em nhà Coen đã chọn cách dẫn truyện đơn giản nhưng rõ ràng, mạch lạc, để bộ phim không trở nên kén người xem và khán giả cũng có thể dễ dàng nắm bắt cốt truyện. Ngay bản thân bộ phim thuộc mô-típ báo thù, vốn khá quen thuộc trong điện ảnh, nhưng một lần nữa lại đem đến nhiều điều thú vị khi được đặt trong không gian miền Tây nước Mỹ.

Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 23/06/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , , , , ,

Super 8 (2011) – Những cuốn phim 8mm và một con quái vật

Thể loại: Phiêu lưu / Kì bí / Khoa học viễn tưởng
Đạo diễn: J.J. Abrams
Diễn viên chính: Joel Courtney, Ryan Lee, Elle Fanning, Riley Griffiths, Kyle Chandler

Hoài cổ. Đó là từ mà cả nhà sản xuất Steven Spielberg và đạo diễn J.J Abrams đều nhắc đến khi nói về Super 8, bộ phim hè mới nhất của bộ đôi ăn ý này. Super 8 vốn là tên thương hiệu của loại phim 8mm do Kodak sản xuất, dùng phổ biến cho các loại máy quay nhỏ, dành cho gia đình, rất phổ biến tại Mỹ trước khi băng video ra đời. Dòng sản phảm này được tung ra thị trường năm 1965 và rất nhanh chóng dẫn dắt một thế hệ trẻ em bước vào thế giới của những cú máy. Nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà làm phim nổi tiếng như chính bản thân J.J Abrams. Không có gì lạ khi đạo diễn này nói rằng tất cả những nhân vật nhí trong phim đều có một phần của anh: một đám trẻ tụ lại để làm một bộ phim về xác sống. Hoài cổ còn là để nhắc đến những dấu ấn của Steven Spielberg: ngay từ trong đoạn trailer khá úp mở (như vẫn thường thấy ở J.J Abrams), khán giả của những bộ phim trong thập niên 80 có thể nhận ra sự tương đồng của Super 8 với Close Encounters of the Third Kind (1977), E.T. (1984) và The Goonies (1985 – Spielberg viết kịch bản). Quả thực, có thể tóm gọn Super 8 lại như sau: một E.T. của thế kỷ XXI với kỹ xảo mãn nhãn trong một không khí kinh dị rất hiện thực như Jaws.

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 11/06/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , , ,

Black Swan (2010) – Nhị trùng tính cách

Thể loại: Tâm lý / Rùng rợn / Bí ẩn
Đạo diễn: Darren Aronofsky
Diễn viên: Natalie Portman, Mila Kunis, Vincent Cassel

Không dễ dàng để hiểu ngay Black Swan (Tựa Việt: Thiên nga đen). Không phải chỉ một lần đến rạp là có thể tin cậy vào cảm xúc của mình. Black Swan là sự hấp dẫn ngấm ngầm, đến sau, một sự gây mê đầy xáo trộn khi tiếp cận nó vào những thời khắc khác nhau. Và trong một mùa Oscar mà những The King’s Speech, True Grit hay 127 Hours nghiêng về mô tả kiểu hành động của nhân vật người hùng đậm chất Hollywood, nhất là ở khía cạnh vượt qua bản thân, thì Black Swan, tuy cũng nằm trong âm hưởng đó nhưng trở nên gai góc, phức tạp hơn khi thăm dò đời sống tâm lí, những vỉa tầng tính cách còn ẩn giấu trong mỗi con người.

Phản-thiên nga

Thiên nga đen không phải là một nhân vật được trù bị sẵn. Chính xác hơn đó chỉ là một ý niệm nghệ thuật khi hình tượng thiên nga trắng đã trở nên quá quen thuộc với công chúng khán giả. Xây dựng thiên nga đen thực chất là ý thao tác phản-hình tượng, một việc làm đã trở nên quen thuộc, chẳng hạn ở văn chương hiện đại, về cái gọi là “cố sự tân biên” (chuyện xưa viết lại), nhằm thỏa mãn những cách hiểu khác nhau về một đối tượng tưởng chừng đã cạn kiệt mọi cảm hứng. Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 15/05/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , , , ,

Sài Gòn Yo! (2011) – Một tiếp nối tình yêu chưa trọn vẹn

Thể loại: Tâm lý
Đạo diễn: Stephane Gauger
Diễn viên: Quỳnh Hoa, Vân Trang, Khương Ngọc

Khá hơn hẳn Vũ điệu đam mê về câu chuyện và diễn xuất, nhưng Sài Gòn Yo vẫn chưa thể hoàn toàn thuyết phục người xem, cho dù công bằng mà nói, đây là một bộ phim có…

Hình thức không đến nỗi nào

Dù là một phim kinh phí thấp, được quay bằng máy kỹ thuật số cầm tay song Sài Gòn Yo vẫn đảm bảo chuẩn âm thanh và hình ảnh của một bộ phim chuyên nghiệp. Ánh sáng của phim khá đẹp, những cảnh quay trong phòng tối vẫn được đảm bảo về độ nét và sự chân thực của khung hình. Quay phim cũng chịu khó tìm tòi nhiều khung hình ấn tượng của Sài Gòn nên đã đưa đến cho người xem những hình ảnh sống động về những buổi chơi đêm, các buổi biểu diễn đường phố hay một lớp học múa lụa ngoài trời thú vị. Máy cầm tay của Stephane lần này không chơi vơi, chao đảo đến mức khó chịu như trong Cú và se sẻ nên khán giả không thấy chóng mặt, dễ dàng theo dõi câu chuyện hơn.

Các cảnh vũ đạo của phim cũng được dàn dựng khá sáng tạo và ngẫu hứng theo đúng tinh thần Hip Hop. Kỹ thuật nhảy điêu luyện của Quỳnh Hoa, Anh Hiền, Zen4… với sự dàn dựng của Ricky Cole – một vũ công đẳng cấp quốc tế đã phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, việc lạm dụng quá nhiều cận cảnh và kỹ thuật slow motion đã khiến sức hấp dẫn của các bước nhảy và kịch tính các trận đấu giảm đi đôi phần. Nhưng bù vào đó là không khí căng thẳng từ vẻ mặt lạnh lùng, hầm hố của những vũ công, giúp người xem hình dung rõ hơn về thực tế của Hip Hop Sài Gòn hiện đại.

Cũng không thể phủ nhận vẻ tự nhiên đáng yêu của các diễn viên trong phim. Bấm máy trước Cô dâu đại chiến hay Bóng ma học đường khá lâu, sự xuất hiện của Vân Trang hay Elly Trần tuy còn bỡ ngỡ nhưng cũng tạo được ít nhiều sự thích thú. Nụ cười rạng rỡ của Vân Trang, nét ngỗ nghịch đáng yêu của Quỳnh Hoa, sự điệu đà phù phiếm của cô tiểu thư Elly hay vẻ đẹp trai công tử của Khương Ngọc đều tạo nên cảm giác chân thật.

Phim cũng gây được ấn tượng nhờ hàng loạt những ca khúc Rap Việt có phần lời và giai điệu khá dễ thương của những đại diện Hip Hop Sài thành như Suboi, Rapsoul, Trúc Duy… sáng tác. Vì thế, xét về mặt hình ảnh hay âm thanh, Sài Gòn Yo rất dễ gây cảm xúc, hoàn toàn đạt chuẩn để phát hành ở nước ngoài. Chỉ có điều…

Nội dung phim rời rạc

Nếu ai đã từng yêu mến lối kể chuyện giản dị nhưng xúc động của Cú và se sẻ thì sẽ thấy ít nhiều nuối tiếc với câu chuyện có quá nhiều lát cắt nhưng không có lát cắt nào nổi bật của Sài Gòn Yo.

Nhân vật Mai của Vân Trang dù được xếp là nhân vật chính nhưng đất diễn khá hạn hẹp. Mai là một cô gái trẻ đam mê múa lụa, thất bại trong vòng thi tuyển vào trường, đi làm quán cơm, tiếp thị rồi gặp Kim, dễ dàng bị cuốn vào những đam mê và cả bi kịch tình yêu của cô bạn này. Xung quanh Mai có những người tốt, thật tốt như ông chủ cho thuê trọ, anh chàng Do Boy của trưởng nhóm Saigon Fresh, đám trẻ con học múa luạ dễ thương vô cùng… và cũng có những người xấu, thật xấu như nhóm nhảy đến từ… Hà Nội, hở ra lúc nào là thấy gây gổ lúc đó.

Thế nhưng, sự kết nối giữa những câu chuyện thú vị ấy lại khá yếu ớt. Nhiều lần, tình huống đang ở cao trào thì không được giải quyết đến tận cùng mà lại chuyển sang hướng khác khiến người xem hụt hẫng. Mai và Do Boy tình cờ gặp được Kim trong vũ trường ngay khi cô bị ngất vì sốc thuốc. Bác chủ nhà trọ đột nhiên thông cảm với Kim sau đêm Mai mang cô bé về nhà. Nhóm nhảy có lại được chỗ tập chỉ sau một buổi nói chuyện của bác chủ nhà – vốn là một nghệ sỹ lớn với những mối quan hệ quen biết. Mai cũng có được cơ hội mới vì sự giúp đỡ kiểu đó… Tất cả khó khăn của nhân vật chính được giải quyết dễ dàng đến mức họ không có cơ hội để chứng tỏ nỗ lực, sự thay đổi hay trưởng thành sau mỗi biến cố.

Điểm cộng đáng kể nhất của kịch bản chính là lối thoại tự nhiên, sống động của các nhân vật. Stephane là người viết kịch bản, nhưng người viết thoại là một ghost writer (người viết giấu mặt) dân Sài Gòn chính hiệu. Sau đó, thoại tiếp tục được các diễn viên chỉnh sửa, thêm thắt cho gần với tính cách nhân vật nhất.

Một tiếp nối tình yêu đẹp chưa trọn vẹn

Nếu ai đó đã từng yêu mến sự giản dị của Cú và se sẻ, chắc sẽ có ít nhiều hụt hẫng khi đến với Sài Gòn Yo. Có cảm giác đạo diễn vẫn mâu thuẫn giữa việc muốn thực hiện một bộ phim cho đông đảo khán giả trẻ với việc thể hiện điểm nhìn của anh – một người đi xa về, đang cố tìm hiểu sâu hơn về đời sống Sài Gòn.

Sài Gòn Yo đáng lẽ sẽ đến với khán giả dễ dàng hơn nếu như không sa đà vào quá nhiều chi tiết để rồi tạo nên một cốt truyện khá thiếu logic. Dù những nhà làm phim đã nói rằng bộ phim không có tham vọng khái quát hay đưa ra những thông điệp quá lớn lao về những người trẻ ngày hôm nay, mà đơn giản như những lát cắt nhanh, gọn từ những gì mà rất có thể chúng ta vẫn từng chứng kiến nhưng dễ bỏ qua … Song trên thực tế những lát cắt ấy chưa đủ sức mạnh mà bị tản mạn bởi đạo diễn đã quá tham chi tiết.

Stephane Gauger cũng đã quá sức khi cố gắng dung hòa tính cách Mỹ của mình với khát khao được công nhận mình là người Việt. Màn trống hội, múa lụa không mấy ăn nhập với những điệu nhảy Hip Hop mạnh mẽ, ngẫu hứng, vì thế, phần nào làm những câu chuyện của các nhân vật chính rẽ theo những hướng khác nhau.

Một điều đáng tiếc nữa là trong Sài Gòn Yo xuất hiện một loạt quảng cáo của Samsung hay cà phê Highlands được cài cắm một cách khá lộ liễu và gây phản cảm đa phần khán giả. Vân Trang dù có được vẻ tươi tắn và nụ cười kiểu Tăng Thanh Hà nhưng sự thiếu tiết chế trong diễn xuất khiến người đẹp thua hẳn những diễn viên không chuyên như Quỳnh Hoa, Anh Hiền…

Cũng không thể phủ nhận sự ấm áp mà Stephane đã truyền cho người xem qua các thước phim, nhưng như thế là chưa đủ. Hy vọng trong tương lai, Stephane Gauger sẽ tìm được cho mình một lối kể chuyện đặc sắc hơn, để người xem không chỉ bị thuyết phục bởi sự nhân hậu mà còn thấy ở anh một cái đầu lạnh cần thiết của người đạo diễn.

Bài viết trên tạp chí 2! số 207

 
1 Comment

Posted by on 02/05/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , , ,

Rừng Nauy (2010) – Kể chuyện Murakami kiểu Trần Anh Hùng

Thể loại: Tâm lý
Đạo diễn: Trần Anh Hùng
Diễn viên: Rinko Kikuchi, Kenichi Matsuyama, Kiko Mizuhara

Thật khó để viết về phim Rừng Nauy mà không so sánh với cuốn sách gốc cùng tên của Murakami Haruki – một tác phẩm không chỉ là cuốn sách cuộc đời của hàng chục triệu người Nhật Bản mà còn chia sẻ với trái tim thương tổn của rất nhiều người trẻ tuổi trên khắp thế giới. Sau khi ra mắt ở Venice, rất nhiều nhà phê bình đã khen ngợi bộ phim này, nhưng đồng thời cũng có những người so sánh bộ phim với cuốn sách và coi rằng đây là một sự thất bại. Vậy Rừng Nauy của Trần Anh Hùng có thực sự là nỗi thất vọng so với cuốn sách? Câu trả lời chắc chắn là không!


Trong một lần trả lời phỏng vấn, Trần Anh Hùng chia sẻ rằng Murakami đã để lại một lời nhắn cho anh trên kịch bản: “Hãy cứ làm bộ phim như anh tưởng tượng. Việc anh phải thực hiện là tạo ra một bộ phim đẹp nhất có thể.” Và đây là điều mà Trần Anh Hùng đã thực sự làm được cùng với các đồng nghiệp của mình: tạo ra được một bộ phim Rừng Nauy với nỗi buồn và cái đẹp – một bộ phim vừa thể hiện được ý tưởng của cuốn sách, vừa rất đặc trưng cho phong cách của anh.

Bộ phim giữ lại câu chuyện như trong tác phẩm văn học: Sau cái chết của người bạn thân, Toru rời khỏi quê nhà lên Tokyo, nơi anh gặp lại và đem lòng yêu đơn phương Naoko – người yêu của cậu bạn đã qua đời. Sau một đêm đón nhận Toru, Naoko đột ngột bỏ đi không một lời giải thích. Giữa lúc chìm ngập trong hàng ngàn câu hỏi, Toru gặp được Midori – cô gái tràn đầy sức sống, lòng lạc quan và khao khát. Cuộc sống của Toru từ đó chia thành hai nửa, một bên là Naoko chia sẻ cùng anh nỗi đau của tâm hồn, một bên là Midori với tình yêu sống động. Tuy nhiên, thế giới thực sự của Toru vẫn là sự chênh vênh của tuổi trẻ, với nỗi băn khoăn đi tìm lời đáp cho câu hỏi, “tôi đang ở đâu?”

Dù nằm trong tầm ngắm của nhiều đạo diễn, nhưng dễ thấy rằng Rừng Nauy không phải là một tác phẩm văn học dễ dựng thành phim bởi yếu tố tâm lý đậm đặc, và sự xuất hiện liên tục của các bức thư. Việc phải viện tới lời kể chuyện trong phim gần như là một điều hiển nhiên bởi không dễ dàng gì (nếu không nói là bất khả) để miêu tả “chút khí vón lại” trong tâm tưởng Toru sau khi Kizuki chết, hay cảm giác về “nghi lễ hàn gắn tâm hồn bị tổn thương” của anh trong những lần đi dạo cùng Naoko… Tuy nhiên, Trần Anh Hùng đã biến điều này thành điểm mạnh của mình, bởi vì anh kết hợp những lời kể bằng cùng những cảnh quay ngắn, nối tiếp trong một cách chuyển động máy quay tạo cảm giác mượt mà như một dòng chảy; bản thân những hình ảnh ấy lột tả được phần nào đó tâm lý nhân vật. Ở điểm này, Rừng Nauy cho thấy sự nhất quán xuyên suốt trong cách kể chuyện qua nhiều phim của Trần Anh Hùng, đồng thời cũng gợi nhắc lại về phong cách làm phim tương tự trong bộ phim chuyển thể từ truyện của Murakami trước đây: Toni Tanitaki. Có lẽ các đạo diễn, bằng một cách nào đó, đều đi đến một quyết định chung trong việc sử dụng hình ảnh để miêu tả tâm lý nhân vật “kiểu Murakami”.

Ngoài ra, để miêu tả được tâm lý nhân vật sâu sắc hơn, Trần Anh Hùng còn chủ ý nhấn mạnh vào tính tương phản giữa cá nhân Toru và cuộc sống xung quanh anh. Trong khi Murakami chỉ miêu tả về đời sống nổi loạn của sinh viên trong bối cảnh chính trị biến động rất ngắn gọn và đôi chút mơ hồ, thì Trần Anh Hùng dành hẳn một cảnh quay dài để nói về điều này. Trong phim, Toru đã bước đi giữa hàng trăm sinh viên khác đang hô hào, vác gậy gộc hăm hở, ào ào đổ về từ tất cả các ngả đường, nhưng anh vẫn lẳng lặng bước đi với khuôn mặt buồn không đổi khác, vừa thờ ơ vừa lẩn tránh. Khuôn mặt ấy vẫn giữ nguyên khi những sinh viên khác chạy thẳng vào lớp bi kịch Hy Lạp của anh để đòi giáo sư cho phép thảo luận chính trị. Sự im lặng của anh biến anh thành người khác biệt trong cô độc. Có lẽ đây là cách để mô tả nỗi cô đơn của riêng điện ảnh, điều mà muốn miêu tả hết, nhà văn hẳn sẽ phải tốn thời gian viết lách hơn nhiều.

Và cũng nằm trong nỗ lực miêu tả lại được những nhân vật “kiểu Murakami” này, bộ phim đã tập hợp được những diễn viên trẻ tài năng của Nhật Bản trong đó nổi bật nhất là Rinko Kikuchi và Kenichi Matsuyama. Rinko Kikuchi không làm người xem thất vọng với khả năng lột tả lại được một Naoko đầy đau đớn, bế tắc mà vẫn dịu dàng xinh đẹp. Chẳng có gì ngạc nhiên khi cô là diễn viên nữ được quay đặc tả nhiều nhất bởi khả năng thể hiện cảm xúc của cô khiến cho khán giả không thể không day dứt cùng nhân vật. Toru, nhân vật trung tâm của bộ phim cũng được thể hiện xuất sắc qua diễn xuất của Kenichi Matsuyama. Anh đã để cho người xem thấy được hình ảnh của một thanh niên thập kỷ sáu mươi, với ánh mắt hoang mang, với sự mất mát của tâm hồn, nỗi cô đơn cá nhân giữa những sinh viên quá khích xung quanh mình, và nỗi đau đớn bật lên thành tiếng gào khi mất đi người mình yêu dấu. Ngoài ra, ấn tượng cũng đến từ diễn xuất của Eriko Hatsune trong vai Hatsumi. Dù trong phim nhân vật này chỉ xuất hiện rất ít, nhưng cô đã thực sự tỏa sáng trong những cảnh quay dành cho riêng mình với phong thái lịch thiệp, nhã nhặn, khuôn mặt và ánh mắt toát lên nỗi đau khổ và hạnh phúc đan lồng. Tuy vậy, có thể nhân vật Midori do nữ diễn viên trẻ Kiko Mizuhara đảm nhận sẽ không thực sự làm người hâm mộ cuốn sách của Murakami Haruki thỏa lòng. Mizuhara đã diễn tả được vẻ đẹp tươi trẻ, trái tim lưu giữ tình yêu trong sáng, thậm chí vẫn dùng ngôn ngữ đối thoại y hệt như tác phẩm văn học, nhưng cô vẫn là Midori của Trần Anh Hùng, với phong cách diễn xuất kìm nén có thể sẽ gợi cho bạn về các nhân vật nữ chính trong những bộ phim khác của anh hơn là nhân vật đầy sôi nổi của Murakami.

Dưới sự đạo diễn của Trần Anh Hùng, Rừng Nauy còn là một bộ phim đẹp. Thời gian trong bộ phim của anh kéo dài từ mùa xuân, qua mùa hè, tới mùa đông. Mùa xuân đến khi Naoko vẫn còn bên anh, và rồi mùa hè mang theo Midori, cho dù tất cả lại kết thúc trong mùa đông lạnh giá. Dù là ở mùa nào, thiên nhiên Nhật Bản trong Rừng Nauy vẫn hiện lên với vẻ thanh khiết, gợi cảm, kể cả khi bối cảnh được lựa chọn là những bờ biển hoang vắng, chỉ có đá và nước. Những cảnh quay đan cài về cánh đồng bát ngát, những ngọn cỏ run rẩy, tuyết trắng vừa tạo ấn tượng hình ảnh đẹp và trữ tình cho phim, vừa góp phần thể hiện cho những thế giới tinh thần của nhân vật. Bên cạnh đó, khi xem phim, khán giả còn có cơ hội chiêm ngưỡng những trang phục lịch thiệp, trang nhã vừa đặc trưng cho thập kỷ 60 của Nhật Bản, vừa vẫn rất hiện đại đủ để mang lại cho người xem cảm giác câu chuyện ấy như đang xảy ra đâu đây…

Với tất cả những nỗ lực vừa để bảo toàn, vừa để biến đổi khỏi tiểu thuyết gốc, Rừng Nauy của Trần Anh Hùng thực sự là một bộ phim không thể bỏ qua. Tuy nhiên, sau tất cả, bạn sẽ nhận ra rằng tác phẩm điện ảnh này, dường như cũng có một phần tính chất của tác phẩm văn học, nó rất hợp để bạn thưởng thức khi chỉ có một mình. Và rất có thể, khi nghe Naoko nói: “Con người ta chỉ nên quay đi quay lại giữa 18 và 19 tuổi… như thế mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn” hay khi bài hát Norwegian wood của The Beatles cất lên, bạn sẽ chợt nhận ra rằng mắt mình đã nhòa lệ, không phải vì Toru, Naoko, Reiko hay Hatsumi mà vì tâm hồn của chính bạn.

Bài viết trên tạp chí 2! Đẹp, số 1/2011

 
Leave a comment

Posted by on 29/04/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , ,

Source Code (2011) – Vòng lặp thời gian của Jake

“Vòng lặp” 10 năm

Khoảng đầu năm 2001, bộ phim Donnie Darko do Jake Gyllenhaal thủ vai chính ra mắt và thất bại ê chề tại các phòng vé. Sau tròn 16 tháng, bộ phim chỉ thu về được vỏn vẹn 4,1 triệu đô-la trên toàn nước Mỹ, lỗ gần 400,000 so với kinh phí ít ỏi được bỏ ra. Mãi cho đến khi được bày bán trên các kệ đĩa DVD, Donnie Darko mới bất ngờ nhận được sự chú ý từ khán giả và sau đó được tôn vinh như một tượng đài điện ảnh đương đại về chủ đề “vòng lặp thời gian”.

Như có một lời nguyền nào đó, đúng mười năm sau, câu chuyện của Donnie Darko lại tái hiện hữu với Jake Gyllenhaal. Lần này là với Source Code, một bộ phim (cũng) có kinh phí thấp, (cũng) lấy đề tài về “vòng lặp thời gian”, (cũng) nhận được phản ứng rất tốt từ các diễn đàn điện ảnh lớn như IMDB, Rotten Tomatoes… nhưng tình hình doanh thu tại phòng vé (cũng) lại vô cùng ảm đạm

8 phút để “cứu thế giới”…

Trong Source Code, Jake Gyllenhaal vào vai Đại Úy Colter Steven, người nhận nhiệm vụ đi ngược thời gian vào trong cơ thể của một người khác trên đoàn tàu sắp sửa bị đánh bom và phải tìm cách ngăn cản chuyện đó xảy ra. Tên bộ phim vốn chính là tên chương trình vi tính sử dụng công nghệ mới nhằm đưa Colter quay về quá khứ. Anh chỉ có đúng 8 phút để tìm ra tên đánh bom cũng như manh mối cho các vụ khủng bố lớn hơn sau đó. Nếu thất bại, Colter sẽ phải làm lại từ đầu. Với mỗi lần ngược thời gian, Colter lại tiến gần hơn đến mục tiêu của mình, và cũng biết thêm một chút về những người khác trên chuyến tàu ấy, bao gồm cả người bạn đồng hành Christina do nữ diễn viên Michelle Monaghan thủ vai.

Trái với quả bom tấn Inception hồi hè năm ngoái, Source Code của đạo diễn Duncan Jones không bỏ ra cả một giờ đồng hồ để giới thiệu về “luật lệ” của thế giới trong phim. Trái lại, ông lựa chọn cách đi thẳng vào nội dung bộ phim ngay từ lúc bắt đầu, và cứ thế đưa đẩy câu chuyện một cách dồn dập cho tới khi nó kết thúc. Thế nên, bộ phim chỉ có một độ dài vừa phải (93 phút), và yêu cầu khán giả phải theo dõi cực kỳ chăm chú để không bỏ sót bất cứ tình tiết nào.

Hãy tin ở Jake!

Có thể coi Duncan Jones là một “tân binh” bởi Source Code mới chỉ là tác phẩm thứ hai của người con trai ca sỹ David Bowie nổi tiếng này. Ông tham gia vào dự án này khá trễ, và một trong những lý do ông nhận lời, ngoài một kịch bản hấp dẫn, chính là Jake Gyllenhaal. Sau khi phim đóng máy, ông không ngớt lời ca ngợi Gyllenhaal bởi vẻ điển trai thu hút cả hai giới cũng như khả năng dẫn dắt khán giả của anh.

Và thực tế cũng đã chứng minh những lời khen của Duncan Jones là hoàn toàn xác đáng. Cuối cùng thì chàng cao bồi Jack Twist trong Brokeback Mountain cũng bứt được lên khỏi những vai diễn tầm tầm trong vài năm gần đây như Prince of Persia: The Sands of Time hay Love and Other Drugs. Bởi Source Code là một bộ phim tràn đầy cảm xúc và Jake Gyllenhaal đã làm chủ được hoàn toàn câu chuyện nhờ khả năng diễn xuất điêu luyện của mình…

Điều đáng tiếc nhất của Source Code có lẽ là sự rút lui bất khả kháng của nhà soạn nhạc Clint Mansell vì giới hạn thời gian. Clint Mansell vốn từng cộng tác với Jones trong phim Moon (2009). Tác phẩm gây tiếng vang gần đây nhất của ông chính là phần nhạc nền trong phim Black Swan (2011).

Bộ phim sẽ được khởi chiếu rộng rãi tại Việt Nam từ ngày 29/4/2011 với tựa Mật mã gốc.

Bài viết trên tạp chí 2! số 205

 
3 Comments

Posted by on 29/04/2011 in On Screen, Preview

 

Tags: , , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 55 other followers