RSS

Category Archives: On Screen

1735 Km (2005) – Âu cũng là cái số

Thể loại: Tâm lý / Lãng mạn
Đạo diễn: Nguyễn Nghiêm Đăng Tuấn
Diễn viên: Khánh Trình, Dương Yến Ngọc

Năm 2004 – 2005, tôi không quan tâm chút nào đến phim ảnh nói chung, tuy nhiên tôi nghe nói có một bộ phim tên như vậy. Tôi cũng đã thử tìm xem có rạp nào ở Hà Nội chiếu hay không, thế nhưng đâu như nó chỉ được chiếu vài buổi theo dạng vé “mời” cho sinh viên xem ở CLB văn hoá thanh niên hồ Thiền Quang. Có lẽ các bạn trẻ ở thủ đô bây giờ không tưởng tượng được kiểu chiếu phim đó, có lẽ tôi thuộc vào cái thế hệ cuối cùng được chứng kiến kiểu chiếu phim bao cấp ấy ở cái đô thị cấp đặc biệt này, trong cái thế kỷ 21 tối tân này (có bạn thậm chí bộc bạch là từ lúc đủ lớn để biết đi xem phim, bạn chưa đi xem rạp nào khác ngoài MegaStar). Đấy vẫn còn là thời kỳ của internet dial-up tít te tạch xè, tốn chắc cả trăm nghìn tiền cước chỉ để download 1 bài hát 4mb vì nó đồng nghĩa với việc buôn điện thoại chừng 4-6 tiếng (mẹ của bạn không thể gọi điện cho bố bạn trong thời gian đó, đương nhiên!). Đó là một thời kỳ nguyên thuỷ hoang dã văn hoá và điện ảnh Việt Nam sau năm 2000 còn đang chập chững với những bộ phim thương mai đầu tiên, một trong những phim đó là 1735 Km. Thật đáng tiếc là ở thời điểm đó, cá nhân tôi không quan tâm đến sự sống chết của các ông đạo diễn bà biên kịch, tôi ghét những thứ văn nghệ sinh viên, ghét những thứ bố thí và chen chúc để xin xỏ, tôi không thèm đi xem 1735 Km. Theo trí nhớ mong manh thì trên báo chí lúc đó phim này cũng được giới thiệu khá tích cực, nhưng có vẻ như bị chê nhiều sau khi chiếu. Có lẽ những người ở thời điểm đó quan tâm đến đời sống văn nghệ sẽ nhớ rõ hơn tôi. Nhưng chắc chắn là phim thất bại thảm hại, hãng phim giải tán và nghe đâu bác đạo diễn Nguyễn Nghiêm Đặng Tuấn bị sốc nặng. Người hưởng lợi duy nhất chỉ có quay phim Nguyễn K’Linh.

Phải đến khoảng năm 2007-08, tôi xem bộ mới phim này lần đầu qua DVD, bản DVD hiếm hoi mà may quá ở trung tâm TPD có. Lúc đó đương nhiên tình thế đã khác. Internet tốc độ cao, CD 05 Đinh Liệt cung cấp một nguồn phim dồi dào cho dân thủ đô (torrent và P2P cũng đã có, nhưng cũng mới ở giai đoạn phôi thai thôi, tìm phim không dễ như bây giờ), và tôi thì không những là quan tâm đến phim ảnh mà còn đã kịp quyết định ngừng đến trường kiến trúc rồi. Lúc đầu tôi nghĩ là nó sẽ tệ, những người đã xem ở TPD cũng nói là tệ. Nhưng khi mà những người làm 1735 Km ở thời điểm 2004 chỉ bằng và hơn tôi vài tuổi, họ đã một bộ phim road movie (thể loại khá thử thách về mặt sản xuất), thì là một người đã tự cho rằng mình “đứng trong hàng ngũ của phong trào chung”, tôi vẫn bỏ đĩa vào xem. Kết quả là tôi đã… không thể xem được đến hết phim.

Cái đĩa DVD duy nhất ở TPD bị hỏng ở đoạn gần cuối, khúc cô gái bắt đầu thử váy cưới. Vậy đấy, cho đến giờ tôi vẫn không biết chính xác phim kết thúc như thế nào cả, nhưng có một điều tôi khẳng định là phim không hề tệ như báo chí năm 2005 đã chỉ trích. 1735 Km là một bộ phim có những khung hình đẹp, hiện đại, một chút mộng ảo siêu thực, một chút pha trộn thể loại, chỉn chu với một ngôn ngữ kể chuyện rành mạch. Kịch bản thì có lẽ không phải là đặc biết xuất sắc hay có ý tưởng độc đáo, có lẽ hơi thiếu sức nặng, nhưng thật ra cũng đâu cần phải như vậy mới là đáng quý. Câu chuyện rất dễ thương, sến sến và hình tượng nhân vật điển hình không gần lắm với thực tế, nhưng mà thật sự dễ thương. Và kịch bản như vậy tốt hơn rất nhiều so với một tá phim Tết hậu bối của nó, ngay cả kịch bản của phim Tết tốt nhất năm 2011 – Cô dâu đại chiến, cũng kém hơn 1735 Km rất nhiều. Còn phải nói đến phần nhạc phim hay hiếm có do Võ Thiện Thanh sáng tác với những ca khúc như Em sẽ quay về, Con hạc giấy mang âm hưởng nhạc lounge và britpop. 1735 Km là một bộ phim xuất sắc ở thời điểm 2005, một bộ phim đúng nghĩa xinê, nó xứng đáng nhận được sự tán thưởng, nhận được thành công về doanh số và cả những giải thưởng.

[nhạc] Em sẽ quay về

[nhạc] Con hạc giấy


Tuy nhiên, ở vào giai đoạn tiền sử đó, 1735 Km tiếc thay lại là một cánh chim lạc thời. Những người làm chuyên môn có thể làm ra một sản phẩm tốt, nhưng lúc đó nào đã có nhiều những con người biết làm marketing, làm phát hành cho điện ảnh (những người giỏi giang của năm 2011 lúc đó còn trẻ lắm). Giới truyền thông sau nhiều năm không xem phim, (của đáng tội, muốn xem cũng không có và không biết xem ở đâu), mới chỉ quay lại ngó vào điện ảnh với “dòng phim” Gái của đạo diễn Lê Hoàng, chưa đủ tri thức để đánh giá đúng nghệ thuật làm phim (những người giỏi giang của năm 2011, lúc bấy giờ có người còn đang đeo khăn quàng đỏ). 1735 Km ra đời chỉ từ một đam mê làm phim thuần khiết và ngây thơ đơn độc thì sự thất bại của nó là dễ hiểu. Có thể ví 1735 Km như một “chiến sĩ đã anh dũng hi sinh cho phong trào”, một sự hi sinh để biết bao người khác nhìn vào và rút ra bài học trong những khâu sau cùng của một thương vụ điện ảnh. Và để rồi sau khi có Luật điện ảnh 2006 cởi trói cho những nhà làm phim lão luyện, để họ danh chính ngôn thuận hoá thân vào vai của những người kinh doanh cáo già, họ đã gây dựng một thị trường với những khán giả đang dần dần quen với việc đi xem phim Việt Nam, đã có thể tung ra những con số hàng chục tỷ doanh thu mỗi lần phim ra rạp, thì quay nhìn lại năm 2005 với 1735 Km, khó có ai hiểu chuyện mà không thấy cảm khái phần nào. Nếu nhìn vào bản chất, 1735 Km là phim độc lập, đúng cả định nghĩa lẫn tinh thần, đầu tiên ở Việt Nam chứ không phải Bi, đừng sợ (Phan Đăng Di). Có lẽ lý do để nó thất bại lớn nhất ở đây là để độc lập đi đôi với thiếu thốn các nguồn lực.

Thật ra với những trái nghiệm sống cá nhân, tôi đồng cảm kha khá với số phận của 1735 Km. Hãy thấm thía rằng tài năng hay thành công cũng chỉ là tương đối thôi, ở thời điểm này là vàng đấy nhưng ở thời điểm khác cũng chỉ là rác bên lề đường. Cứ thử ví dụ như giáo sư Ngô Bảo Châu mà sinh ra sớm 100 năm ở nước mình, tài năng toán học của anh cũng chẳng để làm gì.  Hay là như Micheal Bay mà sinh ra ở thời Trung cổ, chắc cũng chỉ đi hát rong kể chuyện qua ngày, chết dấp nơi bờ bụi vì dịch hạch hoặc liều thân đi Thập Tự Chinh kiếm ăn, chứ có ở đó mà đòi thành triệu phú được khối. Có lẽ là hơi quá đà rồi, vì số phận của 1735 Km cũng không đến mức thảm hại như thế, phải không nào? Ít nhất thì bộ phim cũng đã cống hiến được một điều gì đó cho sự trở lại của điện ảnh Việt Nam, cho tương lai của nhiều người.

Cũng là nhân dịp mà tại thành phố Hồ Chí Minh, BHD Star Cinema chiếu lại 1735 Km tại rạp này trong chương trình Những ngày phim Việt của họ. Nếu bạn có điều kiện, hãy thử mua vé đi xem 1735 Km (và cả những phim khác như Trăng nơi đáy giếng, Đừng đốt hay Chuyện của Pao) và tự có những đánh giá theo con mắt của năm 2011. Thật sự, 1735 Km không chỉ có giá trị như một kỷ niệm với đôi ba người nào đó về một thời gần mà xa, mà hơn thế nữa, nó xứng đáng được tôn trọng, được nhìn nhận và đánh giá đúng bởi đông đảo công chúng. Các bạn có thể tham khảo lịch chiếu sau:

Tin tôi đi, ít nhất bạn cũng sẽ không thất vọng !

 
5 Comments

Posted by on 12/03/2011 in On Screen, Reviews, Xtras

 

Tags: , , , ,

Khi công chúa hoá…ếch

Chuyện cổ  tích đầu thế kỷ 20

Những ai từng đắm mình trong kho tàng cổ tích của anh em nhà Grimm hẳn vẫn chưa quên câu chuyện về hoàng tử ếch, trong đó một chàng hoàng tử đẹp trai bị phù phép hóa thành ếch, và chỉ khi được một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần cứu giúp, hoàng tử mới có thể trở lại làm người. Dựa trên câu chuyện của anh em nhà Grimm, bộ phim hoạt hình The Princess and the Frog (Công chúa và chàng Ếch) của hãng Disney cũng kể về mối tình kì lạ giữa một mỹ nhân và vị hoàng tử đẹp trai đội lốt ếch, duy có điều nụ hôn của nàng chẳng những không giúp hóa giải thứ phép thuật quái ác cho hoàng tử, mà còn khiến người đẹp phải chịu chung số phận với chàng!

Lấy bối cảnh thành phố New Orleans, Mỹ, thập niên 20 của thế kỷ trước, The Princess and the Frog xoay quanh câu chuyện về chàng hoàng tử Naveen xứ Maldonia đẹp trai, đào hoa và cô bồi bàn xinh đẹp Tiana, người miễn cưỡng chấp nhận trao cho Naveen một nụ hôn “ân huệ” để cứu chàng khỏi lốt ếch xấu xí. Nụ hôn “oan nghiệt” này rốt cuộc lại biến chính người đẹp thành ếch, và sau đó, thay vì sửa soạn cử hành hôn lễ, đôi tình nhân ếch phải dấn thân vào một cuộc hành trình gian nan qua nhiều miền đất kỳ bí để hóa giải thứ phép thuật tai quái, trở về hình dạng con người.

Sự  trở lại của dòng phim 2D

The Princess and the Frog, tác phẩm hoạt hình mới của hãng Walt Disney lần này thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả nhiều lứa tuổi không chỉ bởi cốt truyện vui nhộn kể trên, mà còn vì bộ phim được làm theo công nghệ 2D xưa cũ trong thời buổi hàng loạt phim 3D đang làm mưa làm gió tại các rạp chiếu. Thế nhưng đó chính là ý đồ của John Musker và Ron Clements, cặp đạo diễn từng hợp tác ăn ý trong các tác phẩm thuộc hàng “kinh điển” trong thời kỳ hoàng kim của phim hoạt hình 2D như Nàng tiên cá, Aladdin và Thần đèn, hay Hercules,…Với The Princess and the Frog, hai đạo diễn tài năng muốn làm sống lại không khí của những bộ phim 2D vẽ bằng tay thuở nào, và trên hết, chứng tỏ rằng không phải công nghệ hiện đại, mà chính nội dung và cách thể hiện mới là điều làm nên thành công của một tác phẩm hoạt hình.

Để làm được điều này, John Musker và Ron Clements quyết định đầu tư thật nhiều công sức cũng như tiền của vào nhạc phim, vì âm nhạc theo phong cách kịch Broadway chính là một đặc trưng của dòng phim 2D những năm 80 và 90 của thế kỷ trước. Âm nhạc chủ đạo trong phim sẽ là nhạc jazz, do nhà soạn nhạc nổi tiếng Randy Newman phụ trách. Rất nhiều giọng ca tài năng cũng được mời đến tham gia lồng tiếng cho các nhân vật trong phim, trong đó có diễn viên Anika Noni Rose của phim ca nhạc Dreamgirls, trong vai Tiana và cả nữ hoàng talk show đa tài Oprah Winfrey trong vai mẹ Tiana.

Ngoài  âm nhạc, các nhà làm phim cũng chú ý xây dựng bối cảnh và nhân vật sao cho thú vị, hấp dẫn. Không phải ngẫu nhiên mà địa điểm được chọn để mở đầu câu chuyện lại là quận French Quarter thuộc New Orleans, một điểm mốc văn hóa, lịch sử nổi tiếng trên đất Mỹ, với nhiều công trình kiến trúc kỳ vĩ. Và lần đầu tiên trong lịch sử phim hoạt hình Walt Disney, có một  “công chúa” là người Mỹ gốc Phi. Đây cũng là một thiếu nữ vô cùng cá tính, bởi tham vọng của Tiana xinh đẹp không phải là cưới được hoàng tử, mà nàng ước mơ làm chủ một nhà hàng lớn của riêng mình. Naveen của The Princess and the Frog cũng không giống hình tượng vị hoàng tử hiền lành thường thấy trong nhiều phim hoạt hình; chàng vốn dĩ là một kẻ thừa kế ngỗ nghịch bị gia đình hoàng gia chối bỏ. Thêm vào đó, để nêm gia vị cho câu chuyện tình trái khoáy, bạn đồng hành của họ trong cuộc hành trình có một không hai là một chú đom đóm si tình và một con cá sấu biết chơi kèn trumpet!

Bộ  phim dành cho mọi lứa tuổi

Ra mắt đúng dịp nghỉ lễ cuối năm, The Princess and the Frog có thể coi là một bộ phim lý tưởng cho gia đình và các cặp tình nhân. Tác phẩm hoạt hình này không chỉ thích hợp cho các khán giả nhí, bởi lời thoại hài hước và âm nhạc rộn ràng, mà còn rất lý tưởng cho những cuộc hẹn hò, nhờ câu truyện tình vui nhộn, oái oăm đậm màu cổ tích. Kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, hành động và lãng mạn, The Princess and the Frog hứa hẹn đem đến cho khán giả mọi lứa tuổi những phút giây giải trí tươi vui và sảng khoái!

Đánh giá của Minh Thi: 3.5/5

(Đã đăng trên 2! Đẹp)

 
1 Comment

Posted by on 10/01/2010 in On Screen

 

Sherlock Holmes tái xuất!


Độc giả hâm mộ loạt truyện trinh thám nổi tiếng của văn sĩ người Anh Conan Doyle hẳn không thể làm ngơ khi được biết hình ảnh chàng thám tử đại tài Sherlock Holmes lại một lần nữa được tái hiện trên màn ảnh rộng, dưới bàn tay “nhào nặn” của đạo diễn Guy Ritchie, người từng gây tiếng vang với các bộ phim thuộc thể loại hình sự – tội phạm như Lock, Stock and Two Smoking BarrelsSnatch. Đáng chú ý hơn, dàn diễn viên chính của bộ phim mới này lại là những tên tuổi vô cùng sáng giá: “Người sắt” Robert Downey Jr. trong vai thám tử lập dị Sherlock Holmes, tài tử đào hoa Jude Law trong vai bác sỹ John Watson, và nữ diễn viên Rachel McAdams với vai Irene Adler, người đẹp quyến rũ làm chao đảo trái tim Sherlock Holmes.

Ở phiên bản mới, Sherlock Holmes cùng người cộng sự “như hình với bóng”, bác sỹ Watson phải đối mặt với một âm mưu khủng khiếp đe doạ sự an nguy của nước nhà. Địch thủ của Sherlock Holmes lần này là tay giết người hàng loạt Lord Blackwood, một kẻ thù cũ từng bị Sherlock Holmes “lật mặt” đột ngột trở về từ cõi chết và tiếp tục gây ra hàng loạt vụ án mạng thảm khốc. Thế là một lần nữa, chàng thám tử đại tài phải vận dụng trí thông minh siêu phàm để lần theo những trò đùa tai quái và mưu đồ hiểm độc hòng đưa tội ác ra ánh sáng.

Trong những ngày đầu ra mắt, Sherlock Holmes của Guy Ritchie nhận đuợc rất nhiều phản hồi khác nhau. Một số độc giả ái mộ hình tượng Sherlock Holmes xưa cũ tỏ ý không thật sự bằng lòng với nhân vật thám tử được miêu tả trong phim, trong khi số khác lại thích thú với hình ảnh Sherlock Holmes mới mẻ của Guy Ritchie. Dù vậy, phần đông người xem đều ủng hộ bộ phim và đánh giá cao tính giải trí cùng sự hài hước đậm chất Anh của bộ phim trinh thám này. Trong khi ấy, giới phê bình phim, dù có nhiều luồng ý kiến khen chê khác nhau về Sherlock Holmes, đều hết lời ca ngợi tài năng diễn xuất của hai diễn viên chính Robert Downey Jr. và Jude Law.

Đạo diễn Guy Ritchie, người từng say mê loạt truyện trinh thám cuốn hút của nhà văn Conan Doyle từ thuở nhỏ, đặt rất nhiều kỳ vọng vào tác phẩm con cưng của mình. Với mong muốn đem đến cho người xem một Sherlock Holmes thật sự độc đáo và ấn tượng, Ritchie cố ý đi xa khỏi lối mòn của các phiên bản trước đây và tạo nên sự khác biệt trong kịch bản. Ông xây dựng hình ảnh một Sherlock Holmes hiện đại, mạnh mẽ và xông xáo, phần nào khác biệt so với hình tượng thám tử quá quen thuộc đến cũ mòn trong lòng các độc giả trinh thám. Hình ảnh bác sỹ Watson đôi chút ngờ nghệch thường thấy trong các bộ phim cũ về Sherlock Holmes cũng sẽ không xuất hiện trong phiên bản mới này. Thay vào đó, bác sỹ Watson do Jude Law thủ vai lại hiện lên với đầy đủ các phẩm chất “ưu tú” thấp thoáng trong truyện: tính cách can đảm của một cựu chiến binh, sự hiểu biết của một một bác sĩ, vẻ hào hoa phong nhã… Thêm vào dó, Guy Ritchie cũng chú trọng đưa vào phim nhiều pha hành động hấp dẫn, mà ông cho rằng xuất hiện không ít trong truyện, nhưng hiếm khi được miêu tả trong các phiêu bản cũ. Sherlock Holmes của Guy Ritchie vì thế mang nhiều nét khác lạ, độc đáo, mang hơi hướng của một bộ phim hành động – hình sự kiểu mới, song vẫn lưu giữ và phát triển những yếu tố thú vị có sẵn trong nguyên bản.

Đánh giá của Minh Thi: 4/5

(Đã đăng trên 2! Đẹp, bản này đầy đủ hơn)

 
8 Comments

Posted by on 10/01/2010 in On Screen

 

Avatar – Cú kết hoành tráng của mùa phim 2009

Tháng 12 năm nay, quả bom tấn 3-D Avatar của đạo diễn kì cựu James Cameron, người từng gây tiếng vang với hàng loạt các bộ phim ăn khách như  Terminator, Alien,  True Lies hay Titanic… sẽ chính thức ra mắt trong niềm hân hoan của hàng triệu người hâm mộ điện ảnh trên toàn thế giới.

http://img.2sao.vietnamnet.vn/2009/10/27/13/31/091027avatar1.jpg

Tham vọng ấp ủ mười bốn năm

Ý tưởng về một bộ phim khoa học giả tưởng kể về cuộc tranh chấp giữa cư dân địa cầu và người ngoài hành tinh bắt đầu được hình thành trong đầu vị đạo diễn tài danh từ năm 1994. Khi ấy, bản thảo kịch bản thô sơ của James Cameron đã lên đến 80 trang. Cameron cho biết, ông lấy cảm hứng viết Avatar từ tất cả những cuốn sách khoa học giả tưởng từng đọc được từ thuở ấu thơ và câu chuyện có thật về huyền thoại Pocahontas xưa kia. Năm 1996, James tuyên bố sẽ bắt tay thực hiện Avatar sau khi hoàn thành Titanic. Theo dự kiến của ông, Avatar lẽ ra đã phải được thực hiện trong mùa hè 1997 để trình chiếu vào hai năm sau đó. Thế nhưng số tiền dự kiến đổ vào Avatar lại lên đến 400 triệu USD, một con số quá khủng khiếp! Quan trọng hơn, thế giới trong tưởng tượng của James Cameron quá hoành tráng và phức tạp để kiến tạo, đến mức công nghệ tiên tiến nhất vào thời điểm ấy cũng chưa đủ thỏa mãn. Thế nên, Cameron rốt cuộc đành phải ngậm ngùi gác lại tham vọng lớn của mình cho tương lai. Chỉ đến khi chứng kiến những gì Peter Jackson làm được với nhân vật Gollum trong series The Lord of the Rings và siêu phẩm King Kong hồi 2005, James Cameron mới bắt đầu tin tưởng vào tính khả thi của dự án Avatar. Và thế là đầu năm 2006, James bắt tay vào xây dựng kịch bản hoàn chỉnh cho dự án mà ông tin sẽ trở thành “kiệt tác của đời mình.”

Nội dung Avatar xoay quanh một cựu sĩ quan thủy quân lục chiến có tên Jake Sully. Sau một trận chiến, Jake không may bị liệt phần thân dưới và được chọn tham gia vào một chương trình cấy ghép gen để trở thành “Avatar” – một dạng cơ thể hiện thân lai giữa người Trái Đất và người Na’vi, cư dân hành tinh Pandora xa xôi. Sở dĩ có chương trình kì lạ trên là do người Trái Đất quyết định đổ bộ vào Pandora để đem khoáng sản quý từ nơi này về cứu trái đất trong cơn khủng hoảng năng lượng. Kế hoạch này mắc phải một khó khăn là không khí trên Pandora khác hẳn với không khí địa cầu, nên chỉ những “Avatar” như Jake mới có thể hít thở không khí nơi đây. Sau khi được cấy ghép gen, Jake trong cơ thể lành lặn của một Avatar xâm nhập vào hành tinh xa lạ. Tại đây, anh bắt đầu khám phá thế giới kì ảo của Pandora, kết bạn với cư dân Na’vi và gặp gỡ người con gái anh yêu – công chúa Neytiri của tộc người Na’vi. Từ đó trong lòng Jake Sully bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn lớn. Đứng giữa hai bờ chiến tuyến, anh buộc phải lựa chọn một trong hai con đường: hoặc thi hành nghĩa vụ của một công dân địa cầu, hoặc chung vai sát cánh bên dân tộc Na’vi bảo vệ quê hương tươi đẹp của người thương.

Một thế giới hoàn toàn mới lạ

Với một siêu phẩm như Avatar, chỉ riêng tên tuổi của James Cameron cũng đủ lôi kéo một lượng khán giả khổng lồ tới rạp, chưa kể đến những chiến dịch marketing rầm rộ. Thế nhưng sức hút lớn nhất của Avatar có lẽ chính là thế giới mới lạ mà bộ phim hứa hẹn sẽ mở ra. Bối cảnh của Avatar là hành tinh Pandora xanh rờn cây cối, cách trái đất 4,4 năm ánh sáng. Pandora là một miền đất hoang sơ như một cánh rừng ngập mặn cổ xưa. Nơi đây cư ngụ nhiều loại sinh vật ăn thịt đáng sợ và dân tộc Na’vi, giống người sở hữu chiều cao ba mét vượt trội, có đuôi và làn da màn xanh. Đối với người trái đất, dân Na’vi chỉ giống như một tộc người nguyên thủy dữ dằn, nhưng thực ra họ tiến bộ và khôn ngoan hơn con người rất nhiều.

Để dựng nên một thế giới khác biệt, kì ảo, mà sống động như thật – thế giới của người Na’vi, James Cameron đã phải nhờ đến những kĩ xảo điện ảnh tiên tiến vào bậc nhất, thậm chí đi trước thời đại. Ông còn quyết định tạo ra hẳn một nền văn hóa và ngôn ngữ riêng cho dân tộc Na’vi tưởng tượng. Để làm được điều này, Cameron đã phải nhờ đến một chuyên gia ngôn ngữ hàng đầu của trường đại học USC xây dựng cả một hệ ngôn ngữ mới dành riêng cho dân tộc Na’vi. Khâu âm nhạc của Avatar cũng được chăm sóc kĩ lưỡng, khi nhà soạn nhạc cho bộ phim phải cộng tác với một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc để soạn ra thứ âm nhạc dành riêng cho cư dân Pandora.

Một Titanic thứ hai?

So với Titanic, siêu phẩm ăn khách nhất mọi thời đại của chính James Cameron, quả bom tấn Avatar có khá nhiều nét tương đồng. Trước hết là sự trở lại của nhà sản xuất Jon Laudau, người từng tham gia sản xuất Titanic năm xưa. Kế đến là sự tham gia của James Horner, nhà soạn nhạc lừng danh từng làm mê đắm hàng triệu con tim với ca khúc My Heart will Go on ngày nào. Song điểm tương đồng đáng kể nhất giữa hai bộ phim nằm ở ngay chính chủ đề phim. Giống như Titanic, Avatar cũng là một siêu phẩm khai thác đề tài tình yêu bị cấm đoán (forbidden love). Nếu như tình yêu giữa chàng Jack lãng tử và nàng tiểu thư Rose dòng dõi quý tộc của Titanic bị ngăn trở trở bởi địa vị xã hội cách biệt thì Jake và Neytiri trong Avatar lại khó lòng đến được với nhau do sự khác biệt về chủng tộc và bổn phận của mỗi người đối với quê hương.

Các diễn viên của Avatar được James Cameron tuyển chọn hết sức kĩ càng. Để tiết kiệm tối đa kinh phí, James không viện đến những tên tuổi lớn mà quyết định chọn những gương mặt không quen thuộc nhưng đầy triển vọng. Vai công chúa Neytiri của tộc người Na’vi được giao cho diễn viên Zoe Saldana, nàng Uhura quyến rũ của phiên bản Star Trek 2009. Với Zoe, đây là một thử thách không hề đơn giản, bởi nếu như Kate Winslet của Titanic từng phải lặn lội ngày đêm trong nuớc lạnh giữa tiết trời rét mướt, thì Zoe Saldana cũng không tránh khỏi “trầy vi tróc vẩy” do phải luyện võ, học cưỡi ngựa, bắn cung, cử tạ để vào vai công chúa Neytiri. Zoe cũng tiết lộ, các diễn viên của Avatar còn được yêu cầu phải “quên mình là người” để vào vai thật “ngọt”.

Vai chính của Avatar, Jake Sully thuộc về diễn viên Sam Worthington, chàng Marcus Wright của Terminator Salvation. James Cameron tiết lộ Sam Worthington được lựa chọn từ khá sớm, và trong số hàng loạt các diễn viên triển vọng khác cùng thử vai, anh không hề có đối thủ! Khi quyết định chọn Worthington, Cameron tin rằng anh sẽ cố gắng hết sức mình để chứng tỏ bản thân, vì Worthington chưa bao giờ được giao phó một vai diễn nào thực sự lớn cả. Là một đạo diễn cầu toàn, Cameron đưa ra một yêu cầu không hề dễ dàng đối với Worthington, đó là phải thổi lửa vào nhân vật, đem đến cho Jake Sully “phẩm chất của một thủ lĩnh có thể làm thay đổi cả thế giới.

Tất cả những nỗ lực trên của đoàn phim, theo lời James Cameron, là để tạo ra một tác phẩm điện ảnh “hòa trộn giữa hành động và phiêu lưu”, cống hiến cho người xem một màn trình diễn tuyệt vời làm lay động con tim, đồng thời cũng khiến họ phải “suy ngẫm đôi chút về lối cư xử của mình đối với đồng loại và thiên nhiên”. Lạc quan là thế về thành công của Avatar, James Cameron cũng không hề úp mở dự định thực hiện hai phần tiếp theo của siêu phẩm con cưng trong tương lai. Đây có lẽ không chỉ là lời nói suông, vì hai diễn viên chính của Avatar, Sam Worthington và Zoe Saldana thậm chí đã ký hợp đồng đóng các phần tiếp theo của Avatar (nếu có).

Được nhào nặn dưới bàn tay của một đạo diễn hàng đầu Hollywood, với kịch bản lôi cuốn, ấn tượng, cùng kĩ xảo hoành tráng hứa hẹn làm nức lòng đông đảo fan hâm mộ, thành công của Avatar dường như là điều có thể tiên liệu trước. Câu hỏi được đặt ra là, liệu Avatar có thể trở thành một Titanic thứ hai, thậm chí đánh đổ vị trí của bộ phim huyền thoại năm xưa để trở thành siêu phẩm hốt bạc nhất mọi thời đại hay không? Câu trả lời sẽ chỉ được hé mở sau 18/12, ngày công chiếu Avatar trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam!!!

(Bản rút gọn được đăng trên 2! Đẹp, số tháng 1/2009)

 
4 Comments

Posted by on 07/12/2009 in On Screen, Preview

 

Chơi vơi – Sự hoang mang của tuổi trẻ

Chơi vơi quả là một hiện tượng hiếm có của điện ảnh Việt Nam: là một phim nghệ thuật, chưa đạt một giải thưởng LHP chính thức nào, cũng chưa hề ra mắt công chúng, nhưng thật khó để thống kê hết các bài báo ưu ái viết về bộ phim, cũng như sự háo hức lớp khán giả trẻ dành cho nó. Trong một cuộc phỏng vấn, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên từng nói, Chơi vơi là một góc nhìn khác về giới trẻ. Phải chăng vì thế, bộ phim đã thu hút được sự chú ý của lớp khán giả vốn được coi là khó chiều này, theo nhiều cách khác nhau…

Poster Choi Voi

Khát vọng bản năng trong từng nhân vật

Tất cả những gì Chơi vơi thể hiện không phải là một cái nhìn bề nổi thiếu chiều sâu mà là một cái nhìn bóc tách từ những hoang mang, mơ hồ của tuổi trẻ. Bộ phim kể chuyện của những con người trẻ tuổi ở một góc quan sát rất rộng. Đó là cuộc hôn nhân đặc biệt giữa Duyên và Hải. Khó có thể nói Duyên không yêu chồng khi người xem vẫn thấy cô thanh thản, hạnh phúc khi ở bên người đàn ông trẻ thơ, hồn nhiên đến khó tin ấy. Càng khó định nghĩa cho tình cảm giữa Duyên và nữ nhà văn Cầm. Đó có lẽ là một mối quan hệ đậm chất Á Đông đặt trong bối cảnh xã hội hiện đại, huyền ảo và cũng sâu sắc, đa chiều hơn một tình yêu đồng tính đơn thuần. Cầm suy sụp trong cô đơn, câm lặng hờn ghen sau đám cưới của Duyên rồi đẩy Duyên đến với Thổ – một người đàn ông xù xì, từng trải. Mối quan hệ bắt đầu từ những va chạm thể xác đã khiến Duyên cảm nhận rõ hơn sức hấp dẫn nữ tính của bản thân. Khi mối quan hệ của Cầm và Thổ chưa đi đến đâu, người xem lại được chứng kiến mối tình bạo liệt nhưng vô vọng của Vi dành cho Thổ, một thứ tình yêu vừa nhiệt thành, vừa cam chịu, bề ngoài thì buông thả kiểu như lối sống hippie của phương Tây nhưng thực chất lại u uẩn, chứa đựng nhiều hi sinh cay đắng. Đâu đó, còn là thứ tình cảm vừa tinh quái, vừa thơ ngây mà cô bé hàng xóm tên Miên dành cho Hải. Tất cả những cung bậc cảm xúc đều ở trạng thái ranh giới mà người xem có hiểu thế này hay thậm chí tin vào những điều ngược lại.

Những nhân vật trong Chơi vơi đều ít nhiều khác thường và luôn sẵn sàng… cho một cuộc nổi loạn. Đó là Duyên – một phụ nữ trẻ vẫn giữ lại những nét hồn nhiên trong sáng của một thiếu nữ. Ở ngoài gia đình, cô mạnh mẽ, năng động với nghề nghiệp hướng dẫn viên nhưng trở về nhà, cô là một thiếu nữ ngây thơ đến giản đơn. Nữ nhà văn Cầm đầy quyến rũ và bí ẩn, với sở thích kỳ quặc: thích đến đám ma hơn đám cưới! Cũng không ai hiểu Cầm nghĩ gì khi cô đẩy Duyên ngã vào vòng tay của Thổ. Còn Hải, anh chồng trẻ con của Duyên, nguyên nhân của mọi xáo trộn lại hoàn toàn không biết đến những gì đang diễn ra xung quanh! Ngay cả những nhân vật phụ cũng có thời tuổi trẻ khác thường, như người ông nội bị liệt của Duyên với một mối tình bí ẩn, còn bà nội Duyên chấp nhận cuộc hôn nhân không tình yêu suốt ngần ấy năm trời.

Nhìn tổng thể, câu chuyện của Chơi vơi rất đơn giản nhưng các nhân vật lại vô cùng phức tạp về nội tâm, trong sự biểu hiện. Họ vừa lạ lùng, khác biệt nhưng cũng vừa quen thuộc, như những hình ảnh đại diện cho những khát vọng sâu kín trong mỗi con người.

Khi đàn ông yếu mềm còn phụ nữ mạnh mẽ!

Hai Yen_choivoi

Tất cả những người đàn ông trong Chơi vơi đều không đủ sức khiến cho phụ nữ tin tưởng. Đầu tiên là Hải, không muốn lấy vợ nhưng vẫn phải chiều lòng mẹ, luôn khao khát những phút ngủ riêng mà không dám nói. Hải dựa dẫm mẹ, rồi dựa dẫm vợ, có những lúc lại “nép” vào Miên để chạy trốn nỗi sợ ở một mình trong ngôi nhà cổ. Ngay cả Thổ, người đàn ông đầy vẻ nam tính chỉ thể hiện được ưu thế của mình trong những cuộc tình mà anh ta là kẻ chủ động săn mồi. Nhưng trước cái chết của Vi, nỗi hoang mang đã khiến cả con người Thổ trở thành một khối của những đổ vỡ. Đó cũng là nỗi đau đớn, bơ vơ của ông bố Miên sau khi người người vợ bỏ đi, đành bấu víu vào những trận chọi gà, những chén rượu quên ngày tháng. Đàn ông trong Chơi vơi là những gã trẻ con lớn xác, càng rướn mình nạt nộ, càng bộc lộ những điểm yếu của bản thân.

Trong khi đó, “phái yếu” lại thể hiện được cái mạnh mẽ của bản thân, đối lập với sự mờ nhạt của người đàn ông trong cả cuộc sống gia đình lẫn xã hội. Sức mạnh ấy chính là ở thái độ bình thản đến lạnh lùng của Cầm. Cô không chỉ làm chủ ngôi nhà cổ mà còn biết cách chi phối cái thế giới nhộn nhạo bên ngoài bằng những cú điện thoại, những trang viết sột soạt, ánh mắt nhìn xuống đường từ cửa sổ. Hay như bà mẹ góa của Cầm, cặm cụi chăm sóc con gái từng nồi lá xông mà chẳng để ý đến sự héo mòn năm tháng bên chiếc khung thêu. Nhưng trớ trêu thay, dù sớm hay muộn, “phái yếu” sẽ lại cố tìm chỗ nương tựa, niềm an ủi ở những người đàn ông mềm yếu hơn họ gấp nhiều lần. Duyên tìm cách bằng lòng với cuộc hôn nhân với Hải, người cô vừa mới quen, kém cô hai tuổi, đơn giản tới ngây ngô; Cầm dựa vào Thổ để níu kéo mối quan hệ của mình với Duyên; Vi, sẵn sàng đến với Thổ bất cứ lúc nào, vô điều kiện… Có thể nói những người phụ nữ trong Chơi vơi đều sẵn sàng yêu thương tới mức phục tùng người đàn ông trong mối quan hệ của mình!

Một điều trớ trêu khác là người phụ nữ lại dành phần còn lại của sức lực để chống đối những người cùng giới tính. Câu nói “Nó đã được thằng bé rồi, nó còn muốn gì nữa” của mẹ chồng Duyên cứ trở đi trở lại trong phim như một nỗi ấm ức truyền kiếp mà những người phụ nữ dành cho nhau. Tất cả khiến Chơi vơi giống như một tiếng thở dài cho thân phận những người đàn bà đầy sức mạnh nhưng sinh nhầm thời và những người đàn ông yếu đuối, phải gồng mình cáng đáng để trở thành “kẻ mạnh.” Bộ phim kết thúc và để lại một dấu hỏi lớn đầy ám ảnh cho bạn trẻ xem phim – những người luôn muốn cắt nghĩa rõ ràng mọi hiện tượng cuộc sống: rằng đâu là ranh giới đích thực của tình yêu?

Cơn mưa cảm xúc của những người trẻ

Đặc trưng của ngôn ngữ kể chuyện trong Chơi vơi chính là sự tương phản. Những nhân vật trong phim luôn phải đối diện với những mâu thuẫn của chính mình. Cầm dù mạnh mẽ đến mấy cũng chỉ quanh quẩn trong ngôi nhà cổ, bất lực với những thay đổi của Duyên – mà cô chính là một phần tác giả. Hải, ngu ngơ, mềm yếu nhất lại không hề có tổn thương tinh thần nào sau một loạt những biến cố. Còn chính Thổ mới là người suy sụp nhất, sau cái chết của người tình.

_DSC4667

Ngoài sự tương phản trong tính cách và số phận mỗi nhân vật, Chơi vơi còn đậm đặc sự tương phản của những mảng màu sắc và không gian độc đáo. Bộ phim có cách kể chuyện bằng hình ảnh khá riêng biệt. Hầu hết các cảnh quay được thực hiện trong ánh sáng chủ khá yếu, với những mảng miếng ấn tượng, nhờ thế càng thể hiện được những phần góc cạnh trên cơ thể nhân vật. Cảm xúc tinh tế cuả nhân vật hiện lên qua tạo nên không khí có phần u uẩn. Nhịp điệu của phim rất chậm góp phần làm những chuyển động ngầm trong nội tâm của nhân vật càng trở nên ám ảnh. Trong phim cũng ít đối thoại nhưng tất cả những câu thoại đều được giữ ở nhịp độ vừa phải, là thoại cho tính cách của nhân vật chứ không chú trọng vào chuyển tải thông tin câu chuyện.

Bối cảnh trong Chơi vơi được chăm chút vô cùng tinh tế. Ngôi nhà cổ, chiếc áo lụa, nồi lá xông, phòng tắm với chiếc bồn làm từ thùng đựng nước, đường phố Hà Nội chật cứng người xe… Quan trọng nhất là đạo diễn và quay phim đã tạo được không gian cho những lát cắt cuộc sống của nhân vật trong những chuyển động huyền ảo, hơi lỳ lạ mà không mắc vào cách kể chuyện đơn điệu hay minh họa. Có thể nói nhà quay phim Lý Thái Dũng đã rất thành công trong những sáng tạo hình ảnh của mình. Có những cảnh quay trong phim phiêu linh, đẹp đến ngỡ ngàng. Đó là cảnh Cầm và Duyên khỏa thân chùm chăn ngồi xông hơi nói chuyện với nhau sau những ngày tháng tơi tả, là cảnh Hải ngụp lặn dưới dòng nước mát của dòng sông, cảnh Miên cô bé ngụp lặn trong cái lu nước, cảnh Thổ rạch từng nhát dao trên chiếc áo cưới của Duyên…

Nhưng nét nghệ thuật độc đáo nhất của Chơi vơi, hẳn phải là những cơn mưa được khai thác triệt để nhằm diễn tả những cung bậc khác nhau của cảm xúc. Những cơn mưa trong Chơi vơi của Bùi Thạc Chuyên là người bạn đồng hành với mọi trạng thái cảm xúc. Mưa rất nhiều, mưa trên phố, mưa trên những ô cửa sổ, cửa kính ô tô, mưa trên bãi biển… Mưa khi lần đầu tiên Thổ và Duyên gặp nhau, mưa khi Hải xa Duyên, ngồi nghe Miên kể chuyện và nói về cái ước mơ được vòi tắm hoa sen. Mưa như nói lên những cảm xúc tràn ngập của con người, mãnh liệt mà mềm mại. Nó dội xuống và làm trôi đi như cái mệt mỏi, hoài nghi khi nhân vật phải đối diện với những mối quan hệ giằng xé, những khát khao rất đỗi mong manh. Cái kết với trận ngập lụt càng khiến cho bộ phim trở nên mênh mang hơn, nỗi buồn như được kéo dài thêm.

Có thể nói, qua Chơi vơi, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đã vượt qua ngôn ngữ đối thoại thông thường để chuyển tải thông điệp tới cho người xem. Diễn viên Linh Đan từng phát biểu, cảm xúc bao trùm bộ phim chính là sự cô đơn, sự ràng buộc của trách nhiệm với gia đình, xã hội dường như đã trở thành quy luật muôn đời. Thế nên bất kỳ một người trẻ Việt Nam hay mang quốc tịch nào khác khi xem Chơi vơi, hẳn đều có thể tìm thấy mình trong những Duyên, Cầm, Hải và các nhân vật khác.

Thông tin chính về bộ phim

Bộ phim Chơi vơi do Hãng phim truyện I sản xuất

Đạo diễn: Bùi Thạc Chuyên
Kịch bản: Phan Đăng Di
Quay phim: Lý Thái Dũng
Họa sỹ: Lã Quý Tùng
Nhạc sỹ: Ngọc Đại

Các diễn viên chính

Hải Yến vai Duyên
Phạm Linh Đan vai Cầm
Johnny Trí Nguyễn vai Thổ
Duy Khoa vai Hải
Linh Dung vai Vi

Tóm tắt phim

Cô hướng dẫn viên trẻ tuổi Duyên kết hôn với Hải, một anh chàng lái taxi kém cô hai tuổi. Nữ nhà văn Cầm, người bạn gái thân thiết của Duyên, mang một mối ghen thầm từ sau đám cưới ấy. Để che giấu tình cảm dành cho Duyên, Cầm đã đẩy Duyên vào cuộc ngoại tình bạo liệt với Thổ. Đó là sự khởi cho những mối quan hệ tình cảm chồng chéo phức tạp, nằm ngoài ràng buộc của những luân lý truyền thống.

Bộ phim sẽ được khởi chiếu trên toàn quốc từ ngày 13/11/2009

Bản rút gọn của bài viết đã được đăng trên tạp chí 2! Đẹp, số tháng 12/2009

 
3 Comments

Posted by on 08/11/2009 in On Screen, Reviews

 

Cấu trúc trò chơi trong Triệu phú Ổ chuột

VFCC – Bạn Mai Anh Tuấn có nhã ý gửi đến VFCC một bài viết rất công phu về Slumdog Millionaire. Dưới đây, VFCC xin đăng toàn văn bài viết của bạn Tuấn. Chân thành cảm ơn bạn và rất mong nhận được nhiều đóng góp hơn nữa của bạn trong tương lai.

_________________________

Slumdog Millionaire (Triệu phú ổ chuột. Dưới đây xin viết tắt là Slumdog như cách gọi trong phim) đã có trong mình những giải thưởng danh giá mà một bộ phim hướng tới. Dĩ nhiên, sẽ còn nhiều e ngại để xếp Slumdog vào danh sách những tác phẩm kinh điển. Nhưng cái cách mà nó lần lượt bước lên bục vinh quang trong tư thế của kẻ chịu trận làn sóng biểu tình chống Slumdog tại ngay chính quê hương mình, Ấn Độ, với những biểu ngữ giương cao “Tôi không phải là ổ chuột, tôi là tương lai Ấn Độ” (I am not a slumdog. I am the future of India) đã tạo nên một hiện tượng đáng ghi nhớ nhất trong lịch sử điện ảnh thế giới.

Cần biết rằng, Slumdog là bộ phim đầu tiên giành giải Oscar Phim hay nhất mà không phải là phim nói tiếng Anh (nửa tiếng Anh, nửa tiếng Hindi)[[1]]. Sự thật bất ngờ ấy đã đem lại cho những người dân nghèo khổ trong các thành phố niềm lạc quan khôn tả, thậm chí là nụ cuời mãn nguyện. Và họ sẽ nhớ lại rất rõ, chỉ hai ngày sau khi Barack Obama, người có gốc gác tận Kenya xa xôi, trở thành tổng thống Mỹ với lời tuyên bố “chúng ta đã chọn hi vọng thay vì sợ hãi”, thì Slumdog lên ngôi như thể sự thay đổi đã linh nghiệm tức thì. Lối suy diễn logic quen thuộc nhưng đáng yêu ấy gợi mở cho tôi một hình dung về trò chơi thêu dệt ngôn từ của báo giới. Kiểu trò chơi domino hiệu ứng xã hội “hậu Slumdog“. Song không mấy ai thấy, hoàn toàn được tính toán, bản thân Slumdog đã chứa đựng trong mình một cấu trúc trò chơi, cái mà tôi sẽ phân tích kĩ dưới đây, và nhờ nó, Slumdog mới có thể đem lại những hiệu ứng nghệ thuật cho giới làm phim lẫn người xem phim.

1. Từ sự lựa chọn một gameshow

Với người dân Anh, trò chơi truyền hình “Ai muốn là triệu phú” (Who Wants to Be a Millionaire) đã quá quen thuộc. Khi đạo diễn Danny Boyle sử dụng gameshow này như một chất liệu để viết kịch bản, trước hết, ông sẽ tự dồn mình vào khó khăn. Bởi việc có mặt một gameshow truyền hình ăn khách trong phim thể nào cũng gây nghi ngờ là mánh lới thương mại. Trong trường hợp bộ phim thất bại, sự cười cợt nhanh chóng đổ dồn lên đạo diễn, người đã không lường hết tình thế bi đát khi để nghệ thuật chân chính kí sinh vào truyền thông đại chúng. Ngược lại, nếu phim thành công, những ngờ vực sẽ thế chỗ bởi thán phục. Và Danny Boyle đã nhận được sự thán phục. Danny Boyle quả là đạo diễn cao tay khi biết cách xây tòa tháp cao trên ngọn núi cao, nghĩa là để cái tên Who wants to be a Millionaire thành Slumdog millionaire. Thoạt tiên như cách chơi chữ. Nhưng bề sâu, đó là một cách siêu hư cấu (metaficion) khi để Jamal Malik, chàng trai đến từ khu ổ chuột trong thành phố Mumbai trở thành người hùng của trò chơi truyền hình nổi tiếng ấy. Không còn nghi ngờ gì nữa, Danny Boyle đã chế tác cái gameshow thành cấu trúc quan trọng trong tác phẩm nghệ thuật của mình. Dưới chức năng là cái khung câu chuyện, gameshow hé lộ các sự kiện trong cuộc đời Jamal, và bằng cảm hứng của trò chơi, mọi đường nét, nhịp điệu hiện thực đời sống cứ dần dần hiện lên theo từng khuôn hình, cuốn theo mắt xích hỏi và đáp của trò chơi.

M0020002_still_05

Đặc điểm dễ nhận thấy của trò chơi là phải có người chơi và luật chơi. Trong Slumdog, người chơi là Jamal, luật chơi là chọn câu trả lời đúng khi người dẫn chương trình đưa ra câu hỏi. Phải thực sự có kiến thức sâu rộng mới vượt qua được những câu hỏi mà mức độ khó tăng dần. Jamal là cậu bé mồ côi, thất học, lớn lên ở khu ổ chuột nhưng lại trả lời suôn sẻ và sớm đạt được mức tiền thưởng lớn. Hóa ra, khác với ý nghĩ thông thường, các câu trả lời chính xác của Jamal đều có sẵn trong cuộc đời anh chứ không phải có trong sách vở. Nói đúng hơn, cuộc đời Jamal trùng khít với những giải đáp cho mọi chất vấn tưởng chừng rất cao siêu. Tạo nên câu hỏi, Danny Boyle đồng thời cũng tạo nên số phận Jamal trong phim của mình. Nhưng có điểm thú vị là: trong khi câu hỏi phải khoa học (phi hư cấu) để đảm bảo dáng dấp một gameshow thì số phận Jamal lại có thể hư cấu nhằm phù hợp với ý đồ nghệ thuật hoặc phục vụ cho một thông điệp nào đó. Chính trạng thái nhị trùng kết cấu này mà Slumdog liên tục gây hứng thú cho khán giả, giúp họ song song chứng kiến hai câu chuyện: câu chuyện trong trường quay truyền hình và câu chuyện cuộc đời Jamal nơi Mumbai náo nhiệt. Cùng với việc lắp ghép hai mạch chuyện đó hết sức tinh tế, chủ ý của Danny Boyle còn hướng đến việc giải thoát cho người xem khỏi cảm giác chìm sâu vào tính chân thực của câu chuyện bằng cách nhấn mạnh rằng toàn bộ chuyện phim cũng nằm trong một trò chơi. Mở đầu chuyện phim là câu trắc nghiệm: “Còn một câu hỏi nữa để Jamal Malik giành 20 triệu rupees, anh ta đã làm thế nào ?”. Đáp án chỉ hiện lên khi kết thúc phim: anh ta đã viết. Viết tức là hư cấu, tức là chính Boyle, trong vị thế người dẫn dắt câu chuyện, mong muốn mở rộng phạm vi tiếp cận nó theo hình thức trò chơi: mọi người đều có thể đưa ra câu trả lời của mình sau khi tham dự vào chính câu chuyện phim. Nếu không tham dự trọn vẹn thì câu trả lời thấu đáo về Jamal vẫn còn bỏ ngỏ. Như thế, đến đây, thật tự nhiên và nhẹ nhàng, Danny Boyle đã đặt chúng ta vào hàng ghế khán giả với một khoảng cách vừa đúng luật chơi.

Đương nhiên đấy chỉ là câu hỏi tùy ý trả lời, nó không nằm trong chuỗi câu hỏi chính của gameshow. Nhưng đối với kết cấu bộ phim, nó, theo tôi, là lời đề dẫn, là phụ chú thông thái, là chi tiết kiến tạo nên hệ thống. Nhìn theo góc độ này, nhất là ở khía cạnh tự do lựa chọn câu trả lời của người xem, bộ phim cần được ứng xử như một văn bản mà ở đó, quyền hạn của tác giả không thể là tuyệt đối. Chính vì tạo ra câu hỏi về nhân vật trong phim nên tác giả, đến lượt mình, lại ở vị thế khách quan. Tác giả khó lòng tháo dỡ và sắp xếp các chi tiết xẩy ra trong cuộc đời nhân vật theo ý muốn riêng tư của mình. Tác giả chỉ vào vai người thưởng thức, nhân vật mới là người kể chuyện đáng tin. Nhân vật tự tạo nên chân dung mình, có lí và rất hợp lí. Người ta cũng có thể tin rằng chàng Jamal thất học, nhờ những may mắn ngẫu nhiên nào đó, sẽ giành chiến thắng trong trò chơi trí tuệ trên truyền hình lắm chứ! Nhưng tôi dám chắc, Danny Boyle không muốn đề cao một niềm tin như thế, là bởi, chí ít, ông thích quan sát một hiện thực là thế hơn nhiều!

Đảo lộn vị thế tác giả – nhân vật, Slumdog còn biết cách làm mềm hóa cái khung chặt chẽ của mình. Ấy là ngay ở poster (một yếu tố tuy nhỏ nhưng tôi vẫn coi là quan trọng tạo nên cấu trúc mọi văn bản, ở đây là văn bản Slumdog) đã hiển thị câu hỏi: Làm thế nào để tìm thấy một tình yêu đã mất ? [A. Tiền bạc; B. May mắn; C. Khổ đau; D. Định mệnh]. Ai nêu ra câu hỏi này: tác giả, nhân vật, hay chính khán giả ? Và câu hỏi ấy dành và đúng cho Jamal hay dành và đúng cho tất cả mọi tình yêu trên cõi đời này ? Câu hỏi buông ra như để suy ngẫm. Hỏi nhưng không cần trả lời. Đó là một chi tiết phi trò chơi, nằm ngoài gameshow lẫn câu chuyện phim nhưng lại đánh động tâm can người xem rất nhiều. Khi đó, từ một kẽ nứt kí ức, câu chuyện tình yêu của chúng ta sẽ đồng hành cùng câu chuyện tình yêu của Jamal. Điểm ráp nối vô tình ấy, biết đâu, lại trở nên sâu lắng và ám ảnh dài lâu hơn cả ?

2. Đến cách xây dựng cấu trúc tự sự

Thực tế cho thấy, khá nhiều tác phẩm điện ảnh đã vận dụng hoặc tạo ra hình thức trò chơi khi xây dựng chuyện phim. Muốn vậy, đạo diễn phải bố trí và sắp xếp các sự kiện sao cho thuyết phục và nhất là, đúng với tính chất hấp dẫn của trò chơi. Người giải quyết được yêu cầu đó một cách kì tài, xin được dẫn dụ trước hết, có lẽ là đạo diễn Roberto Bergini với phim Cuộc sống tươi đẹp (Life is beautiful). Ở phần hai của bộ phim (chuyện về gia đình Guido trong trại tập trung của phát xít Đức), mô hình trò chơi được thiết kế hết sức độc đáo: cậu bé Giosue và người cha, Guido, cùng tham dự trò trốn tìm. Trong tình cảnh bị đe dọa tính mạng, Guido đã nghĩ ra cách cứu đứa con trai bé bỏng của mình bằng lời nói dối: đó là một trò chơi, nếu chúng ta thắng, con sẽ được thưởng và phần thưởng là một chiếc xe tăng thật. Giosue hồn nhiên tin và cậu bé cố gắng “tích điểm” nhờ việc trốn thật kĩ trước họng súng kẻ giết người. Hồi hộp, xúc động và bung trào cảm giác hạnh phúc, trò chơi đã diễn tả sâu sắc và lấp lánh tình cha con trong chốn ngục tù tăm tối. Mạch chuyện phim diễn ra tuyến tính. Bởi thế, mỗi một tình huống mà nhân vật tham gia đều có độ căng của nó, được pha trộn giữa tính hài hước và nỗi sợ hãi, giữa sự giam hãm ngột ngạt và lời cầu nguyện được giải thoát, trở về tự do. Ở đây, mấu chốt của trò chơi nằm ở chỗ: tính cách ngây thơ của trẻ con, cậu bé Giosue, người đã coi mọi sự kiện diễn ra trong trại tập trung đều là các mảnh lắp ghép của một trò chơi lớn. Nhờ thế, từ điểm nhìn nơi cậu bé Giosue, trò chơi không ngừng lan tỏa vẻ lung linh, kì diệu và cổ tích của nó. Khung câu chuyện do đạo diễn R. Bergini kiến tạo cũng đã vươn đến tận cùng trí tưởng tượng trong sáng mà một đứa trẻ có thể có.

Tương tự Cuộc sống tươi đẹp, mô hình trò chơi trong Slumdog đã gài đặt vào cấu trúc chuyện phim những thuộc tính đáng giá nhất của nó: nhịp điệu tăng dần, hấp dẫn và mức độ căng thẳng không ngừng va động tâm trí người xem. Nhưng khác với R. Bergini, Danny Boyle xây dựng chuyện phim theo hai chiều: hồi ức quá khứ và diễn biến hiện tại. Cả hai đều có mức độ lôi cuốn, sôi nổi, gay cấn như nhau. Đây cũng là điểm sáng tạo riêng của Slumdog. Nhớ lại, ở phim Rashomon (1950) của Akira Kurosawa, bộ phim phá vỡ cấu trúc tự sự truyền thống bằng cách tạo tự sự đa điểm nhìn, thì mức độ lôi cuốn cũng chỉ diễn ra ở quá khứ, trong hồi ức của ba nhân vật chính (tiều phu, nông dân, thầy tu). Nói khác đi, cấu trúc tự sự ở đây bị lệch pha (cái đã diễn ra nhập vai cái đang nhìn thấy) và lệch thì (thì quá khứ làm trọng tâm). Rồi ở Forrest Gump (1994) của Robert Zemeckis, phần lớn chuyện đời anh chàng Forrest Gump này cũng được dồn về thì quá khứ. Hình ảnh hiện tại ấn tượng duy nhất là bến đợi xe bus, nơi Forrest Gump hồn nhiên thuật lại đời mình cho những người xa lạ nghe. Nên lưu ý rằng: cả hai phim đều mang dáng dấp trò chơi. Nếu Rashomon là trò đuổi bắt, đuổi bắt một sự thật được cho là đáng tin nhất thì Forrest Gump là đuổi bắt nhiều sự thật được cho là khó tin nhất. Trong hai phim này, yếu tố kể lại được dày công chuẩn bị hơn Slumdog vốn trưng dụng cả yếu tố nhớ lại. Chính vì nhớ lại nên mức độ và tốc độ sự kiện diễn ra nhanh hơn, bất thần hơn. Nó vừa mới xẹt qua hiện tại đã thấy thụt lún sâu vào kí ức, ranh giới và ý muốn chặn bắt khả năng hồi tưởng là điều không thể. Những dấu ấn cuộc đời Jamal chỉ như chớp mắt đi qua, tê mê và bỏng rát, tất cả quá khứ dậy lên mùi vị tươi nguyên, không cần bao bọc, nó mang nhiên ủ kín tâm tưởng người xem. Không làm nổi bật tính chất kể lại nên, cũng khác với Rashomon Forrest Gump, trong Slumdog vai trò người kể chuyện bị che mờ. Nếu ở Forrest Gump, nhân vật chính tự ý dẫn dắt câu chuyện, lời kể của anh ta [ở hiện tại] chồng lên lời thoại của các nhân vật trong quá khứ thì ở Slumdog, Jamal không tự ý nhớ/kể lại. Hồi ức của Jamal chỉ đột ngột xẩy ra khi có sự kích động từ bên ngoài. Trong quá trình tái hiện quá khứ đó, Jamal, nhờ việc tự mình chứng kiến toàn bộ gameshow được thu lại, đã nối dài thêm những chi tiết câu chuyện bằng cách bình luận nó (cùng với hai viên cảnh sát). Khán giả ngày nay đã quá quen thuộc với việc một chuyện phim được đan xen nhiều thì khác nhau, và ngoại trừ những phim không chủ trương tự sự, thì việc Danny Boyle xây dựng một cấu trúc tự sự như trong Slumdog, kể đã là sáng tạo mới mẻ.

M0020078_SD0072

Khi Jamal đối mặt với mỗi câu hỏi trong gameshow, kí ức của anh lại có dịp trỗi dậy. Có ba mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời Jamal được đạo diễn khai thác nhằm tạo thế chân vạc cho chuyện phim: lúc Jamal 7 tuổi, 13 tuổi và 18 tuổi. Ở mỗi thời điểm, Jamal đều trải nghiệm những biến cố bi thương: mẹ chết, lang thang kiếm sống, sự tha hóa của người anh trai, Salim, và nỗi ô nhục của người con gái anh yêu, Latika. Chính nhờ những trải nghiệm đầy nước mắt, đau đớn ấy mà Jamal đã trả lời chính xác các câu hỏi rất sách vở về người anh hùng Rama, về người chế tạo súng Colt, về Benjamin Franklin… Tuy có ba mốc thời gian như vậy nhưng mạch chuyện lại xuyên thấm theo một hệ thống hoàn chỉnh, có đột biến, thắt nút, gợi mở và ẩn giấu. Ẩn giấu, xin được nói thêm, đã tiềm ẩn trong trò chơi vấn đáp (cũng tương tự trò chơi trốn – tìm) khi mà ở 4 lựa chọn, sẽ có một lựa chọn chính xác. Nắm bắt đặc điểm này, đạo diễn mới triển khai mạch chuyện “có vẻ thật” hơn. “Thật hơn” là bởi Jamal không có nhiều kiến thức nên anh ta không bị gây nhiễu trước các giả thiết. Anh ta chỉ có một kí ức, một sự thật và từ đó, yên tâm với một đáp án cho riêng mình! Cũng vì thế, tính cách Jamal nổi bật với một ý chí, một khát vọng, một tình yêu luôn luôn bùng cháy.

Như đã nói, thì hiện tại của Slumdog cũng đầy lôi cuốn, căng thẳng. Nó thoát ra khỏi từ trường của câu chuyện quá khứ. Có được điều này là bởi, một lần nữa, mô hình trò chơi được ra linh hoạt ở phần cuối phim, khi Jamal trở lại trường quay truyền hình để trả lời câu hỏi cuối. Có thể nói rằng đây là trường đoạn sử dụng nhiều điểm không gian nhất: không gian trường quay; không gian ngôi nhà tên xã hội đen nơi anh trai Jamal, Salim đang chuẩn bị một “kế hoạch cuối cùng”; không gian đường phố, nơi Latika đi tìm Jamal; không gian các khu ổ chuột Mumbai, nơi người dân háo hức chờ đợi người hùng của mình trở thành triệu phú (vì gameshow được truyền hình trực tiếp). Tất cả đều liên quan với nhau và xẩy ra đồng thời. Ở mức độ khéo léo nhất, đạo diễn đã ráp nối song song kết cấu của hai mạch chuyện: Jamal và gameshow; Jamal và Latika, dồn nén vào đó tất cả những chi tiết mang năng lượng hạt nhân để có thể tạo ra sự bung nở mạch chuyện lớn nhất. Chi tiết kích hoạt cho vụ nổ chính là câu hỏi về các nhân vật của tiểu thuyết Ba người lính ngự lâm, một câu hỏi quá khó đối với Jamal dù thực tế, ngày đầu tiên đến trường, anh đã thoáng nhìn thấy tác phẩm đó. Khi Jamal chọn sự trợ giúp cuối cùng, gọi điện cho người thân, thì tiếng trả lời không phải là Salim như Jamal tưởng mà là Lakita, tình yêu của anh. Và đó là lí do để Jamal chơi tiếp dù Latika không giúp được gì. Chỉ với sức mạnh tình yêu, sự cầu may đã giúp Jamal chiến thắng, giành 20 triệu rupees, khác nào phần thưởng của cậu bé Giosue khi nhìn thấy chiếc xe tăng thật tiến vào trại tập trung. Đến đây, mạch chuyện Jamal và gameshow coi như kết thúc, và khán giả chợt ngộ ra rằng, đó dường như chẳng thể là nội dung chính của bộ phim. Câu chuyện Jamal và Latika, nhờ toàn bộ diễn biến của nó, mới là trung tâm. Ngay trong trường đoạn đầy kịch tính này, mối quan hệ Jamal – Latika cũng đã gói gọn những mâu thuẫn và sự kiện chính yếu nhất của mạch chuyện phim. Ta có thể sơ đồ hóa nó như sau:

Sơ đồ

Minh giải về sơ đồ trên như sau:  Ở [II], mâu thuẫn giữa Salim và tên trùm xã hội đen đã được giải quyết triệt để. Salim bắn chết tên trùm xã hội đen, kẻ đã đào tạo anh trở thành tên du côn Mumbai, và sau đó bị đồng bọn sát hại. Salim đã giải thoát cho Lakita, mối quan hệ giữa anh và Lakita gần như trung tính dù trong quá khứ, Salim đã chiếm đoạt Lakita dẫu Jamal phản ứng đầy căm phẫn và đau đớn.  Ở [III], tính chất các mối quan hệ này khá giống nhau, Jamal hướng về Salim vì đó là người anh trai ruột thịt dù ở hiện tại, cả hai đều không thể nối lại tình cảm chân tay như thời thơ ấu. Tên trùm xã hội đen hướng về Latika vì nàng là vợ, là nô lệ của anh ta. Anh ta không sở hữu được trái tim Latika, cũng như Salim không còn sống trong tình huynh đệ. Những mối quan hệ ấy, cuối cùng, bị xóa bỏ bởi cái chết của Salim lẫn tên đại ca. Chỉ còn [I], Jamal – Latika, hai nhịp tim đồng vọng, vượt lên khổ đau và xa cách, đã gắn kết với nhau trong ánh sáng tình yêu thương bền bỉ, vẹn nguyên.

Từ sơ đồ ta cũng cảm nhận rõ tính chất chặt chẽ trong mạch chuyện. Nhờ đó mà trường đoạn dài hơi nhất ở thì hiện tại đã cung hiến cho người xem một trải nghiệm biến tấu cảm xúc, như cách lướt trên con sóng lớn, vừa kinh hãi vừa  khoái chí. Nhờ vào cái “gia sản” cảm xúc này mà Slumdog đã chứng tỏ mình là sự kế thừa Apocalypse Now, bộ phim yêu thích của Danny và đương nhiên không hề xấu hổ khi lấy tiêu chí mạch chuyện để đặt cạnh những phim đạt giải Oscar gần đây (Cuộc sống của những người khác, Không có đất cho người già)

3. Và cách lạ hóa trò chơi hay thủ pháp phản ánh hiện thực mới

Ở trên, qua việc phân tích cấu trúc tự sự, tôi đã chỉ ra cách xử lí độc đáo, sáng tạo của đạo diễn Danny Boyle khi ông trưng dụng mô hình trò chơi. Những ai đã từng xem “Ai là triệu phú” trên truyền hình sẽ rất bất ngờ khi xem Slumdog. Bởi vì Danny Boyle đã lạ hóa trò chơi ấy, ít nhất ở hai điểm: một, người chơi và hai, hệ thống câu hỏi. Thủ pháp lạ hóa này về thực chất là một yếu tính dễ thấy trong các tác phẩm siêu hư cấu. Nếu Robert Zemeckis đã cho phép anh chàng khờ khạo Forrest Gump gặp cả ba đời tổng thống Mỹ, tham gia “ngoại giao bóng bàn”, sáng lập viên tập đoàn máy tính…, thì dĩ nhiên Danny Boyle cũng có thể để anh chàng thất học Jamal chiến thắng cuộc thi kiến thức. Vấn đề không chỉ là thế. Vấn đề là nghệ thuật có quyền giải hoặc những sự thật khác nhau để có thể khám phá xã hội bằng cái nhìn mới, đa phương hơn và trong thời điểm mà nó lên tiếng, sẽ có ý nghĩa hơn.

M0020010_feature1__5

Trở lại với Slumdog, khi Jamal hé lộ cuộc đời cay đắng của mình thì người ta cũng nhận ra một hiện thực khác của Ấn Độ, đất nước đông dân bậc nhất thế giới. Số phận Jamal, Salim, Latika là số phận lớp người đáy cùng xã hội. Rõ ràng, tạo nên những nhân vật này, kiểu nhân vật có thể coi là tân – Dickens (neo-Dickensian), Danny Boyle muốn phơi mở tính chất tương phản kịch tính nhất trong thành phố Mumbai, hình ảnh tiêu biểu của xã hội Ấn Độ. Những khu nhà ổ chuột, khu phố đèn đỏ, nạn bóc lột sức lao động trẻ em, nghèo đói và xung đột tôn giáo…., tất cả là một phần sự thật ghê sợ trong xã hội Ấn hiện đại. Hành trình sống của Jamal, Salim, Latika luôn bị nhào trộn trong đời sống đô thị và kết quả là, chúng hoặc bị tha hóa/lưu manh hóa, hoặc bị đẩy vào nhà chứa, hoặc thất học… Qua vẻ đẹp trẻ thơ dần bị tan rữa bởi đói khát và bạo hành, Slumdog đã làm nhức nhối tâm trí người xem. Và cùng với những cuộc sinh tồn khắc nghiệt, hiện thực ấy xẩy ra hằng ngày, không thể chế ngự và liên tục tái hồi. Với thái độ lạnh lùng, trung thực như nhà làm phim tài liệu, Danny Boyle đã xây dựng nơi Slumdog một tinh thần chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt. Hiện thực ấy có thể gây vết thương, cái nguyên cớ khiến người dân Mumbai biểu tình tẩy chay bộ phim, nhưng không thể che giấu bởi vì chúng, đa số đều có ý nghĩa phản tỉnh lương tri con người.

Nói thêm về hệ số bất ngờ của trò chơi: những câu hỏi. Chúng được đưa ra lần lượt như là điểm nhấn của việc phản ánh hiện thực. Chẳng hạn, câu hỏi về người anh hùng Rama được gài vào cảnh xung đột tôn giáo (người theo đạo Hindu đã đánh chết mẹ Jamal là người theo Hồi giáo); câu hỏi về Benjamin Franklin, một triệu phú sau trở thành tổng thống Mỹ được gài vào cảnh Jamal gặp lại bạn mình, Arvind mù lòa hát rong kiếm sống; câu hỏi về súng lại khắc nhập với thời điểm Salim thành kẻ giết người… Có thể thấy, mức độ câu hỏi khó dần cũng là sự mở rộng dần, phát triển dần của hiện thực. Từ sự tương tác này, Slumdog còn có điều kiện mở rộng không gian hơn và ở mỗi kiểu không gian lại chứa đựng một sự tương phản khác nhau: giàu có – nghèo khổ; nhân ái – tàn nhẫn; chân thật – dối trá; cơ hội làm giàu – thất bại… Những cung bậc khác nhau, dưới từng động tác giải phẫu, đã phác thảo cách sinh động của một đô thị đông đúc và mới như Mumbai.

Tuy hiện thực là ghê sợ nhưng Slumdog không quá bi. Nói đúng hơn, cái bi được chuyên chở bằng thủ pháp giễu nhại và hài hước cũng như màu sắc trữ tình dung dị. Tạo ra sự tương phản đã là giễu nhại, gây cười. Và khi đạo diễn khai thác sâu hơn nét tương phản đó thì một chút châm biếm được khởi lên thanh thoát. Đó là chi tiết Jamal, lúc 7 tuổi, thân mình trết đầy phân người chạy đi gặp ngôi sao điện ảnh; chi tiết đứa bé đóng vai người anh hùng Rama giương mắt nhìn cảnh những con dân Ấn đang truy giết nhau; chi tiết Arvind mù lòa mô tả vanh vách chân dung Franklin trên tờ 100 đô la; chi tiết Jamal “xuyên tạc lịch sử” khi làm hướng dẫn viên du lịch trong ngôi đền Taj Mahal nổi tiếng… Chính nhờ điểm xuyết một vài chi tiết bằng chiêu thức giễu nhại, châm biếm nhẹ nhàng đó mà hiện thực đời sống, tính cách đô thị cũng còn toát lên những nét đáng yêu của nó. Trong khi nghèo đói và sự tha hóa trở nên ám ảnh thì tình yêu muôn đời vẫn tinh khiết, ngọt ngào và là thứ quà tặng cho bất cứ ai, kể cả Jamal và Lakita, hai cư dân khu ổ chuột. Thậm chí cả hai còn sẽ được nhắc đến như là cổ tích tình yêu. Cùng với tình yêu, sự sống của các khu ổ chuột Mumbai vẫn tiếp diễn. Mọi người, nhất là bọn trẻ và thanh niên vẫn hòa mình vào những điệu nhảy đường phố rộn ràng, sôi động như để tìm thấy sự thanh tẩy tốt nhất, như thể tìm đến hi vọng và nuôi dưỡng những đức tin. Cuộc phiêu lưu của anh em Jamal trên những chuyến tàu là dịp may bay bổng, khoái hoạt và nhờ thế, lòng nhân ái và tương thân đại đồng đã làm cuộc đời ấm lại. Chất lãng mạn có phần già nua mà đạo diễn rải đều trong bộ phim phần nào bẻ ghi cảm xúc người xem hướng đến lòng yêu mến, sự cảm thông và chia sẻ hơn là phê phán gay gắt.

Slumdog quả là một cứ liệu xã hội học thú vị về đời sống đô thị hiện đại.

4. Trò chơi màu sắc và âm thanh

Martin Scorsese đã nói rất đúng rằng: Hay nhất là ở mỗi cảnh phim phải như một mảnh nhỏ trong trò chơi ghép hình, và cuối phim, người xem sẽ nhìn thấy tất cả nếu các mảnh hình được ghép đúng [[2]]. Với Slumdog, sự hợp lí, tinh tế, độc đáo đã cùng lúc đến từ các mảnh ghép của màu sắc và âm thanh. Cả hai, trong nhịp điệu hòa quyện và hô ứng của mình, góp tay tạo nên một trò chơi hấp dẫn.

M0020080_SD0120

Màu sắc chủ đạo của Slumdog là màu vàng: sa mạc cát, nắng chiều, chiếc áo và khăn quàng của Latika, bức tường, căn phòng, ngọn lửa… Sắc vàng thậm như dính vào Mumbai trên khắp chốn không gian. Độc đáo hơn cả là cảnh cậu bé Jamal nhảy xuống hố phân nhà vệ sinh. Màu vàng đặc quánh trát đầy Jamal, một thứ màu sắc… gợi mùi và gây cảm giác gai người. Có lẽ đây là một hiệu ứng đặc biệt của màu sắc mà chỉ có điện ảnh mới làm được. “Tín ngưỡng” màu vàng còn được Danny Boyle phô bày trong một bộ phim trước đó của ông, Sunshine. Lí giải cho điều này, theo tôi, là bởi quan niệm màu sắc của đạo diễn có tính nhất quán và việc đẩy đến cao độ một màu sắc như thế trong bộ phim không nằm ngoài chủ ý: tạo câu chuyện riêng cho màu sắc. Với Slumdog, câu chuyện đó vừa trầm lắng, ảm đạm, vừa náo nhiệt. Trong nhiều cảnh phim, có khi màu sắc đã vỡ tung, để rồi tan chảy trong không gian những hạt bụi và tiếng nổ của nó.Tuân theo bước đi của mạch chuyện và màu sắc, các cảnh phim, dưới sự hỗ trợ của âm thanh, có nhịp tiết tấu nhanh, phấn chấn. Không phải ngẫu nhiên mà Slumdog nhận giải Oscar quay phim, bởi như ta thấy, chính nhờ sự di chuyển liên tục của máy quay và sự thay đổi góc quay mà mô hình trò chơi đã có được những linh kiện cần thiết. Trường đoạn những đứa trẻ bị đuổi trong khu ổ chuột ở đầu phim là ví dụ chính xác cho tài nghệ quay phim: máy quay trượt dài trên đường phố, di chuyển qua không gian rộng nhưng cũng đặc tả những ngõ hẻm giăng mắc dây điện, những mặt sông ô nhiễm; góc quay cao rồi thả lỏng cho ống kín cận cảnh từng bước chạy, khuôn mặt… Nhờ đó các mảng màu, hình khối khu nhà ổ chuột được xuất hiện với tần suất và kích cỡ khác nhau như thể cái cách thức ghép hình ưa thích của trẻ con. Chúng tuần tự kết nối trên nhạc nền sôi động, dự báo cho giây phút bùng nổ điệu nhảy tập thể ở cuối phim.

Trong Slumdog, các cảnh quay cũng như màu sắc và âm thanh đường phố có một ý nghĩa đặc biệt. Bởi vì đó là không gian sống của các cư dân khu ổ chuột. Nếu hình ảnh đoàn tàu lao vút tiêu biểu cho tính cách chớp nhoáng, mở rộng không gian, là nơi qui tụ tha nhân thì khu đèn đỏ là trạng thái ứ đọng, mờ đục và ẩn khuất của thời gian. Nếu điệu múa của Latika toát lên sức sống, sự quyến rũ ở thiếu nữ Ấn thì tiếng hát của Arvind lại như điệu kèn buồn thảm, lạc lỏng trong các đường hầm bê tông dửng dưng. Chúng, dù thoáng qua hay hiện diện nhẵn mặt, đều có khả năng mời mọc sự tham dự của đám đông, góp nhặt nên truyện kể trầm tích nơi chuỗi gen di truyền tạo – hủy đô thị.

Như vậy, có thể coi Slumdog là sự kết hợp giữa những cảnh quay phi sân khấu đường phố với cảnh quay dàn dựng. Tính chất phi sân khấu đường phố nổi bật nét tự nhiên, thô nhám và dữ dội đã được bổ sung bởi nét mềm mại, thi vị của kĩ thuật dàn dựng. Cả hai, trong sự dẫn dắt của âm nhạc, đã phá bỏ giới tuyến khô cứng giữa nghệ thuật bậc cao và thẩm mĩ đại chúng, để mang lại những biểu cảm mới, những giao hòa diệu vợi cho điện ảnh. Âu đó cũng là một dấu ấn tiền phong của Slumdog vậy.


[1] Ở giải Oscar, tính đến năm 2009, mới chỉ có 8 bộ phim nói tiếng nước ngoài (Grand Illusiontiếng Pháp, 1938; Z -tiếng Pháp, 1969; The Emigrantstiếng Thụy Điển, 1972; Cries and Whispers – tiếng Thụy Điển, 1973; Il Postinotiếng Ýtiếng Tây Ban Nha, 1995; Cuộc sống tươi đẹp – tiếng Ý, 1998; Ngọa hổ tàng longtiếng Quan thoại, 2000; Letters from Iwo Jimatiếng Nhật, 2006) và 1 phim bán ngoại ngữ (Slumdog Millionaire – nửa tiếng Anh, nửa tiếng Hindi) được đề cử cho hạng mục Phim hay nhất. Trong đó, chỉ có Slumdog Millionaire đạt được giải Oscar Phim hay nhất, còn các bộ phim Z, Cuộc sống tươi đẹpNgọa hổ tàng long được trao giải Oscar Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất.

[2] Việt Linh, Ý tưởng nghề nghiệp. Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005, tr. 62

 
4 Comments

Posted by on 25/10/2009 in Features, On Screen

 

Chơi Vơi – nhìn giới trẻ ở một khía cạnh khác

Chơi Vơi không phải là một bộ phim thương mại nhưng sức hấp dẫn và độ lan tỏa của bộ phim này không thua kém bất cứ sản phẩm điện ảnh giải trí nào. Các bạn trẻ đã dành sự quan tâm đặc biệt đến bộ phim ngay từ khi đạo diễn Bùi Thạc Chuyên mở blog quảng bá, tuyển diễn viên, tóm tắt kịch bản, nói về quá trình xin tài trợ của bộ phim…

Hành trình 6 năm ròng rã, gian nan ấy đã được đền đáp xứng đáng bằng chiếc vé đầu tiên cho điện ảnh Việt Nam đến với liên hoan Venice tầm cỡ thế giới, dù mới chỉ dừng lại

Tôi được xem về Chơi Vơi, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đã không ngại ngần bày tỏ những quan điểm làm nghề của anh, về những trải nghiệm tưởng đơn giản nhưng ngẫm ra không mấy dễ dàng.

bui thac chuyen

Trước tiên xin chúc mừng anh về tin vui đến từ Venice. Nhưng đa phần khán giả Việt Nam thường hay nhớ giải Oscar hơn là Cannes, Berlin, Venice… có bao giờ anh – với vai trò đạo diễn hướng bộ phim mình định làm đến giải Oscar?

Nếu một người đạo diễn làm một bộ phim: trước khi làm phim, khi đang làm phim đều mong muốn, dự định sẽ đến liên hoan phim nọ, liên hoan phim kia thì không bao giờ làm được phim. Còn nếu khi làm phim xong nghĩ đến giải nọ giải kia thì cũng sẽ chẳng được vì phim đã xong rồi. Vậy thì nghĩ đến để làm gì?

Mỗi một quỹ điện ảnh lại có tiêu chí riêng để lựa chọn phim, đôi khi đạo diễn phải chỉnh sửa kịch bản khá nhiều để đạt được các tiêu chí của các quỹ tài trợ. Vậy Chơi vơi – bộ phim đã nhận được sự tài trợ của khá nhiều quỹ lớn của điện ảnh có khác nhiều với kịch bản ban đầu không? Có phần nào anh phải cắn răng cắt bỏ trong kịch bản không?

Kịch bản này là tác phẩm tốt nghiệp của Phan Đăng Di, một kịch bản rất tốt. Lần đầu tiên tôi đọc kịch bản này đó là một kịch bản rất mỏng, chỉ khoảng ba mấy trang. Sau đó, Phan Đăng Di đã sửa lại, bản thân tôi cũng bằng cách của mình, khám phá đến tận cùng sự sâu sắc của kịch bản đó.

Bản thân tôi nghĩ việc xin tài trợ không phải là điều thôi thúc chính để mình sửa kịch bản. Các quỹ tài trợ không có tiêu chí nào cụ thể kiểu như sẽ tài trợ cho phim tình yêu hay phim về nông thôn… Các quỹ tài trợ cho điện ảnh sẽ quan tâm đến các dự án gây được ấn tượng đặc biệt và hiện đại, là hai đặc tính rất quan trọng cần phải có.

Hiện đại có thể hiểu là sự đổi mới trong cách làm phim?

Hiện đại được hiểu là có trình độ thể hiện ngôn ngữ điện ảnh phải sánh ngang với thế giới chứ nếu mình làm phim mà chỉ mình mình hiểu hay chỉ đất nước mình hiểu thì sẽ không có khả năng được chọn. Tóm lại dù gây ấn tượng đặc biệt nhưng vẫn phải tìm được tiếng nói chung với phần còn lại của điện ảnh thế giới.

Chơi vơi không có những màn PR hoành tráng nhưng hiện nay là một bộ phim được rất nhiều người trông đợi, ngay cả những khán giả trẻ. Là đạo diễn của bộ phim anh có lý giải gì về sức hút đặc biệt này? Anh có bí quyết gì không vậy?

Không có bí quyết gì cả. Nhưng cũng cần nói rằng, đặc điểm của nghệ thuật cũng phần nào giống những sản phẩm của các nhãn hiệu đặc biệt. Ví dụ như Ipod, Iphone…là một sản phẩm công nghệ có sức hấp dẫn đặc biệt. Ngoài việc hãng Apple có những thủ thuật bán hàng, có những chiến dịch quảng bá hay định hướng về mặt thị trường thì còn có thể thấy những sản phẩm của họ là những sản phẩm thực sự mang lại cho người ta một cảm giác sáng tạo đáng kinh ngạc “để làm được nó không phải là dễ”.

Máy ảnh Leica cũng vậy, mỗi chiếc ống kính đều do các nghệ nhân thực hiện bằng tay, trên đó có khắc tên nghệ nhân chế tạo, ghi nhận sự kỳ công khi chế tác sản phẩm đó. Tất cả những gì rất khó khăn để làm nên được đều mang đặc tính của sự hoàn hảo. Làm nghệ thuật cũng vậy, muốn có một viên đá quý rất kỳ công, chỉ có người thợ nào mới gọt giũa nên được viên đá đó còn những người thợ khác thì không. Điện ảnh cũng như những nghệ thuật khác phải làm cho người ta ngạc nhiên. Mà muốn làm người ta ngạc nhiên được thực sự mình phải bỏ công sức ra. Và một bộ phim chứa đựng nhiều tâm huyết của những người thực hiện xứng đáng thu hút sự chú ý của dư luận.

Nhưng ngoài một số người quan tâm đến tính nghệ thuật của một bộ phim cũng có một số khán giả quan tâm đến phim anh một cách khá…buồn cười. Một thành viên diễn đàn yxine.com thổ lộ:

” Toc do 30/4: Phim này chắc sẽ hot. Thấy có cảnh 2 em diễn viên khoả thần 100% luôn. Hot hot hot. Anh nghe nói phim Sống trong nỗi sợ hãi của đạo diễn Buì Thạc Chuyên hồi trước còn có cảnh hot sáng tạo làm tình trên võng, mem nào xem rồi xác nhận phải không?”

Như vậy, một số khán giả trông đợi nhất các cảnh nóng, anh thấy sao?

Mỗi người sẽ quan tâm một cách khác nhau theo trình độ văn hóa của người ấy. Còn thực tế, người làm phim cần biết rất rõ thực tế khán giả của mình là ai. Tất nhiên có bạn nào đó đi xem phim chỉ mong muốn nhìn thấy những cảnh nóng thì sẽ chóng chán. Điện ảnh không chỉ hấp dẫn bởi những cảnh nóng.Tôi không đánh giá cao những khán giả như vậy..

Cảm nhận về điện ảnh đến đâu, như thế nào…ở mỗi người rất là khác nhau. Tóm lại, những khán giả hiểu về điện ảnh không phải là nhiều. Sự quan tâm của họ với bộ phim ở dạng hot, cảnh khỏa thân…cũng là chuyện bình thường. Người đạo diễn cũng phải chấp nhận thôi, không thể nhanh chóng biến tất cả khán giả thành những người giỏi xem phim, điều đó là rất khó.

Trước đây khi dựng phim Sống trong sợ hãi anh đã dựng luôn sau khi quay còn với Chơi vơi, anh đã khoe trên blog là mình “đi chơi” rồi mới về làm. Liệu đó có phải là bí quyết mới để có được bản dựng ưng ý không?

Đi chơi là theo lệnh của người dựng phim. Khi quay xong người dựng phim không đồng ý cho làm việc ngay. Cô ấy yêu cầu phải đi chơi để “quên đi những gì mình đã làm”, để có một sự tỉnh táo, khách quan hơn. Điều đó là chính xác. Người đạo diễn nào cũng thế, khi quay xong cũng muốn hăm hở dựng phim ngay nhưng thực ra như thế sẽ đánh mất đi sự khách quan. Nhưng lần này, tôi may mắn được hợp tác với một ê kíp chuyên nghiệp, một người dựng phim là nữ rất có nghề, nhạy cảm, nữ tính, kiên nhẫn, cẩn thận. Hơn nữa bộ phim này lại rất phù hợp với nữ giới.

Thời gian đầu khi anh casting cho Chơi Vơi, có một bạn trẻ đã háo hức đến dự tuyển nhưng lại không chuẩn bị thật kỹ càng mà có phần nào đó ngây ngô. Vậy anh có một lời khuyên nào dành cho các bạn trẻ muốn đóng góp cho nền điện ảnh Việt Nam với vai trò diễn viên?

Tôi vẫn cho rằng, thực ra diễn viên là nghề khó nhất trong việc làm phim. Tất nhiên, năng khiếu nghệ thuật là trời cho nhưng còn một yếu tố khác rất quan trọng chính là ngoại hình. Đạo diễn có thể xấu chứ diễn viên thì không thể. (cười)

Cũng phải nói thêm nghề diễn viên đòi hỏi tính chuyên nghiệp rất cao, rất cần sự tỉnh táp. Nên có một lời khuyên duy nhất là các bạn cần hiểu đấy là nghề khó nhất, đáng được trân trọng, khích lệ nhất cũng là nghề được yêu cầu cao nhất trong điện ảnh. Vì vậy, việc thử là chuyện tốt nhưng đừng lấy thế là phiền lòng khi không đạt được vì đó thực sự là một nghề rất khó. Tôi cho rằng cái yếu nhất của điện ảnh Việt Nam là vấn đề diễn viên.

Nhưng cũng có lúc diễn viên sẽ vào những vai có ngoại hình xấu?

(cười) Đẹp mà làm thành xấu còn dễ chứ ngược lại, xấu làm cho đẹp rất khó. Còn khó hơn nữa khi ngoài việc đẹp, người diễn viên phải có gương măt có thể tạo ra một cảm xúc nhân văn khi gi hình, còn gọi là ăn ảnh. Thực ra, đó nhưng nét duyên dáng ở trong tâm hồn được biểu hiện ra ngoài. Gương mặt người diễn viên còn phải thể hiện chiều sâu của học thức và cuối cùng để thành công cần có may mắn. Một diễn viên có ngoại hình đẹp, ăn ảnh mà không có tri thức thì cũng không đi xa được, chỉ có thể làm nghề rất ngắn hạn, chỉ phù hợp với một vai nào đấy thôi, còn việc trở thành một diễn viên ngôi sao thì rất khó, vì sẽ bị thiếu hụt. Hầu hết các bạn trẻ đến casting cho Chơi vơi suy nghĩ rất đơn giản chỉ là thử thôi mà chưa có ý thức nào về nghề diễn viên!

Nghề diễn viên đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, rất cần sự tỉnh táo. Nên có một lời khuyên với các bạn đã có niềm đam mê làm diễn viên là các bạn cần phải hiểu đấy là nghề nghiệp khó khăn nhất, cũng là nghề có yêu cầu cao nhất trong điện ảnh. Các bạn có biết nghề diễn viên khác những nghề khác như thế nào không? Các nghề khác trong cuộc sống chỉ cần đòi hỏi người ta chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn là được. Còn nghề diễn viên đòi hỏi người ta phải luôn làm việc trong sự hưng phấn cao, chỉ chăm chỉ thôi không được. Để có được sự hưng phấn, đòi hỏi người diễn viên phải thông minh, hiểu biết, giầu cảm xúc, tự tin..v..v và phải đẹp. Quả là khó phải không. Vì vậy, các bạn có thể thử nhưng đừng phiền lòng nếu không đạt được vì đó thực sự là một nghề rất khó. Tôi cho rằng cái yếu nhất của điện ảnh Việt Nam hiện nay chính là vấn đề diễn viên.

Hiện nay dư luận đang xôn xao về việc bỏ vai của một diễn viên – một người đẹp trong dự án phim lớn. Cũng có thể thấy là từ trước đến nay anhh có thể chọn diễn viên là người không chuyên, chưa từng đóng phim nhưng chưa có người đẹp bao giờ. Liệu có phải vì anh ngại làm việc với người đẹp trong phim mình?

Không hẳn. Diễn viên là một nghề, tôi luôn đánh giá cao tính chất nghề nghiệp của diễn viên. Có thể phim của tôi đã làm không đòi hỏi về vẻ đẹp ngoại hình nên chưa được làm việc với hoa hậu chăng (cười). Thực ra làm việc với người đẹp rất tốt cho phim nhưng cần hiểu cái đẹp bên ngoài không hấp dẫn bằng cái đẹp nội dung. Nét đặc sắc ở mỗi người diễn viên vẫn là tính nhân văn đậm nét ở người diễn viên đó. Có thể có một cô hoa hậu hay người mẫu có một vẻ đẹp ngoại hình thật hoàn hảo nhưng với tôi điều đó chưa đủ. Sẽ thật tiếc khi một người đẹp không đáp ứng được yêu cầu nhân vật, việc thay đổi là chuyện hết sức bình thường.

Trên thế giới có những diễn viên là hoa hậu như Trương Mạn Ngọc, Aishwarya Rai …Họ là những người đẹp nhưng cái bên trong của họ cũng thật đặc sắc.. Họ đã trở thành những người diễn viên lớn. Nhưng để được như vậy họ đều phải học hỏi, trau dồi rất nhiều chứ không thể chỉ mang hình thức hoa hậu ra để tạo nên những thành công như thế.

Nếu có thể chuyển thể một tác phẩm văn học thành phim, anh sẽ chọn một tác phẩm văn học như thế nào để chuyển thể?

Một tác phẩm văn học có khả năng làm lay động tâm hồn con người và tôi nhìn thấy điều đó bắt nguồn từ hình ảnh thì có khả năng làm được phim chứ không phải bắt nguồn từ câu chữ. Có nhiều nhà làm phim đã thất bại khi đưa một tác phẩm văn học lên phim thiếu chính xác. Mộ tác phẩm văn học xuất sắc chưa chắc có thể thành một bộ phim hay. Ngược lại, một câu chuyện có tính văn học chưa hay cũng có thể trở thành một tác phẩm điển ảnh xuất sắc. Người làm phim cần khách quan trong cảm nhận để không nhầm lẫn.

Khán giả nhớ đến anh nhiều với bộ phim 12A và 4H. Bao giờ thì anh quay lại làm phim cho giới trẻ, hay tại vì chưa có một kịch bản nào mà anh gặp phải tình trạng “không làm không được”?

Cũng có thể (cười). Làm phim về giới trẻ vừa dễ vừa khó. 12A và 4H được nhắc đến nhiều chính vì tính nhân văn của nó. Bộ phim được chấp nhận không chỉ là ở thời phim được trình chiếu mà sau này tôi tin là vấn đề của nó luôn luôn mới. Hiện nay, kiếm tìm một kịch bản hay như thế không phải dễ. Chơi Vơi cũng là phim về giới trẻ đấy chứ, một khía cạnh khác của giới trẻ.

Anh đã có nhiều dự án trợ giúp các bạn trẻ làm phim, nhưng có lúc mọi việc không diễn ra như mong muốn. Anh có thể bày thẳng thắn nỗi thất vọng của anh về một số người trẻ làm phim không?

Sự thực tôi hơi thất vọng về xu hướng nghiệp dư của những người trẻ đang theo học trong trường điện ảnh. Họ chính là những người làm điện ảnh tương lai của đất nước. Nhưng sự thực họ đang bi quan về con đường họ đang đi. Sự thất vọng này có thể lý giải được. Những người trẻ hiện nay đang sống trong một thời đại khó khăn, khó khăn về hướng phấn đấu. Điện ảnh Việt Nam không được coi trọng, không đến mức bị coi rẻ nhưng đang bị thờ ơ. Đó là một nghệ thuật hấp dẫn, đầy sức mạnh nhưng theo nó không hề dễ dàng. Truyền hình dễ hơn, nhanh hơn. Người trẻ đi thi hoa hậu, thi Sao Mai, thi Idol dễ hơn, hôm trước lên truyền hình, hôm sau đã nổi tiếng.

Bộ phim Chơi vơi của tôi được chọn vào LHP Venice, được làm trong 5 năm, lần đầu tiên có một phim Việt Nam được lựa chọn chính thức vào liên hoan phim lớn nhưng rất ít báo nhắc đến một cách đầy đủ. Trong khi các báo ngập tràn tin tức về một cô gái đi thi người đẹp. Đó là bối cảnh chung của văn hóa Việt Nam. Đa số người dân không hiểu và lãng quên điện ảnh. Có thể đó là một thứ gì quá xa xỉ. Tiếc rằng nhiều người làm phim trẻ cũng có suy nghĩ như thế. Truyền hình phù hợp hơn. Nơi họ dễ dàng có việc làm, dễ dàng kiếm tiền hơn. Nhưng không phải lỗi của họ.

Vậy là anh không trách cứ gì người trẻ?

Tôi là ai mà dám trách họ. Tôi cũng là một đạo diễn trẻ mà. (cười)

Xin chúc “đạo diễn trẻ” có nhiều thành công hơn nữa.

 
Leave a comment

Posted by on 20/10/2009 in On Screen, Reviews

 

Tags: ,

Haeundae (2009)

Tựa gốc tiếng Hàn: 해운대Haeundae
Tựa Việt: Sóng thần tại Haeundae – Khởi chiếu từ 25/9/2009
Thể loại: Tâm lý / Thiên tai / Phiêu lưu / Viễn tưởng
Đạo diễn: Yoon Je-gyun
Diễn viên chính: Sol Kyung-gu, Ha Ji-won, Park Joong-hoon, Uhm Jung-hwa, Lee Min-ki
Thời lượng: 129 phút

Haeundae poster

Haeundae, bãi biển du lịch nổi tiếng của thành phố Busan, Hàn Quốc trung bình mỗi năm vẫn thu hút hơn 1 triệu du khách từ khắp mọi nơi trên thế giới. Tại đây chúng ta gặp Man-sik (Sol Kyung-gu), một ngư dân chưa từng quay lại biển khơi kể từ sau chuyến đi định mệnh trong cơn bão 4 năm về trước. Thời gian này, Man-sik cùng mẹ mở một tiệm hải sản nhỏ ở ven bờ biển. Anh cũng đang chuẩn bị cầu hôn cô bạn Yeon-hee (Ha Ji-won) mà anh vốn đã quen từ thuở thiếu thời. Man-sik còn có cậu em trai Hyung-sik (Lee Min-ki) là nhân viên cứu hộ trên biển. Trong một lần làm nhiệm vụ, Hyung-sik cứu được cô sinh viên Hee-mi (Kang Ye-won) đến từ Seoul và kể từ sau sự kiện đó, Hee-mi liên tục “tấn công” anh chàng cứu hộ đẹp trai này.

Cùng thời điểm, nhà địa chất Kim Hwi (Park Joong-hoon), một chuyên gia nghiên cứu về sóng thần, phát hiện ra những tín hiệu bất thường phát đi từ biển Đông. Những tín hiệu này khá giống với những gì người ta thu nhận được trước cơn sóng thần tại Ấn Độ Dương hồi 2004. Bỏ ngoài tai mọi lời cảnh báo của Kim Hwi, Cục phòng chống Thiên Tai cho rằng Hàn Quốc sẽ không gặp phải bất cứ một cơn sóng thần nào hết. Khi các tín hiệu phát ra ngày càng mạnh, Kim Hwi lập tức tới Haeundae để kêu gọi chính quyền cho người dân sơ tán. Anh bất ngờ gặp lại người vợ cũ Lee Yoo-jin (Uhm Jung-hwa) đang chuẩn bị tổ chức một sự kiện văn hóa cũng tại Haeundae. Cùng đi với cô còn có cô con gái Ji-min (Kim Yoo-jeong) của hai người; nhưng Ji-min không hề biết rằng Kim Hwi chính là cha mình. Chỉ còn đúng 10 phút trước khi thảm kịch xảy ra, cơn siêu sóng thần đang hướng thẳng tới Haeundae với vận tốc lên tới 500 dặm/giờ. Liệu những Man-sik, Yeon-hee, Hyung-sik, Kim Hwi hay Yoo-jin cùng người dân nơi đây sẽ đương đầu với thảm kịch này như thế nào?

Mất tới gần 5 năm trời thực hiện, Haeundae (tựa Việt: Sóng thần tại Haeundae) có kinh phí thực hiện lên tới gần 11 triệu USD và là bộ phim thu hút được nhiều sự chú ý nhất tại Hàn Quốc trong mùa hè 2009. Những con số thống kê về số lượng vé bán ra thật ấn tượng: hơn 1.5 triệu vé được bán ra ngay trong kỳ nghỉ cuối tuần đầu tiên bộ phim ra mắt (tương đương hơn 9 triệu USD); đạt mốc 5 triệu vé sau tuần thứ ba (đánh bại G.I. Joe: The Rise of Cobra ngay cả khi bộ phim có sự xuất hiện của tài tử Lee Byung-hun); đạt mốc 7 triệu vé sau tròn một tháng ra mắt (tính riêng trong tháng 8, cùng với bộ phim Take Off về đề tài nhảy ski, hai bộ phim này đã bán ra được tổng cộng 12.93 triệu vé, chiếm hơn 60% thị trường phim ảnh Hàn Quốc. Đây là mới là lần đầu tiên phim Hàn Quốc thắng thế trở lại trên sân nhà kể từ sau thành công của The Chaser hồi… tháng 2/2008); và cuối cùng là mốc 11 triệu vé vào đầu tháng 9, giúp Haeundae trở thành bộ phim ăn khách thứ 4 trong lịch sử điện ảnh Hàn Quốc (chỉ kém những The Host, King and the ClownTaegukgi)! Một trong những yếu tố tối quan trọng tạo nên thành công này của Haeundae là yếu tố “truyền miệng” của khán giả xem phim. Việc được quảng cáo là “bộ phim tâm lý của cả một dân tộc, cả một đất nước” đã giúp Haeundae lôi kéo được rất nhiều khán giả tới rạp bất chấp việc bị giới phê bình phim trong nước chỉ trích, thậm chí là đến mức thậm tệ một cách cực đoan. Họ cho rằng việc để một bộ phim cỡ như Haeundae thống trị phòng vé suốt hai tháng liền là một điều bất công, tiêu diệt các bộ phim có kinh phí tầm tầm khác ra mắt cùng thời điểm, và tạo ra sự mất cân bằng nghiêm trọng!

M0020053_07[W636-]

Sự khôn khéo của đạo diễn Yoon Je-gyun cũng là một điều đáng nói. Trong rất nhiều cuộc phỏng vấn trước khi Haeundae ra mắt, khi được hỏi liệu kỹ xảo trong phim đã đạt được tới mức như Hollywood chưa, ông chỉ trả lời rằng, “Có thể Haeundae chưa đạt tới mức như Transformers, nhưng chúng tôi sẽ đem tới cho khán giả những gì mà phim Hollywood không có. Đó là những cảm xúc rất Hàn Quốc, rất nhân văn. Yếu tố con người mới là điều quan trọng nhất của bộ phim.” Rõ ràng, với những lời giới thiệu như thế, khán giả, đặc biệt là người Hàn Quốc, lại càng trở nên tò mò và hứng thú hơn với bộ phim. Vậy sự thực, Haeundae có được như những gì đạo diễn Yoon Je-gyun đã quảng cáo?

Câu trả lời, theo ý kiến chủ quan của người viết, phần nhiều là không. Về mặt ý tưởng, Haeundae không tồi chút nào. Những con người bình thường, những rắc rối đời thường vẫn diễn ra như bao ngày, rồi bỗng chốc một cơn sóng thần ập tới. Thực ra, ý tưởng này cũng phần nào hao hao với bộ phim The Host của đạo diễn Bong Joon-ho, khi một gia đình bình thường bên bờ sông Han bất ngờ phải chống chọi với một con quái vật không-biết-từ-đâu-chui-ra. Tuy vậy, Yoon Je-gyun đã mất tới hơn một giờ đồng hồ để giới thiệu và xây dựng cho từng tuyến nhân vật một. Khoảng thời gian này có lẽ là hơi dài, thậm chí đôi lúc khiến khán giả cảm giác đây như một bộ phim hài tình cảm dạng All about Love hơn. Không thể phủ nhận có những chi tiết hài hước, dễ thương đúng thương hiệu của Yoon Je-gyun trong khoảng thời gian này. Tuy nhiên, thương hiệu của ông cũng đi kèm với sự quá đà, lạm dụng các cảnh quay slow-motion, tua từ nhân vật này qua nhân vật khác, khiến nhịp phim trở nên rất chậm chạp, dễ khiến khán giả cảm thấy sốt ruột.

M0020055_09[W636-]

Và khi cơn sóng thần ập tới? Nó không chỉ cuốn phăng đi nhà cửa trên màn ảnh, mà dường như cũng cuốn phăng đi mọi chi tiết, rắc rối hay cảm xúc mà Yoon đã dầy công bồi đắp trong suốt một giờ trước cho khán giả. Ngay cả khi nhịp phim cần phải trở nên khẩn trương, hồi hộp thì Yoon vẫn tiếp tục sử dụng các cảnh slow motion. Cá nhân người viết cảm thấy khá khó chịu với điều này vì đây dường như là một “chiêu” để mua-nước-mắt khán giả khá lộ liễu. Bên cạnh đó, sự chuyển tông liên tục một cách không hợp lý của Haeundae cũng khiến bộ phim mất điểm. Những giây phút căng thẳng nhất của bộ phim bị điểm thêm những chi tiết hài hước nhát gừng và đậm chất phi thực tế. Thử làm một phép so sánh, nếu như trong The Host, sự chuyển tông ảnh hưởng đến mạch cảm xúc của khán giả được thực hiện hết sức tự nhiên (như trường đoạn con quái vật xuất hiện lần đầu tiên trên bờ sông Han) thì điều này trong Haeundae được thực hiện khá gượng gạo và kịch, đặc biệt là khi có quá nhiều chi tiết gặp gỡ tình cờ giữa các nhân vật vốn có ít nhiều mâu thuẫn trước đó khi cơn sóng thần xảy đến.

Nếu tiếp tục so sánh với The Host, khán giả có thể thấy với bộ phim của đạo diễn Bong Joon-ho, khi người xem tưởng như con quái vật là một chi tiết mấu chốt thì hóa ra đó chỉ để làm nền cho con người cũng như các vấn đề xã hội khác nảy sinh trong phim. Với Haeundae, theo lời của đạo diễn Yoon Je-gyun thì ông muốn thực hiện một điều tương tự, tức là cơn siêu sóng thần chỉ là nền cho những con người, số phận bình thường trong phim. Tuy nhiên, một cấu trúc phim không hợp lý đã phá hỏng tất cả và tạo nên một hiệu ứng ngược, biến con người thành nền cho cơn siêu sóng thần hoành hành. Càng đáng tiếc hơn bởi các diễn viên tham gia trong Haeundae đều là những diễn viên thuộc dạng khá tới xuất sắc của điện ảnh Hàn Quốc. Với một bộ phim gần như không có nhân vật chính như thế này, ấn tượng mà những Sol Kyung-gu, Ha Ji-won, Uhm Jung-hwa hay Park Joong-hoon để lại là khá nhạt nhòa và tất cả chỉ dừng lại ở mức tròn vai.

M0020004_s1[W636-]

Phần kỹ xảo của Haeundae có sự cộng tác của các công ty đến từ Hollywood như Powercast và Polygon Visual Works nên được thực hiện khá ổn. Tuy vậy, một vài cảnh lửa, cháy nổ hay biển khi Hyung-sik cứu người ở đoạn cuối nhìn vẫn hơi giả. Ấn tượng hơn cả có lẽ là đoạn hàng loạt container “phi” từ ngoài biển vào các tòa nhà cao tầng trong thành phố. Xét đi xét lại, dường như Yoon Je-gyun đã gần như muốn “gào” lên rằng phim của tôi không chỉ là một phim thảm họa thông thường, không phải là một phim kỹ xảo cháy nổ mà có lồng trong đó những thông điệp hết sức nhân văn đấy nhé! Và chính vì việc “cố quá” như thế đã khiến cho Haeundae, rất may là chưa đến mức “quá cố”, nhưng vẫn chỉ thuộc dạng “nửa nạc nửa mỡ.”

Kết lại, người viết dự đoán rằng, phần đông khán giả Việt Nam, vốn thường hay có cảm tình với những bộ phim thuộc dạng sến hay mua-nước-mắt, sẽ thấy thích thú với Haeundae. Nhưng với cá nhân người viết, bộ phim chỉ ở mức trung bình, tạm chấp nhận được và để lại cảm giác nhiều tiếc nuối. Dĩ nhiên, bộ phim vẫn có được những giây phút khiến khán giả bật cười sảng khoái hay đứng tim vì sợ hãi. Nhưng thực sự, Yoon Je-gyun chưa thể làm được những gì Bong Joon-ho đã từng làm. Ông cũng muốn “chơi đùa” với cảm xúc của khán giả, cũng muốn đẩy họ đi từ cảm xúc này tới cảm xúc khác, nhưng rốt cuộc, ông đã thất bại. Và rồi Haeundae cũng sẽ chỉ như một cơn mưa rào mùa hạ, “chợt đến rồi chợt đi” mà thôi.

Đánh giá của Hisashi: 2.5/5

Phần có tiết lộ nhiều nội dung phim! – Bôi đen để đọc sau khi bạn đã xem phim

Không hiểu sao bản phim tại Việt Nam lại bị cắt khá nhiều cảnh lặt vặt ở đầu và cuối phim. Dễ nhận thấy hơn cả là đoạn cuối khi cô bé Ji-min có nói với con trai của Man-sik rằng nhìn em trông quen quen. Thực ra ở đoạn đầu phim, có một cảnh con trai của Man-sik cùng nhân vật Dong-choon ngố giả vờ đi làm ăn mày và bắt gặp hai mẹ con Yoo-jin, Ji-min. Hoặc như đoạn Man-sik từ sân bóng chày đi về bị mẹ quở trách, mắng nhiếc. Thực ra ngay trước đó là Man-sik mới say rượu, quậy tưng bừng ở sân bóng chày và bị truyền hình quay được. Được cái Cục cắt khá ngọt nên chắc nhiều người cũng sẽ không nhận ra.

 
8 Comments

Posted by on 20/09/2009 in On Screen

 

The Proposal của Sandra Bullock

Bài đăng ở đây là một bài tập nhận xét về kịch bản của phim nên rất có thể có một số chi tiết sẽ khác so với phim.

The Proposal

Biên kịch: Pete Chiarelli
Đạo diễn: Anne Fletcher
Sản xuất: David Hoberman và Todd Lieberman
Độ dài: 108 phút
Thể loại: Hài hước / Tình cảm

the-proposal

The Proposal The Devil Wears Prada kết hợp với The Silence of Lorna hoặc Green Card

The Proposal là một phim hài tình cảm, bối cảnh hiện đạiở New York và Sitka, Alaska, Mỹ. Phim do nữ đạo diễn và biên đạo xinh đẹp của 27 DressesStep Up – Anne Fletcher. The Proposal là chuyện về một tổng biên tập độc thân xinh đẹp MARGARET TATE (40), người Canada. Khi visa Mỹ của mình hết hạn, cô đã ép trợ lý của mình là ANDREW PAXTON (28) phải kết hôn với cô để tránh bị trục xuất khỏi nước Mỹ. Andrew là con trai duy nhất của một gia đình quyền thế và giàu có nhưng lại muốn tực lực cánh sinh nên anh chấp nhận thỏa thuận với Margaret để được thăng chức lên làm biên tập. Sở nhập cư nghi ngờ trường hợp của họ và cử người đi điều tra. Andrew đưa Margaret về Alaska dự lễ mừng thọ 90 tuổi của bà anh và họ đã bị cả gia đình thuyết phục làm một đám cưới chóng vánh. Ở gần gia đình Andrew và biết được rằng Andrew vẫn có tình cảm với bạn gái cũ thời trung học, Margaret đã thú nhận tất cả mọi việc trong lễ cưới và bỏ đi. Nhưng Andrew nhận ra rằng mình thực sự yêu Margaret và vẫn kịp giữ cô ở lại. Không những thế, nhân viên điều tra của sở nhập cư còn bị buộc phải chấp thuận trường hợp của Margaret vì sức ép của gia đình Andrew.

Câu chuyện trong The Proposal khá hài hước và kịch bản thì được viết rất tốt. Phần mở đầu ngay lập tức thiết lập một không khí rất năng động cho cả bộ phim. Tất cả các nhân vật trong câu chuyện đều có tính cách thú vị và mong muốn rất rõ ràng. Xây dựng được một hệ thống nhân vật như vậy là đã có một nền tảng vững chắc để phát triển câu chuyện. Tuy nhiên, kịch bản vẫn còn một số điểm cần cân nhắc như sau:

-Kịch bản này mang tính hài nhiều hơn tình cảm, điều này có thể dẫn đến hậu quả “phản cảm” vì đây là câu chuyện của một người phụ nữ, một câu chuyện tình yêu. Trong một số cảnh, cái hài hành động (slapstick comedy) hơi nhiều quá khiến cho nó giống như kiểu hài của Louis De Funes. Một số yếu tố hài hước nên được xem xét để giảm bớt hoặc thay thế như con chó, con đại bàng và cú trượt ngã trong nhà tắm có thể được thay thế bằng hình ảnh một cô Margaret vụng về học nấu ăn với bà của Andrew hay phải trông trẻ bất đắc dĩ chẳng hạn.

-Vấn đề lớn thứ hai là câu chuyện tình yêu giữa Margaret và Andrew chưa đủ thuyết phục. Người đọc có thể sẽ cảm nhận được tình cảm họ dành cho nhau nhiều hơn nếu họ được đặt vào những tình huống lãng mạn và thân thiết hơn là những tình huống hài hước đơn thuần. Có thể sử dụng bà của Andrew làm nhân vật trung gian kết nối hai người với nhau. Bà có thể đề nghị hai người giúp bà thực hiện tất cả những việc bà muốn làm trước sinh nhật lần thứ 90 hay bắt họ tập các nghi lễ đám cưới sao cho giống y hệt như đám cưới của bà và ông ngày xưa.

Cá nhân mình không thích kịch bản này lắm và cũng không có ý định đi xem nhưng có vẻ như The Proposal khá được yêu mến ngoài rạp và cũng thu lại kha khá lợi nhuận, so với một phim hài tình cảm.

 
13 Comments

Posted by on 27/08/2009 in On Screen, Xtras

 

An early review: Chơi vơi

Chơi vơi – bộ phim truyện thứ hai của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đang chuẩn bị lên đường tới Venice, bộ phim đã được chọn cho hạng mục giải Orizzonti. Chơi vơi sẽ được ra mắt chính thức ở LHP Venice, sau đó sẽ được công chiếu tại Việt Nam.

Chơi vơi kể lại câu chuyện về Duyên – một phụ nữ trẻ, xinh xắn, trong sáng. Cô quyết định lấy Hải, một người trẻ hơn cô hai tuổi chỉ sau ba tháng quen biết. Cầm là người bạn gái thân của Duyên, một nhà văn, trưởng thành hơn Duyên. Cầm tặng Duyên chiếc áo ngủ mẹ Cầm đã thêu suốt một năm, vốn định dành cho đêm tân hôn của con gái. Cuộc sống của Duyên thoạt tưởng là hạnh phúc, nhưng thực ra Hải chỉ như một đứa trẻ con vẫn chưa thoát khỏi vòng tay mẹ. Vì thế, khi Cầm nhờ cô đưa một lá thư tới cho Thổ, sự hoang dã và ranh ma của người đàn ông này đã lôi cuốn cô… Và rồi, mọi điều bắt đầu, giữa thế giới của hàng trăm dây đàn xúc cảm, thế giới chơi vơi.

Chơi vơi là một bộ phim chừng mực và tinh tế. Đó là điều không phải bộ phim nào cũng làm được , dù là phim mang quốc tịch nào. Các chi tiết trong phim đều ngừng lại được ở ngưỡng vừa đủ, luôn đứng lại ở lưng chừng. Chúng đặt bạn ở vị thế chông chênh đó, bạn có thể ngả về bên này, hoặc có thể ngả về bên kia, hoặc sẽ mãi mãi như vậy. Điều này vừa mang lại cảm giác “thực tế” vừa bỏ ngỏ lại cả sự hụt hẫng, như chờ được lý giải tiếp. Nhưng không, phim ngừng lại ở đó, sau biến cố lớn nhất, không ai biết mọi chuyện sẽ tiếp diễn ra sao… Khán giả có thể hẫng hụt, nhưng họ biết rằng, cuộc sống sẽ luôn là cộng hưởng của những giai điệu tế vi như vậy, và liệu có ai biết chắc câu trả lời?

Bộ phim là một bước tiến dài trong diễn xuất của Đỗ Hải Yến – thể hiện cho vai Duyên, cô đã nhuần nhị hơn, sâu sắc hơn những nhân vật trước đó. Người ta thấy cô không còn “diễn” như trong Chuyện của Pao mà bắt nhịp được với thế giới của nhân vật. Linh Đan vẫn là một diễn viên vượt trội. Có vẻ như đây là diễn viên có ngoại hình hợp với vai diễn nhất bởi Cầm có cùng độ tuổi, có vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại như cô. Linh Đan thực hiện cảnh quay chủ yếu tại ngôi nhà cổ, cô ít di chuyển, cũng ít cử động nhất nhưng vẫn diễn tả tròn vẹn được tâm lý của Cầm – một người phụ nữ với rất nhiều xúc cảm trái chiều bùng nổ trong lòng. Các diễn viên khác cũng vậy, tất cả đều vừa đủ, ngay những diễn viên đóng lần đầu tiên.

Chỉ có một điều vẫn chưa thực sự hoàn hảo trong diễn xuất, đó là giọng các diễn viên nói. Tuy không phải là vô cảm, nhưng những câu nói ấy vẫn chưa mang lại cảm giác trọn vẹn. Đều được thu thanh trực tiếp, nhưng diễn viên trong bộ phim truyện đầu tay của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên – Sống trong sợ hãi – thể hiện tình cảm và thái độ qua giọng nói tốt hơn các diễn viên trong Chơi vơi. Diễn viên thể hiện giọng tốt nhất có lẽ là cô bé đóng vai Miên – cô thiếu nữ nghèo chỉ mơ ước có được một nhà tắm đẹp, có vòi hoa sen.

Lời thoại trong Chơi vơi đôi khi quá trau chuốt, nhưng, với một không gian như ngôi nhà của Cầm, có lẽ đó cũng không phải là một điều gượng ép.

Rất tiếc – tôi xem bộ phim này ở phòng chiếu của Hội điện ảnh, và chất lượng kỹ thuật ở đây không được tốt: Hình bị phủ sương, màu bị rung, âm thanh kém. Chuyện này làm ảnh hưởng nhiều tới cảm giác về hình ảnh của bộ phim. Tuy nhiên, ngay cả vậy, người xem vẫn có thể nhận ra rằng, Chơi vơi có rất nhiều cảnh quay đẹp, được cân nhắc và sắp xếp chu đáo. Đặc biệt là những cảnh quay Duyên và Cầm, đầy gợi cảm và tinh tế. Đây chắc chắc sẽ là những cảnh quay để lại ấn tượng khó quên trong lòng người xem.

http://www.phanxineblog.com/wp-content/uploads/2009/04/choivoi-2.jpg

Phần cuối của bộ phim dày đặc mưa. Trận lụt “lịch sử” của Hà Nội vào tháng Mười năm 2008 cũng được xuất hiện trong phim, là một sự tình cờ may mắn mang lại cho bộ phim một cảm giác mênh mang buồn, có chút bế tắc và đậm đặc chơi vơi. Chơi vơi là bộ phim nhiều mưa, khiến cho người ta có cảm giác như thế giới xúc cảm của con người chìm đắm trong tiếng mưa rơi kéo dài và không ai thực sự nhìn rõ hay thấu hiểu.

Chơi vơi là một thử thách với bất cứ đạo diễn nào thực hiện, và cũng là một thử thách cho những phòng chiếu. Mong rằng bộ phim sẽ thành công tại Venice để có nhiều người chú ý tới nó hơn.

 
4 Comments

Posted by on 31/07/2009 in On Screen

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 55 other followers